XUÂN HÀ THÀNH

image NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

Bây giờ thật không dễ chút nào khi muốn tìm kiếm sự trầm mặc, linh thiêng của vùng kinh đô trải qua bao thăng trầm và biến cố của lịch sử. Nét đẹp xưa cũ ngỡ như chỉ vọng về trong sử sách. Tôi miên man so sánh giữa Sài Gòn và Hà Nội. Cả hai đô thị đều sôi động và ồn ào đến ngợp thở. Nhưng chắc chắn cái sức náo nhiệt của Hà thành còn kém Sài thành nhiều lắm. Dù hối hả là vậy nhưng vẫn nhận ra nhịp điệu chậm rãi, buồn buồn của chốn kinh kỳ. Nhưng vấn thấy thiếu cái gì không rõ ràng, không tìm nhưng ngóng đợi, có lẽ là nét trầm mặc, cô tịch làm gợi nhớ nhung nỗi niềm xa mờ, sương khói.

Một ngày đầu xuân, tiết trời se lạnh, lang thang trên những con phố hiếm hoi sự hiu vắng. Thỉnh thoảng vài chiếc xe rú ga vọt qua vội vã. Không còn bắt gặp những dòng ngược xuôi hối hả. Cái lạnh bên hồ làm tê hai má. Trong khoảnh khắc bỗng nhớ đến 2 câu thơ của Bà huyện Thanh Quan: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Cái đẹp của kinh kỳ khi thành cố đô lại trở thành nét đẹp điển hình của chốn phồn hoa đô hội từ khi nào? Lòng chợt muốn tìm nét xưa nay chỉ còn vắng bóng. Tháp Rùa rêu phong, mờ tỏ giữa bảng lảng sương chiều mong manh. Những ngã đường vắng lặng, tháp thoáng bóng người, gió lùa buốt lạnh, lúc ấy mới cảm nhận được một nét trầm mặc, thiêng liêng không dễ gì tìm thấy. Ngỡ như nghe phảng phất đâu đây tiếng lục lạc, vó ngựa chầm chậm, thấp thoáng kiệu quan đi tuần. Đâu đây còn vọng tiếng trống reo hò của ông cha vung gươm đánh giặc. Hồn núi sông tích tụ dệt nên linh thiêng từ những tháng năm của vận nước.

Phải nặng tình lắm mới nhận ra chỉ trong thời khắc ngắn ngủi xuân về lạnh giá. Hà thành mới phát lộ đủ đầy sự cổ kính và cô tịch. Phố phường trầm tư, cửa đóng then cài, những ô cửa im lặng. Hàng sấu già trên đường Trần Phú trong những chiếc lá vàng cuối mùa, thênh thang. Ô Quan Chưởng trầm tịch, bước chân bỗng ngập ngùng như chờ đợi điều gì mông lung. Lúc ấy nhận ra Hà thành vào xuân như cô gái lẳng lặng duyên thầm.

Đã từ bao giờ hoa sữa, loài hoa mọc ở nhiều vùng đất nước nhưng hương thơm của nó lại trở thành thú hương đặc trưng của Hà thành. Thứ hương ngọt ngào ấy đã đi vào tiềm thức của nhiều người. Nó nhuốm màu cảm xúc làm nên một vẻ đẹp lịch lãm.

Continue reading

TRÂU Ở VIỆT NAM: CẦN CÓ MỘT TƯỢNG ĐÀI

image ĐỖ ĐỨC

Con trâu là đầu cơ nghiệp. Trâu gắn bó với nông thôn Việt Nam từ bao đời nay, nên không phải thuận miệng mà người ta nói ra câu này. Có con trâu là có sức kéo, giải phóng sức lao động trên đồng. Buổi sáng, một lực điền với một con trâu mộng, làm cật lực có thể cày lật tới bốn sào đất. Còn làng nhàng thì sào rưỡi hai sào. Không có trâu, lại không có người kéo cày, chỉ dùng tay cuốc thì sào đất mất bốn công chưa xong. Cho  nên ruộng sâu trâu nái một thời để đánh giá chỗ dựa tin cậy vững chắc ở thôn quê Việt.

Ba việc lớn can hệ đến sự thay đổi cơ bản con người cuộc sống ở nông thôn: làm nhà – cưới vợ – tậu trâu đã thành một tiêu chí mang tính tổng kết về hoạch định để có tính bền vững của một gia đình thôn quê. Ba việc đó phải gắn kết cùng nhau, thiếu đi một trong ba việc là chưa thể là hoàn hảo. Ước mơ đó thật nhỏ nhưng đã tồn tại kéo dài cả trăm năm nghìn năm với nông thôn Việt Nam .
Còn nhớ cách đây vài chục năm thôi, sau vụ gặt tháng mười, thu gom rơm rạ xong là mọi nhà rậm rịch bắc vai  trâu đi cày đổ ải. Cánh đồng ngày đầu đông vui như trảy hội. Đất ruộng còn chưa khô hẳn được xá cày lật lên dẻo quánh một màu nâu. Đợi nắng cho hoai oải, ăn tết xong là bắt nước vào vụ chiêm. Con trâu chịu thương chịu khó đi vào ca dao thật ấm tình người: Trâu ơi ta bảo trâu này/  Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta/ Cấy cày vốn nghiệp nông gia/ Ta đây trâu đấy ai mà quản công/ Bao giờ cây lúa còn bông/ Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Tôi đã đọc những câu ca dao ấy trong sách tập đọc từ thuở đến trường và còn cặn kẽ nhớ đến ngày hôm nay. Đọc sách, học bài trên lưng trâu là việc kép trong buổi dong trâu đi gặm cỏ.
Tuổi thơ của rất nhiều đứa trẻ thành đạt ngày hôm nay đã từng mài đít trên lưng trâu, trong đó có cả những người có vị thế cao của đất nước. Tôi cũng là một trong những đứa trẻ ấy, cất cánh từ lưng trâu, dù tầm bay có thấp hơn nhiều. Những câu văn xuôi thuộc lòng trong bài cách trí: Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ, đầu tôi đội nón mê tay cầm cành tre vắt vẻo trên lưng trâu… chúng tôi thuộc vanh vách. Nhưng đa phần tuổi thơ nông thôn xưa không mấy có ước mơ hoài bão gì, phần lớn yên phận với con trâu kéo cày vì lũy tre đã che chắn mất tầm nhìn từ bao đời nay, nên cũng chẳng ai nhận ra bi kịch nghèo đói nữa. Một cuộc sống hạn chế đến tối đa các nhu cầu ăn ở sinh hoạt cho mỗi con người, luôn lấy con trâu làm chỗ dựa để mà yên tâm ngày đủ hai bữa rau muống tương cà. Đó cũng là hạnh phúc cao nhất của nông thôn ta xưa khi mà mọi kĩ thuật canh tác chưa có khoa học chen vào.

Continue reading