NGƯỜI TIÊU DÙNG: CÒN BIẾT TIN AI?

believe TẤN ĐỨC

TBKTSG – Lòng tin của người tiêu dùng đối với các doanh nghiệp đang bị tổn thương nghiêm trọng trước tình trạng làm ăn gian dối, thiếu trách nhiệm với cộng đồng đã trở nên phổ biến.

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ nước Mỹ đã nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu và đang trở thành nỗi ám ảnh lớn của cộng đồng doanh nghiệp trong nước. Nhưng với người dân bình thường, vẫn còn một nỗi ám ảnh khác cũng nặng nề không kém, đó là mối đe dọa về hàng hóa kém chất lượng, nhất là những sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe, và tình trạng môi trường sống bị hủy hoại nghiêm trọng.

Thủ phạm gây ra tình trạng này không phải ai khác, mà chính là các doanh nghiệp làm ăn gian dối.

Những vụ nước tương nhiễm chất độc 3-MCPD, nước mắm chứa urê, hay chất kích thích tăng trưởng ngấm vào thịt gia súc qua thức ăn chăn nuôi còn chưa kịp lắng hẳn, thì lại bùng phát chuyện sữa nhiễm hóa chất melamine, rượu được sản xuất bằng cồn công nghiệp gây chết người cùng với nạn phân bón giả, kém chất lượng và các cây xăng buôn bán gian dối…

Tình trạng trên, cộng với hành động hủy hoại môi trường, phần nào cho thấy đạo đức kinh doanh cũng như trách nhiệm xã hội trong một bộ phận doanh nghiệp đang xuống cấp. Họ chạy theo lợi nhuận, bất chấp hậu quả gây ra cho khách hàng, là những người mà doanh nghiệp nào cũng khẳng định là được đối xử như “thượng đế”.

Trong kinh doanh, niềm tin là yếu tố quan trọng. Với thị trường có nhiều cạnh tranh như hiện nay, chọn sản phẩm nào là quyền của người tiêu dùng và lẽ đương nhiên ai cũng muốn mua được sản phẩm có chất lượng phù hợp với số tiền bỏ ra.

Nhưng người tiêu dùng hầu như không có cách nào để biết sản phẩm mua có đạt chất lượng hay không, mà chủ yếu dựa vào lòng tin đối với nhà sản xuất, tin vào những gì họ quảng cáo hay thông tin ghi trên bao bì. Chỉ đến khi các cơ quan chức năng vào cuộc, lấy mẫu sản phẩm đi kiểm tra thì sự thật mới được phơi bày.

Continue reading

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC DOANH NGHIỆP

Th.S. NGUYỄN THIỀNG ĐỨC

Nhà nước, chủ thể quản lý, chỉ quản lý doanh nghiệp với tư cách là cơ quan quyền lực nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp quyền tự do kinh doanh theo pháp luật. Còn doanh nghiệp, đối tượng quản lý, tuy là một tổ chức nhưng được coi như một người, một “công dân” kinh tế. Cho nên nếu một công dân – cá nhân được làm những việc không bị cấm, thì công dân – doanh nghiệp cũng phải được như vậy. Đã có ý kiến rất đúng cho rằng Luật Doanh nghiệp được đánh giá là thông thoáng, chính vì bắt nguồn từ đó.

Luật này đã đánh dấu tầm cao mới của tư duy về quản lý nhà nước. Một mặt nó cụ thể  hóa quyền tự do kinh doanh đã được quy định trong hiến pháp, mặt khác xác định những nguyên tắc của cơ chế quản lý mới theo hướng thúc đẩy khu vực kinh tế dân doanh phát triển.

Mỗi tổ chức kinh tế, mỗi đoanh nghiệp từ khi bắt đầu thành lập cho đến suốt quá trình kinh doanh đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật, mà cụ thể là Hiến pháp, các pháp lệnh, nghị định, thông tư…(thường được gọi chung là thế chế quản lý bao gồm cả thủ tục hành chính) và phải giao dịch với bộ máy quản lý hành chính và đội ngũ cán bộ, công chức. Điều đó cũng có nghĩa là mọi hoạt động kinh doanh của doanh   nghiệp đều chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của bộ máy hành chính; do đó, sự trong sáng, lành mạnh và hiệu quả quản lý của bộ máy này quyết định rất lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp.

Thế nhưng, cho đến nay, thể chế quản lý nước ta còn nhiều nhược điểm mà các doanh nghiệp thường khái quát lại là “4 không”: không rõ ràng, minh bạch; không nhất quán (hay thay đổi); không thông suốt (trên thông thoáng, dưới bó lại); và không được thi hành nghiêm túc. Bộ máy vẫn còn cồng kềnh, trách nhiệm không rõ ràng, kém hiệu lực và hiệu quả (có tình trạng “trên nói, dưới không nghe”), giải quyết công việc thường trì trệ, kéo đài. Đội ngũ cán bộ, công chức còn những người thoái hóa, biến chất, gây không ít phiền hà, nhũng nhiễu đối với người dân và doanh nghiệp.

Từ các nguyên tắc và nội dung về Nhà nước và doanh nghiệp, trong mối quan hệ quản lý, tiếp cận nghiên cứu là từ phía Nhà nước trong việc quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp, phải được thể hiện đồng thời 2 tính chất:

Continue reading

CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

HỒNG MINH

Quan điểm của các cơ quan quản lý Nhà nước về NTD cho thấy, nếu quyền và lợi ích chính đáng của NTD bị xâm phạm thì việc khiếu nại của NTD là hoàn tòan chính đáng và được khuyến khích. Và, điều này cũng được thể hiện qua sự hiện hữu của các kênh tiếp nhận khiếu nại của cả Nhà nước lẫn các tổ chức xã hội và cơ chế pháp lý để đảm bảo chi việc khiếu nại được thực hiện.

Người tiêu dùng có 3 kênh để khiếu nại

Theo định nghĩa của Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) năm 1999, người tiêu dùng (có thể là thể nhân hoặc pháp nhân) là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt cá nhân, gia đình và tổ chức chứ không nhằm mục đích kinh doanh. Và, cũng theo Pháp lệnh BVQLNTD thì việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng (NTD) là trách nhiệm chung của toàn xã hội.

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, trong quá trình mua và sử dụng hàng hoá, dịch vụ nếu NTD phát hiện ra hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng được đo lường không chính xác… thì NTD có 3 kênh để có thể khiếu nại. Đó là khiếu nại trực tiếp tới nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp dịch vụ; khiếu nại tới Ban Bảo vệ NTD (thuộc Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương) hoặc Hội BVQLNTD ở địa phương và khiếu nại tới cấp toà án, nếu như không thoả mãn cách giải quyết của những cơ quan đơn vị nói trên. Như vậy, theo luật định có 4 chủ thể lớn bảo vệ quyền lợi và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại của NTD: nhà sản xuất, kinh doanh, phân phối; cơ quan quản lý Nhà nước; Toà án và các cơ quan liên quan; Hội BVQLNTD và các Hiệp hội ngành hàng. Bên cạnh đó, NTD cũng chính là một chủ thể để bảo vệ quyền lợi và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại của chính mình thông qua việc hiểu và nắm vững quyền của NTD, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của NTD và có kiến thức, hiểu biết về tiêu dùng.

Quan điểm của các cơ quan quản lý Nhà nước về NTD cho thấy, nếu quyền và lợi ích chính đáng của NTD bị xâm phạm thì việc khiếu nại của NTD là hoàn toàn chính đáng và được khuyến khích. Bởi, chính việc bảo vệ các quyền và lợi ích của NTD sẽ là một động lực để phát triển kinh tế-xã hội, đạo đức xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Continue reading

VẤN ĐỀ DẠY . HỌC TRONG CÁCH NHÌN CỦA SINH VIÊN

NGUYỄN VIỆT HẰNG – Sinh viên Khoa kinh tế – quản trị kinh doanh, Đại học mở bán công TPHCM

Việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra cho trường ta nói chung cũng như khoa KT – QTKD nói riêng, đặc biệt là trong những học kỳ sắp tới. Nhưng trước hết, muốn tìm ra phương hướng cho sự phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, chúng ta cần phải xác định và nhìn nhận đúng đắn thực trạng, những mặt mạnh, mặt yếu để có thể phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, đảm bảo cho chất lượng dạy và học trong thời gian tới.

Với tư cách là một sinh viên đang học tập tại nhà trường, em xin có một số nhận xét và kiến nghị đến khoa. Kính mong khoa xem xét những đề xuất và mong mỏi của chúng em như những đóng góp nhỏ bé nhưng hết sức chân thành để ở một chừng mực nào đó việc nâng cao chất lượng đào tạo không chỉ còn là trách nhiệm của Ban Giám hiệu nhà trường cũng như các thầy cô mà còn là trách nhiệm của sinh viên chúng em.

Đầu tiên không thể phủ nhận chúng ta có 1 đội ngũ những thầy cô nhiệt tình, năng động, có tâm với nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn và kiến thức cao, sẵn sàng giảng giải khi sinh viên thắc mắc, tận tình truyền đạt kiến thức cũng như những kinh nghiệm sống cho sinh viên.

Tuy nhiên, vẫn còn có một số thầy cô còn những vấn đề cần phải trao đổi.

Đầu tiên là, có một số thầy cô giảng giải có phần hơi lan man và dài dòng, không tập trung vào một vấn đề hay một sự kiện nên làm nhiễu sự chú ý của sinh viên. Chưa giảng xong vấn đề này lại chuyển sang giảng vấn đề khác và đi sâu vào vấn đề đó trong khi vấn đề đó chẳng liên quan gì tới vấn đề chính đang học. Điều này khiến cho sinh viên cảm thấy buồn ngủ hoặc không muốn nghe nữa vì họ cảm thấy những vấn đề họ nghe không dính dáng gì đến nhau.

Continue reading

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TS. TRẦN ANH PHƯƠNG

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,HĐH) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại.

Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại – dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp). Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại…

1. Cơ cấu kinh đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Thực hiện định hướng cơ bản trên đây của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những kết quả nổi bật sau đây.

Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6%. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41,6%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm 2005: 38,1%; năm 2008 sẽ là khoảng 38,7%.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: TÀI SẢN CHUNG MỘT NGƯỜI ĐỊNH ĐOẠT SAO ĐƯỢC!

THỤY CHÂU

Cấp sơ thẩm phân định thắng thua dựa vào biên bản hòa giải chỉ có mỗi ý kiến của người chồng. Năm 1991, sau khi mua của bà N. bốn công đất tại xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, bà H. đã được UBND huyện Nhà Bè cấp “giấy đỏ”. Trên “giấy đỏ”, bà H. đứng tên đại diện cho cả hộ. Hơn chục năm sau, bà N. đã kiện bà H. ra tòa để đòi lại một phần đất đã bán.

Thua kiện vì lời khai của chồng

Bà N. bảo mình chỉ bán bốn công đất nhỏ, diện tích 2.500 m2. Phía bà H. lại bảo mình đã mua bốn công đất lớn, gần 4.000 m2. Do “giấy đỏ” hộ bà H. được cấp ghi diện tích gần 4.000 m2 nên bà N. từng yêu cầu bên mua điều chỉnh lại “giấy đỏ” nhưng chưa ngã ngũ. Ý muốn của bà N. là bên mua phải hoàn trả gần 1.500 m2 đất thừa.

Năm 2005, chồng bà H. từng hai lần ra UBND xã Phước Lộc để tham gia hòa giải tranh chấp và đều phát biểu theo hướng bất lợi cho vợ mình! Lần đầu, ông khẳng định mình chỉ mua bốn công đất nhỏ nên đồng ý trả lại toàn bộ phần đất thừa. Lần thứ hai, ông vẫn bảo mình chỉ mua bốn công đất nhỏ nhưng không chịu hoàn hết phần đất thừa mà đòi hưởng một nửa trong số đó.

Đầu năm 2007, do hòa giải không thành nên bà N. đã đứng đơn kiện bà H. ra tòa để đòi lại đất thừa. Tháng 8-2008, TAND huyện Nhà Bè mở phiên xử sơ thẩm tranh chấp trên. Tại tòa, vợ chồng bà H. khai phần đất mình mua là bốn công lớn. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm căn cứ vào hai biên bản hòa giải lập năm 2005 tại UBND xã Phước Lộc để phân xử tranh chấp và hẳn nhiên là phía bà H. bị thua kiện.

Gia đình bà H. kháng cáo với lý do không có đất thừa để trả cho bà N. Lại nữa, “giấy đỏ” cấp năm 2001 đã ghi rõ toàn bộ diện tích đất trên là của gia đình bà.

Biên bản hòa giải có hợp lệ?

Cả hai lần hòa giải tại UBND xã Phước Lộc chỉ có chồng bà H. tham gia. Hai biên bản của xã không hề nêu rõ lý do bà H. vắng mặt tại phiên hòa giải, cũng không nói rõ bà H. có ủy quyền cho chồng thay mặt mình tham gia hòa giải hay không.

Continue reading