9 CÂU CHUYỆN NHỎ VÀ NHỮNG BỨC XÚC LỚN CỦA NGÀNH GIÁO DỤC

BÙI TRỌNG LIỄU – Nguyên Giáo sư đại học Paris, Pháp

Câu chuyện thứ nhất: Cành hoa cắm giả làm cây

Năm 1960, Hồ Chủ Tịch phát động phong trào “trồng cây”, cụ lại có câu nổi tiếng, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Nhưng không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa của câu “trồng người”.

Cũng năm 1960, cụ về thăm quê. Về đến nhà khách tỉnh ủy Nghệ An, cụ phát hiện ra ngoài vườn có những cành hoa cắm xuống đất, giả như cây trồng, để đón cụ. Cụ đã nghiêm khắc phê phán coi đó là một căn bệnh phô trương hình thức.

Hiện nay, đọc thông tin về kế hoạch và đề án đào tạo nhân lực, nhiều người trong và ngoài nước không khỏi hoang mang, hoài nghi về sự khả thi của một số đề án này, với những số liệu và mốc thời gian. E rằng những con người mà những đề án này giả định là sẽ đào tạo ra, cũng như những cành cây không rễ, cắm xuống đất cho có số lượng, chứ không phải là thực sự trồng cây, trồng người.

Câu chuyện thứ hai: Chuyện mua kính và ĐH đẳng cấp

Thuở nhỏ, tôi có học trong một cuốn Giáo khoa thư, câu chuyện sau đây: Có một bác nông dân, ra tỉnh, vào một hàng kính, hỏi mua một cặp kính trắng. Chủ hiệu đưa cho bác một trang sách để bác thử đọc. Bác thử tất cả các cặp kính của hiệu mà vẫn không vừa lòng.

Chủ hiệu đâm nghi hỏi: “Thế bác đã biết đọc chưa đã?”. Bác ta nổi giận gắt lên: “Nếu tôi biết đọc rồi, thì tôi đi mua kính làm gì!”. Té ra bác ấy thấy mấy người già đọc sách thường đeo kính, nên ngỡ rằng cứ đeo kính lên thì đọc được chữ mà chẳng cần phải học.

Ngày nay, có một số người Việt Nam, “cưỡi ngựa xem hoa” nước ngoài, quáng mắt ngỡ rằng cứ có vài chục héc-ta đất, xây campus với những tòa nhà hoành tráng, trang bị bàn ghế cho bảnh, thư viện đầy ắp sách, phòng làm việc đầy ắp máy tính, phòng thí nghiệm có máy móc tối tân, v..v. mà chẳng cần chú ý giảng viên có trình độ tương xứng hay không, sinh viên học hành thế nào, để rồi vào khoảng năm 2020 Việt Nam cũng sẽ có những đại học đẳng cấp, lọt vào top 200 trường ĐH hàng đầu thế giới chẳng hạn. Dễ vậy sao?

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DO CÔNG BỐ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM MELAMINE KHÔNG CHÍNH XÁC: BỘ Y TẾ KHÔNG MINH OAN HAY ĐÍNH CHÍNH?

QUANG DUY

Ngày 6.1.2009, trong cuộc họp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) – TS Nguyễn Công Khẩn khẳng định: Bộ Y tế không đính chính hay minh oan cho kết quả xét nghiệm melamine đã công bố trước đây đối với Hanoimilk.

Tại thời điểm trước ngày 11.12.2008, Bộ Y tế đã công bố 32 sản phẩm thực phẩm nhiễm melamine, trong đó có 7 sản phẩm Hanoimilk là theo đúng quy trình, đúng các thông tin do cơ quan kiểm nghiệm và DN cung cấp.
Trước đó, đại diện Bộ Y tế và Hanoimilk đã làm việc và đi đến thống nhất các bước xử lý ở giai đoạn trước là phù hợp. Từ ngày 16.12.2008, Thanh tra Bộ Y tế đã xét nghiệm 20 mẫu sữa của Hanoimilk. Đây là những mẫu lấy từ các lô khác, sản phẩm hoàn toàn khác đối với các mẫu đã công bố nhiễm melamine trước đây. 20 mẫu này không phát hiện nhiễm melamine và được Bộ Y tế công bố ngay.
Vì thế, việc đưa các thông tin này không phải là Bộ Y tế minh oan cho kết quả xét nghiệm melamine đã công bố trước đó, mà là sự tiếp nối những thông tin liên quan.
Ngày 6.1, đại diện Bộ Y tế – Chánh Thanh tra Trần Quang Trung – đã gặp gỡ chính quyền địa phương và bà con nông dân nuôi bò sữa xã Trung Nguyên (Yên Lạc, Vĩnh Phúc). Đây là một trong những việc làm tiếp theo của Bộ Y tế sau khi nhận được đơn của một số người nông dân ở đây yêu cầu Bộ Y tế bồi thường kinh tế sau khi có những thông tin về melamine được công bố từ cơ quan này.
Anh Trần Văn Dũng (thôn Trung Nguyên, xã Trung Nguyên) – một trong những người viết đơn kiện Bộ Y tế đòi bồi thường thiệt hại – cho biết: “Hiện nay, Cty cổ phần sữa Hà Nội (Hanoimilk) chỉ thu mua 1,2 tấn/ngày, trong khi trước đó lên tới xấp xỉ gần 5 tấn sữa/ngày. Không chỉ có thế, giá mua cũng giảm từ 8.000đ/l xuống 6.000đ/l. Chúng tôi đề nghị Bộ Y tế, Chính phủ có biện pháp nào đó để giúp đỡ bà con nông dân, vì người nuôi bò sữa như chúng tôi đang đứng trước nguy cơ phá sản”.
Theo ông Đỗ Như Bế – Chủ tịch UBND xã Trung Nguyên – xã có một số hộ nuôi tập trung từ 10-15 con bò sữa. Tại xã cũng có 2 trạm thu mua sữa nguyên liệu, một là của hợp tác xã và trạm thứ hai của gia đình ông Nguyễn Như Tám. Ông Tám cũng là một trong 8 người có đơn gửi Bộ Y tế.

Continue reading

BẢY NGUYÊN TẮC DẠY TỐT Ở BẬC ĐẠI HỌC

LÊ VĂN HẢO – Học giả VEF 2008-09 tại Washington State University, WA, Hoa Kỳ

Nâng cao chất lượng giảng dạy luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của giáo dục đại học Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây. “Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, kiểm định và đánh giá các cơ sở giáo dục” là một trong số 11 giải pháp  nâng cao chất lượng giáo dục trong Dự thảo Chiến lược giáo dục 2009-2020 của Bộ GD&ĐT.

Tuy nhiên, lâu nay hệ thống các trường đại học Việt Nam vẫn chưa có một “chuẩn” chung như thế nào là dạy tốt để định hướng hoạt động giảng dạy. Bài viết này giới thiệu “Bảy nguyên tắc dạy tốt ở bậc đại học” đã được phổ biến rộng rãi ở các trường đại học Hoa Kỳ nhằm làm tư liệu tham khảo đối với các trường đại học ở Việt Nam. Mỗi nguyên tắc được trình bày gồm hai phần: phần đầu được dịch từ nguyên bản, phần sau được tổng hợp từ kinh nghiệm triển khai của các trường đại học Hoa Kỳ.

Xuất xứ“Bảy nguyên tắc dạy tốt ở bậc đại học” (Seven Principles for Good Practice in Undergraduate Education) được xây dựng bởi Arthur W. Chickering (George Mason University) và Zelda F. Gamson (University of Massachusetts at Boston) và được phổ biến lần đầu bởi Hiệp hội các trường đại học Hoa Kỳ (AAHE) vào năm 1987. Sau đó, Quỹ Johnson đã cho in khoảng 200.000 tài liệu này để phân phát đến các trường đại học ở Hoa Kỳ, Canada và Anh. Trong những năm gần đây, nhiều trường đại học và tổ chức nghiên cứu giáo dục tiếp tục bổ sung những kinh nghiệm triển khai đối với bảy nguyên tắc này nhằm làm cho chúng cụ thể và phù hợp hơn nữa với các điều kiện và hình thức giáo dục hiện nay, ví dụ như hướng dẫn của University of Tennessee at Chattanooga,minh họa của University of Texas at El Paso, tổng hợp của TLT Group. Sở dĩ bảy nguyên tắc này được thừa nhận rộng rãi ở các trường đại học Hoa Kỳ là do chúng đã được đúc kết từ rất nhiều nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng người học và ngành học khác nhau. Đối tượng chính của bảy nguyên tắc này là giảng viên (GV) của các trường đại học, tuy nhiên sinh viên (SV) cần biết để điều chỉnh định hướng học tập của mình, và cán bộ quản lý nhà trường cũng cần biết để hoạch định và hỗ trợ công tác đào tạo tốt hơn.

Nội dung Nguyên tắc 1: Tăng cường sự tiếp xúc giữa GV và SV

Sự tiếp xúc giữa thầy và trò trong và ngoài lớp học là yếu tố quan trọng nhất giúp khuyến khích sinh viên học tập. GV cần quan tâm giúp SV vượt qua những lúc khó khăn, thử thách để theo đuổi việc học. Việc tiếp xúc với GV giúp cho SV gắn bó với học tập và định hướng tương lai tốt hơn.

Continue reading

HƯỚNG DẪN MỚI CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ THUẾ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: CÓ THỂ CÓ LỢI CHO DÂN… NHƯNG TRÁI LUẬT?

LÊ THANH

Nếu Quốc hội lấy “chuẩn” là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng nhà đất có hiệu lực thì Bộ Tài chính chỉ quan tâm người dân đã nộp thuế hay chưa. Ngày 31-12-2008, Bộ Tài chính đã ban hành Công văn 16181 hướng dẫn cục thuế các tỉnh thực hiện một số chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Theo nhận xét của các chi cục thuế tại TP.HCM, một số nội dung trong công văn này do không “bám sát” Luật Thuế TNCN nên “chông chênh”, gây ra nhiều xáo trộn không đáng có.

Vi phạm nguyên tắc bất hồi tố

Từ 1-1-2009, các trường hợp chuyển nhượng nhà đất không còn nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất mà chuyển sang nộp thuế TNCN. Sẽ không có gì phải bàn cãi đối với những hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đã được công chứng, chứng thực và nộp xong thuế trước ngày 31-12-2008. Nhưng các hợp đồng chỉ mới được công chứng, chứng thực mà chưa nộp thuế, chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng trước thời hạn cuối này phải nộp thuế như thế nào?

Thì đây, câu trả lời của Bộ Tài chính: “Cá nhân chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công trình gắn liền với đất đã có hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật trước ngày 31-12-2008 nhưng từ 1-1-2009 chưa nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất (CQSDĐ) và chưa hoàn thành thủ tục chuyển nhượng thì thực hiện kê khai nộp thuế TNCN”. Như vậy, nghĩa vụ nộp thuế cũ-thuế mới chỉ đơn thuần căn cứ vào việc người dân đã nộp thuế hay chưa.

Ông Võ Bách Chiến, Đội trưởng Đội trước bạ Chi cục Thuế quận Bình Tân, băn khoăn: Theo khoản 4 Điều 14 Luật Thuế TNCN, “thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật”. Nếu hợp đồng chuyển nhượng đất có hiệu lực vào thời điểm người dân đăng ký tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì hợp đồng chuyển nhượng nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng. E sẽ là sự hồi tố sai quy định nếu nhà nước thu thuế TNCN đối với những hợp đồng bán nhà ở đã được công chứng (tức đã có hiệu lực) trong năm 2008. Trước mắt, Chi cục Thuế quận Bình Tân đã tạm ngừng giải quyết nhiều hồ sơ chuyển nhượng nhà đất nhận trước ngày 31-12-2008. Ông Chiến giải thích: “Đó là những hồ sơ mà chúng tôi đã tính thuế CQSDĐ, chưa kịp trình lên lãnh đạo ký duyệt thì có hướng dẫn trên của Bộ Tài chính. Chúng tôi đành gác lại để chờ xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên”.

Continue reading

BÀN VỀ THU PHÍ SỬ DỤNG DỊCH VỤ ATM

image ANH TUẤN

Ngày 19/11/2008, tôi vào google thử tìm kiếm cụm từ “thu phí ATM”, sau 0,27 giây google tìm được cho tôi 22.800 kết quả. Đọc qua các kết quả tìm kiếm, thấy phần lớn là các ý kiến phản đối hoặc đề nghị hoãn thời điểm thu phí ATM. Lướt qua các báo viết đăng hàng ngày tình hình cũng tương tự, các tiêu đề như “Ngân hàng lại đòi thu phí ATM”, “Ngân hàng lại tính chuyện thu phí ATM”,… có thể tìm thấy trên rất nhiều mặt báo. Qua các thông tin này, dường như người ta có cảm giác là các ngân hàng thương mại (sau đây gọi tắt là ngân hàng) đang đòi hỏi một việc gì đó trái với lẽ thường, đòi hưởng cái mà mình không đáng được hưởng chăng?

Chi phí

Để duy trì hoạt động của một máy ATM, chi phí tối thiểu mỗi năm khoảng 150 đến 200 triệu đồng, gồm: Chi khấu hao máy khoảng 100 triệu đồng/năm (bình quân 500 triệu đồng/máy1, khấu hao 5 năm, có thể cao hơn hoặc thấp hơn tùy loại máy), chi thuê địa điểm đặt máy từ 30 – 50 triệu đồng/năm tùy vị trí, chi phí bảo vệ, điện, sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ khoảng 30 triệu đồng/năm. Đó là chưa kể các chi phí khác như chi mua phần mềm quản lý ATM, lương nhân viên quản lý, kỹ thuật bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ, tiếp quỹ,… Như vậy một ngân hàng nếu phát triển một hệ thống 1.000 máy ATM thì vốn đầu tư ban đầu ước tính lên tới 500-600 tỷ đồng (riêng tiền mua máy khoảng trên 500 tỷ đồng) và mỗi năm phải chi phí khoảng 150-200 tỷ đồng cho hệ thống này.

Thu nhập

Một số người cho rằng khi phát hành thẻ ATM, ngân hàng đã thu phí hàng năm từ 50.000 -100.000 đồng/năm, như vậy đã có thu nhập rồi. Đúng là các ngân hàng có thu phí phát hành thẻ, nhưng số phí thu được cũng không thấm vào đâu so với chi phí khổng lồ phải bỏ ra đã nêu trên. Tổng số thẻ các loại đã phát hành tại Việt Nam đến nay khoảng 8 triệu thẻ. Tuy nhiên, theo tính toán của các ngân hàng thì chỉ có khoảng 2-3 triệu thẻ hoạt động bình thường, số còn lại là thẻ không hoạt động (bản thân người viết bài này đã được các ngân hàng cấp 5 chiếc thẻ các loại, nhưng hiện chỉ sử dụng thường xuyên 1 thẻ duy nhất). Bình quân mỗi ATM phục vụ khoảng 500-600 chủ thẻ đang hoạt động (thậm chí các ngân hàng phát triển thẻ muộn mới chỉ đạt bình quân dưới 300 thẻ / 1 ATM), nếu thu đủ tiền phí phát hành, thì phí thu được tối đa khoảng 30 triệu đồng/máy/năm. Đó là tính trên lý thuyết, còn thực tế hiện nay phần lớn các ngân hàng đang phải miễn giảm phí phát hành thẻ để khuyến khích người dùng, nên khoản phí này thực tế còn thấp hơn nhiều.

Continue reading