KỶ LUẬT VÀ SỰ TIẾN BỘ XÃ HỘI

image PHẠM ĐÌNH VIỄN

Lịch sử cho chúng ta những bài học sinh động về sự hưng thịnh và suy vong của các quốc gia liên quan mật thiết tới tinh thần kỷ luật của các tổ chức bên trong lòng quốc gia ấy. Nhu cầu hình thành kỷ luật trong tổ chức dân sự được xuất phát từ nhu cầu lao động sản xuất với quy mô lớn. Từ đó làm thành nội lực kinh tế của quốc gia.

Nhưng nếu tổ chức có tính trung ương nhất, tức bộ máy hành chính nhà nước, thiếu đi tinh thần kỷ luật thì mọi thành quả kinh tế của xã hội khó có thể được phân chia công bằng. Bất công xã hội và tệ tham nhũng có thể khiến cho vị thế đất nước lung lay. Một đế quốc La Mã có một nền sản xuất thành công bậc nhất trên thế giới vào thời kỳ nó tồn tại, với những con thuyền vận tải chuyên chở hàng trăm tấn đá hoa cương tấp nập trên Địa Trung Hải (1), nhưng vẫn sụp đổ vì giới cầm quyền mục ruỗng. Như vậy là thành công về kinh tế không đảm bảo, và cũng không thay thế được vai trò của cải cách bộ máy hành chính.

Việc cải cách bộ máy hành chính về bản chất cần sự đồng thuận của số đông. Nếu số đông vô trách nhiệm thì không thể có sự cải cách tiến bộ. Nhưng có ý thức trách nhiệm cũng là có tinh thần tôn trọng kỷ luật. Lịch sử nhân loại đã chứng kiến những cuộc cách mạng xuất phát từ những nhu cầu nhân văn cao cả. Nhưng những giá trị nhân văn không đảm bảo cho thành công lâu dài. Một đất nước thiếu nền tảng luật pháp vững vàng thì thành quả những cuộc cách mạng dễ rơi vào vòng tranh giành hỗn loạn, hoặc là vào tay kẻ mạnh nắm giữ lực lượng an ninh và quân đội. Điều này hơi trái với với suy nghĩ của những ai cho rằng một thể chế được lãnh đạo bởi một số cá nhân tiến bộ thì sẽ tự động tạo ra một nền chính trị và xã hội tiến bộ. Đúng là xã hội và thể chế chính trị thường có sự tiến bộ khi xuất hiện những nhà lãnh đạo tiến bộ. Nhưng đó chưa phải là điều kiện đủ để tạo ra nền tảng luật pháp nghiêm minh. Như vậy thì không có thành quả chính trị tiến bộ nào đảm bảo tồn tại lâu dài.

Continue reading

TẠI SAO LƯƠNG TRONG KHU VỰC NHÀ NƯỚC THẤP?

TS. VŨ QUANG VIỆT (New York)

TBKTSG – Không ai trong khu vực nhà nước sống nổi bằng đồng lương, nhưng người ta vẫn sống, mà sống đàng hoàng. Câu nói này nói lên tình trạng thiếu lành mạnh của hệ thống nhà nước Việt Nam hiện nay. Tại sao lại sống được? Bởi vì để sống được và để có thể lo cho gia đình, kể cả tồn tại trong công việc người ta phải làm những điều mà ở một xã hội bình thường khác họ thường sẽ cảm thấy xấu hổ.

Tại sao lại đặt vấn đề lương

Nhưng xã hội Việt Nam hơi thiếu bình thường, bởi vì ở nước ta, tham nhũng hay tham ô không chỉ mang tính cá nhân, mà còn mang tính tập thể, nhiều người cùng làm, hoặc cùng làm ngơ vì ai cũng có lợi trong đó; và hơn thế, những hành động này nhiều khi lại hợp pháp.

Điển hình là trường hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính, nhằm tăng thu nhập cho giáo viên ở trường công, đã cho phép nhà trường thu thêm các loại phí, cho phép thầy cô dạy thêm lấy tiền, cho phép thầy cô nhận phong bì, cho phép Hội phụ huynh quyết định thu thêm các loại đóng góp cho trường mà bộ coi là đóng góp tự nguyện của phụ huynh nằm ngoài sự kiểm soát của bộ mặc dù không đóng không được.

Và tất nhiên là việc phân chia sẽ không đồng đều, cấp trên tất nhiên nhận nhiều hơn cấp dưới. Đây là những việc hoàn toàn hợp pháp.

Còn những trường hợp chiếm dụng phần chi cho vật chất và đầu tư xây dựng để chia nhau là bất hợp pháp nhưng cũng có thể được lãnh đạo đồng ý tập thể. Sự thiếu nghiêm chỉnh trong giáo dục ảnh hưởng đến sự suy nghĩ của trẻ em, mà khi lớn lên chúng có thể coi những hành động tham nhũng là điều tự nhiên, tự nhiên như cần dầu bôi trơn cho máy nổ hoạt động.

Mục tiêu phát triển

Lương, phần chính của thu nhập phải là tiêu chí của phát triển. Bất cứ một xã hội nào muốn phát triển trong ổn định ít nhất cũng phải đạt được năm tiêu chí: một là thu nhập tăng ổn định và phân phối công bằng (công bằng chứ không phải cào bằng), hai là luật pháp công minh (tức là công bằng và nghiêm minh, không phân biệt đối xử địa vị xã hội, vai trò chính trị), ba là mọi người bình đẳng về cơ hội, bốn là môi trường thiên nhiên trong sạch, và năm là nâng cao dân trí qua việc xây dựng một nền giáo dục có chất lượng.

Continue reading

ĐỪNG QUÊN BẢO VỆ TÀI SẢN TRÍ TUỆ

SAGA – Các doanh nghiệp luôn chú trọng đến việc xây dựng, khuếch trương, quảng cáo cho sản phẩm để thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa. Sản phẩm càng nổi tiếng, sức tiêu thụ càng nhiều và khả năng thu lợi nhuận càng lớn. Tuy nhiên, một yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp ít quan tâm là thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ tài sản trí tuệ của mình trước sự xâm phạm của các doanh nghiệp khác. Họ không nhìn thấy những giá trị của tài sản trí tuệ cho đến khi bị đối thủ cạnh tranh xâm phạm.

Lựa chọn, lựa chọn

Khóa cửa và một hệ thống  bảo vệ giúp giữ gìn trang thiết bị và tài sản. Nhưng cái gì sẽ bảo vệ những tài sản sở hữu giá trị nhất của doanh nghiệp? Luật bảo vệ trí tuệ có thể bảo vệ những bí mật kinh doanh của bạn, tên thương mại và những thiết kế của sản phẩm hay bao bì. Những doanh nghiệp nhỏ nên bắt đầu nghĩ đến việc này sớm hơn. Thông thường, những doanh nghiệp nhỏ thường có xu hướng trì hoãn việc bảo vệ tài sản trí tuệ bởi vì chi phí.

Ngay khi bạn nghĩ cái gì đáng giá nhất để bảo vệ, bạn sẽ tìm cách để bảo vệ nó. Theo truyền thống, bằng sáng chế ngăn cấm sự sao chép những sáng chế mới và những quy trình từ công ty khác, trong khi đó bản quyền làm cùng nhiệm vụ nhưng cho những sáng tạo trong lĩnh vực sách, âm nhạc hay phần mềm. Trong nhiều trường hợp, những khái niệm chồng chéo lên nhau. Tương tự như vậy, luật Trademark bảo hộ cho tên và logo của công ty, bây giờ mở rộng thêm những yếu tố phân biệt như màu sắc và hình dạng của sản phẩm. Ở Úc còn có luật Tradedress liên quan đến sự đóng gói sản phẩm và quảng cáo. Ở Mỹ có thêm Tradeservice dùng cho những dịch vụ. Có thể lấy Coca-Cola làm ví dụ để nhìn thấy sự khác biệt giữa bằng sáng chế, thương hiệu và bản quyền.

Bạn có thể nghiên cứu và lựa chọn hình thức bảo vệ phù hợp với loại hình kinh doanh của mình. Xem xét ví dụ, Công ty Ty Inc., sản xuất thương hiệu đồ chơi trẻ em Beanie Babies và những đồ chơi bằng bông nổi tiếng khác. Trước khi giới thiệu dòng sản phẩm Beanie Babies, ban giám đốc công ty ngồi lại với luật sư thảo luận về những tài sản trí tuệ. Mọi người nhận thấy rằng đăng ký bằng sáng chế cho những đồ chơi bằng bông là điều khó khăn và phải mất nhiều năm, trong thời gian đó, các công ty khác cũng đã có thể kịp sao chép những sáng chế của mình.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: MỘT VỤ ÁN Ở QUẢNG NINH BỊ QUÊN… 10 NĂM

LÝ BÌNH

Không đồng ý với kết quả giải quyết của tòa án ở Quảng Ninh, bị đơn khiếu nại và TANDTC đã rút hồ sơ, yêu cầu cơ quan thi hành án hoãn việc thi hành để xem xét theo trình tự giám đốc thẩm. Nhưng 10 năm trôi qua, vẫn không có bất cứ tín hiệu nào về việc giải quyết vụ án từ phía TANDTC. Vụ việc bị “bỏ lửng”, còn người dân thì luôn bị đe dọa đưa ra thi hành án…

Vẫn bị buộc tiếp tục trả nợ… khi đã thực hiện cam kết giao nhà

Theo đơn gửi ĐS &PL của vợ chồng ông Phan Quang Khải và bà Đặng Thị Thảo thì tháng 4.1994, vợ chồng ông bà có vay của vợ chồng ông Nguyễn Văn Đại, bà Nguyễn Thị Khanh 150 triệu đồng. Do không có khả năng trả nợ nên ngày 4.7.1996, vợ chồng ông Khải và vợ chồng ông Đại tự nguyện làm “giấy biên nhận và cam kết với nội dung xác nhận đã nợ số tiền cả gốc và lãi 37 triệu đồng. Về việc thanh toán, các bên thoả thuận trong biên nhận lại gia đình ông Khải tự nguyện giao cho vợ chồng ông Đại ngôi nhà mái bằng 1 tầng (cùng giấy phép xây dựng) để gia đình ông Đại quản lý. Biên nhận cũng ghi rõ: “đến ngày 31.12.1996, gia đình anh Khải không trả được số tiền đã vay thì gia đình tôi (Phạm Quang Khải), giao quyền cho gia đình anh Đại được quyền tự quản lý lấy”. Hết thời hạn cam kết, gia đình ông Đại đã nhận nhà ngôi nhà nói trên của gia đình ông Khải.

Tháng 8.1997, ông Đại tiếp tục làm đơn khởi kiện ra tòa án với yêu cầu buộc ông Khải phải trả nốt nợồ (vì cho rằng vợ chồng ông Khải vẫn còn thiếu tiền nợ. Hai cấp Tòa là TAND thị xã Cẩm Phả và TAND tỉnh Quảng Ninh đã không xét đến đề nghị của vợ chồng ông Khải khi cho rằng với việc thực hiện thỏa thuận giao nhà thì gia đình ông đã trả nợ đủ cả gốc và lãi cho vợ chồng ông Đại. Trao đổi với ĐS &PL, ông Khải khẳng định: Ngôi nhà là vật cầm cố để bảo đảm thanh toán, dù 2 bên không xác định gia trị tài sản nhưng đều tự hiểu là như vậy. Từ đó, 2 cấp tòa án ở Quảng Ninh đã xử buộc vợ chồng ông Khải phải trả nợ tiếp cho vợ chồng ông Đại số tiền là 130.600.000 đồng (sau khi đã trừ 80 triệu đồng giá trị ngôi nhà mà ông Khải dùng để gán nợ).

10 năm… và một Thông báo

Không đồng ý với cách giải quyết trên, ông Khải đã khiếu nại đến TANDTC. Ngày 27.6.1998, Phó Chánh án TANDTC Dương Thị Thanh Mai đã ký công văn “Yêu cầu hoãn thi hành án dân sự” số 216/DS gửi Đội trưởng Đội thi hành án thị xã Cẩm phả và TAND tỉnh Quảng Ninh. Theo đó, TANDTC yêu cầu: Đội trưởng đội THA quyết định hoãn thi hành án trong thời hạn 3 tháng và yêu cầu TAND tỉnh Quảng Ninh “chuyển gấp hồ sơ vụ án” về Tòa dân sự -TANDTC để xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

Căn cứ vào yêu cầu đó, ngày 29.6.1998, Đội thi hành án thị xã Cẩm Phả đã ban hành Quyết định số 01/THA hoãn thi hành án đối với ông Phan Quang Khải và bà Đặng Thị Thảo. Nhưng sau đó, không hiểu vì lý do gì, gia đình ông Khải không nhận được bất kỳ hồi âm từ bất cứ cơ quan nào.

Continue reading

SỞ HỮU ĐẤT ĐAI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

LÊ CÔNG ĐỊNH

Khi chính sách cải cách kinh tế theo hướng thị trường được áp dụng, yếu tố thị trường sẽ ngày càng chi phối sự phát triển, tư duy pháp lý tất yếu trở nên thắng thế và đòi hỏi phải xem xét lại tính phù hợp của khái niệm sở hữu toàn dân đối với đất đai. Cưỡng lại yêu cầu này sẽ khiến động lực phát triển kinh tế bị triệt tiêu và ổn định xã hội bị đe dọa.

Đất đai luôn được xem là loại tài sản đặc biệt, hiện diện ở hầu hết các hoạt động đầu tư và sản xuất của xã hội, dù trực tiếp hay gián tiếp. Nhà nước ở đâu và thời nào cũng xem trọng và đặt chính sách đất đai vào vị trí ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế và ổn định xã hội.

Không chỉ vậy, hầu hết các cuộc cách mạng có sự tham gia của đông đảo quần chúng hoặc giới cần lao đều định hướng vấn đề đất đai một cách rõ ràng và cụ thể. Những khẩu hiệu cách mạng như “người cày có ruộng” hoặc “ruộng đất cho dân cày”, tuy ngắn ngọn nhưng luôn điểm trúng tử huyệt của các chế độ tập trung quyền kiểm soát đất đai vào tay giai cấp thống trị và giới thượng lưu.

Trong lịch sử cận đại của Việt Nam, đất đai cũng là đề tài lớn. Các triều đại quân chủ thời hậu Lê và Nguyễn đều quan tâm đặc biệt đến chế độ sở hữu và cách thức quản lý điền địa khi san định luật lệ của họ. Những quy định về đất đai thời đó, đặc biệt của triều Lê, đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển cực thịnh của chế độ quân chủ ở nước ta.

Nhiều quy tắc luật pháp thời ấy đã được người dân đón nhận một cách trân trọng đến mức khi năm tháng qua đi, các triều đại lần lượt thay đổi, sự áp dụng không còn mang tính ràng buộc trên phương diện pháp lý nữa, song chúng vẫn tiếp tục “sống” dưới dạng tập quán xã hội, được người dân tuân thủ và tôn trọng một cách mặc nhiên, không cần cưỡng hành.

Dưới thời Pháp thuộc, tuy chính quyền thuộc địa chỉ chú trọng vào việc khai thác đất đai và tài nguyên của thuộc quốc hầu làm giàu cho mẫu quốc, hơn là thỏa mãn nhu cầu sinh sống của người dân bản xứ, nhưng họ vẫn tìm cách áp dụng nhiều giải pháp khoa học vào vấn đề quản lý điền địa. Chính điều ấy đã tạo nên sự ổn định xã hội trong một thời gian đủ dài để giúp phát triển kinh tế và bảo đảm điều kiện khai thác thuộc địa thuận lợi. Sắc lệnh điền thổ ngày 21/7/1925 là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học như vậy mà chính quyền thuộc địa đã dày công thực hiện.

Continue reading