TÌM HIỂU VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI VÀ THỊ TRƯỜNG TƯƠNG LAI

image– Hiện nay, ở Việt Nam, hợp đồng tương lai và các giao dịch trên thị trường tương lai còn là những khái niệm khá mới mẻ với nhiều các nhân, tổ chức. Nhưng ở các nước có thị trường tài chính phát triển, nó đã hình thành, phát triển khá lâu đời, cùng tồn tại song song và đóng vai trò quan trọng không kém so với thị trường chứng khoán. Bài viết này xin giới thiệu sơ lược về hợp đồng tương lai và cách thức để tham gia giao dịch trên thị trường này.

1. Trước hết, ta cần phân biệt sự khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng tương lai cũng như hợp đồng kỳ hạn, khác với options (có quyền không cần thực hiện hợp đồng) ở chỗ là có sự bắt buộc phải thực hiện hợp đồng vào ngày giao hàng đã thỏa thuận trước. Bên mua của hợp đồng được gọi là bên giữ thế trường vị (long position) của hợp đồng, bên bán của hợp đồng được gọi là bên giữ thế đoản vị (short position) của hợp đồng. Cả hai loại hợp đồng đều được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng và địa điểm giao hàng. Cả hai đều là một trò chơi có tổng bằng 0, khoản lời của bên này chính là khoản lỗ của bên kia. Tuy vậy, giữa chúng cũng có một vài điểm khác biệt sau:

– Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, chỉ có giá là được thỏa thuận, mỗi hợp đổng đều được quy định một số lượng hàng hóa nhất định (gọi là contract size),ngày giao hàng và nơi giao hàng được ấn định cụ thể trên thị trường, không có sự đàm phán giữa hai bên tham gia vào hợp đồng. Ngược lại,mọi đều khoản của hợp đồng kỳ hạn đều có thể được thỏa thuận, đàm phán giữa hai bên.

– Hợp đồng tương lai được giao dịch trên các thị trường tương lai. Các bên có thể kết thúc hoặc chấm dứt vị thế của mình một cách dễ dàng. Bên giữ thế trường vị (người mua) có thể kết thúc vị thế của mình bằng cách bán lại  hợp đồng tương lai với cùng loại hàng hóa và cùng ngày giao hàng. Ngược lại,bên giữ thế đoản vị (người bán) cũng có thể kết thúc vị thế của mình bằng cách mua một hợp đồng tương lai tương tự. Ngược lại, ngoài thị trường hợp đồng kỳ hạn lãi suất  và thị trường kỳ hạn ngoại tệ, hầu hết các thị trường kỳ hạn đều rất kém thanh khoản.

Continue reading

CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CẠNH TRANH

LS. DOMINIQUE BRAULT – Công ty luật Herbert Smith LLP, chi nhánh Paris, Pháp

Ngay cả các nước kiên trì với tuyên bố chủ nghĩa cộng sản và cơ cấu tổ chức chính trị do một đảng duy nhất lãnh đạo cũng vừa tự trang bị cho mình các quy định pháp luật và các thể chế cần thiết để điều hành một nền kinh tế thị trường.

Việt Nam đã thông qua Luật Cạnh tranh ngày 3/12/2004 và các văn bản hướng dẫn và các cơ quan chịu trách nhiệm thi hành đạo luật này đã sẵn sàng: Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh; Nghị định 120/2005/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Nghị định 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh; Nghị định 05/2006/NĐ-CP về thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh.

Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh

Cục Quản lý cạnh tranh là một tổ chức hành chính trực thuộc Bộ Thương mại – nay là Bộ Công thương, ND – (đơn vị này được gọi tắt là VCAD – Vietnam Competition Administration Department). Các đóng góp của tổ chức này tương tự như DGCCRF của Pháp, đặc biệt trong lĩnh vực điều tra. Cục Quản lý cạnh tranh phối hợp với Hội đồng Cạnh tranh, đơn vị có từ 11 đến 15 thành viên phụ trách thông báo các vi phạm cũng như « đưa vụ việc ra giải quyết ở đơn vị có thẩm quyền» (Điều 53.2 et 107). Hội đồng Cạnh tranh hoàn toàn độc lập với cơ quan chính trị có thẩm quyền. Hội đồng không có quyền miễn trừ, riêng chỉ các Bộ mới có quyền này. Thủ tướng có thể cách chức Chủ tịch Hội đồng theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại.

Luật Cạnh tranh Việt Nam gồm 123 điều. Luật này điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi hạn chế cạnh tranh, việc kiểm soát tập trung kinh tế, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh và các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh.

Continue reading

NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008 VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Bản án, quyết định của Toà án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước.

Chính vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004[1]sau gần 5 năm triển khai thực hiện đã thu được nhiều kết quả quan trọng như: về mặt thể chế, đã ban hành được hai Pháp lệnh chuyên ngành về thi hành án dân sự là Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 và trên dưới một trăm văn bản trực tiếp hướng dẫn hoặc có liên quan đến công tác thi hành án dân sự; về mặt tổ chức bộ máy, các cơ quan thi hành án dân sự trên toàn quốc đã từng bước được kiện toàn: 63 cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh trên phạm vi cả nước đã có Trưởng hoặc được giao Quyền trưởng và Phó trưởng; về cơ bản tất cả các cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh đã thành lập được hai hoặc ba phòng chuyên môn trực thuộc, riêng Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội thành lập bốn phòng, Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh thành lập năm phòng, các phòng về cơ bản đều đã được bổ nhiệm Trưởng, Phó trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng giao phụ trách; về công tác biên chế, các cơ quan thi hành án dân sự trên phạm vi cả nước đã tuyển dụng được khoảng 8000 biên chế trên tổng số 8287 biên chế được phân bổ, trong đó có gần 3.000 Chấp hành viên, ngoài ra là các chức danh khác như Kế toán, Chuyên viên, Cán sự, Thủ kho, Thủ quỹ…; về công tác đào tạo, bồi dưỡng, Bộ Tư pháp luôn luôn quan tâm chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc Bộ liên tiếp mở các khoá đào tạo Chấp hành viên, các lớp bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật mới để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thi hành án cho Thủ trưởng các cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã được bổ nhiệm lâu năm và các công chức làm công tác tổ chức, kế toán, văn thư, lưu trữ trong các cơ quan thi hành án dân sự địa phương.

Continue reading

VĂN HÓA NHẬN TRÁCH NHIỆM

image TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Có thể chỉ do trùng hợp ngẫu nhiên, mà cũng có thể theo đúng quy luật ngặt nghèo, nhiều (quá nhiều) sự kiện xảy ra, đồng loạt hoặc liên tiếp trong năm, làm lộ rõ những sai sót, yếu kém của bộ máy quản lý, điều hành.

Báo chí đã có dịp đưa tin, bình luận về những vụ nổi cộm: dự báo sai về tình hình cung cầu lương thực dẫn đến quyết định bất hợp lý về xuất khẩu gạo; dự báo sai về tình hình thời tiết, dẫn đến sự bị động trong việc ứng phó với đợt mưa lũ lịch sử tại Hà Nội; chuyện vi phạm pháp luật môi trường rành rành và kéo dài của các doanh nghiệp lớn như Huyndai Vinashin, Vedan, Hào Dương, Miwon,…, đến khi bị phát hiện thì việc chế tài chẳng đi đến đâu và cũng chẳng thấm vào đâu, dù các phương tiện truyền thông và người dân đã tạo sức ép rất dữ dội và quyết liệt đối với bộ máy bảo đảm thực thi pháp luật.

Bức xúc vì thiệt hại gây ra cho xã hội quá nặng nề trong khi sự trừng phạt không hề có hoặc không cân xứng, dư luận, thông qua nhiều diễn đàn, đòi hỏi giải quyết thấu đáo vấn đề trách nhiệm của những người giữ vị trí lãnh đạo, then chốt ở các cơ quan, thiết chế được giao chức năng công trong các lĩnh vực.

Ai cũng hiểu rằng trách nhiệm, một khi được quy kết cho người nắm một chức vụ công, trở thành căn cứ để áp dụng chế tài pháp lý; việc chế tài, về phần mình, thường ảnh hưởng bất lợi ít nhiều đến sự thăng tiến và cả việc nắm giữ chức vụ đang có. Chức càng cao, quyền càng to, thì tầm ảnh hưởng của công việc thực hiện càng rộng, sâu, do đó, trách nhiệm càng lớn và chế tài tương ứng cũng nặng nề.

Trong nhiều trường hợp, được ghi nhận chủ yếu ở các nước chậm tiến, những người nắm quyền lực công mà làm bậy đến mức không né tránh được trách nhiệm, thường tìm cách giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của chế tài đối với mình, về phương diện vật chất. Song cả khi ấy, thì sự chế tài cũng là cái gì đó không dễ chịu đựng: dù sao, người bị chế tài cũng là một nhân vật được xã hội biết đến một cách rộng rãi, như là người cổ vũ cho cái tích cực, cái tốt, cái đúng; chế tài, trong điều kiện đó, dễ khiến người ta có cảm giác bẽ bàng, như khi nhìn thấy một chiếc mặt nạ rơi xuống và làm lộ ra khuôn mặt xấu xí, đầy khuyết tật.

Continue reading

ĐI TÌM NGUYÊN NHÂN CỦA THAM NHŨNG

image cuongphamthi@yahoo.com.vn

Tham nhũng là một từ ghép. Tham là tham lam, vơ vét. Nhũng là nhũng nhiễu, hách dịch. Tham nhũng dùng để ám chỉ bọn quan lại triều đình phong kiến ngày xưa, luôn sách nhiễu dân thường để nhận quà cáp, biếu xén. Như vậy có thể thấy tham nhũng chỉ xuất hiện ở những người có thế lực, quyền hành trong xã hội.

Tuy nhiên, ở xã hội phát triển như ngày nay thì tham nhũng bao hàm những nội dung rộng lớn hơn: anh trông giữ xe mà đòi tiền trên mức quy định cũng là tham nhũng; ngồi phòng máy điều hòa trong cơ quan mà chơi game cũng là tham nhũng; bác tài xế xe taxi đi vòng vo để tính tiền khách cũng là tham nhũng; càu nhàu, khó chịu khi giải quyết công việc vì lý do nào đó cũng là tham nhũng…

Như vậy chúng ta có thể thấy Tham nhũng là một căn bệnh cố hữu trong xã hội loài người, nó luôn tiềm ẩn và nằm sâu trong lòng mỗi con người, không riêng gì ở nước ta mà các nước khác trên thế giới đều có tham nhũng. Nhưng về hành vi và mức độ của tham nhũng thì mỗi nơi, mỗi nước có khác nhau.

Tham nhũng, ngoài nguyên nhân chính là con người, còn có sự tác động mạnh mẽ từ xã hội. Chúng ta thử đi tìm nguyên nhân xã hội của tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Theo Chủ nghĩa Duy vật biện chứng thì: “ Vật chất quyết định ý thức”. Dân gian ta có câu: “ Có thực mới vực được đạo”.

Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng: con người từ lúc mới sinh ra cũng cần phải có khăn, tã quấn lại cho ấm, lớn thêm một tý thì có nhu cầu về đồ hàng ( đồ chơi trẻ em), lớn hơn nữa thì sách vở, quần áo mới…đến khi trưởng thành, đi làm thì lo cho cuộc sống tự lập, báo hiếu cha mẹ…khi có gia đình thì lo cho con, cho cháu…đó là chưa kể nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày là điều kiện cần và đủ để cuộc sống có thể tồn tại.

Tất cả, chung quy lại đó là vật chất, được tính bằng tiền.

Ai trong chúng ta, khi trưởng thành và bắt đầu đi làm đều có một mong muốn chân chính nhất đó là: đi làm để có được tiền lương, tiền lương này đủ nuôi sống bản thân và có một ít tích lũy để lo những việc lớn ( như đàn ông có 3 việc lớn là: tậu xe, xây nhà, hỏi vợ). Nhưng ngay từ đầu, cái mong muốn “ chân chính” ấy đã bị “ bôi đen” bởi khi đi xin việc, có nhiều cơ quan, đơn vị, muốn được vào làm thì phải chạy chọt, lo lót bằng tiền.

Continue reading