TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY CÓ BẢO ĐẢM: BẤT THƯỜNG MỘT HỢP ĐỒNG VAY GẦN 90 KG VÀNG

M.T.P

Báo Công an nhân dân vừa nhận được đơn của ông Kha Tú Phi  tố cáo việc ông bị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Chợ Lớn (NHNN&PTNTCNCL) thời ông Trần Văn Tuyến làm Giám đốc đã hù dọa, ép buộc ông phải bán nhà (là tài sản bảo lãnh) thấp hơn giá thị trường khoảng 20 tỷ đồng để trả nợ vay.

Tiếp đến là NHNN&PTNTCNCL lại nhận thế chấp ngay căn nhà mà ông vừa bán để cho vay gần 90kg vàng một cách rất bất thường…

Ông Kha Tú Phi (thường trú tại số nhà 357/47A, Hậu Giang, phường 11, quận 6, TP HCM) là Giám đốc của Công ty TNHH Quế Lâm  đồng thời cùng với vợ là bà Khưu Khoan đồng sở hữu căn nhà 357/47A, đường Hậu Giang, phường 11 (quận 6) có tổng diện tích khuôn viên 3.706,3m2.

Để phục vụ cho công việc kinh doanh, ngày 1/9/2003, vợ chồng ông Phi đã làm thủ tục bảo lãnh cho Công ty Quế Lâm vay 15 tỷ đồng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Chợ Lớn NHNN&PTNTCNCL, thời hạn vay là 5 năm, lãi suất 0,95%/tháng, mỗi năm phải trả vốn 3 tỷ đồng.

Tài sản bảo lãnh gồm căn nhà 357/47A nói trên và 3 căn nhà khác mang số 242, 244 và 244A, đường Phan Văn Khoẻ, phường 15, quận 6.

Sau khi vay tiền, do công việc kinh doanh không được suôn sẻ nên năm đầu tiên ông Phi không có tiền trả vốn 3 tỷ đồng và xin ngân hàng gia hạn 1 năm.

Đến năm thứ hai, mặc dù chưa đến hạn trả nhưng tháng 7/2005, NHNN&PTNTCNCL thông báo cho ông Phi hay, ngân hàng sẽ thanh lý hợp đồng trước thời hạn do ông Phi không có khả năng thanh toán vốn vay và sử dụng vốn vay không đúng mục đích. Đồng thời ngân hàng buộc ông Phi phải trả vốn (15 tỷ đồng) trong vòng 3 tháng nhưng ông Phi không có tiền để trả.

Mặc dù đây chỉ là vụ việc dân sự nhưng NHNN&PTNTCNCL lại gửi đơn đến cơ quan Công an nhờ can thiệp khiến ông Phi vô cùng lo sợ. Từ đó, ngày 18/5/2006, ông nhờ Trung tâm Dịch vụ địa ốc thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam thẩm định giá căn nhà 357/47A Hậu Giang để bán trả nợ vay.

Continue reading

PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HIỆU QUẢ

THS. VŨ ÁNH DƯƠNG (VIAC)

Trọng tài được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp (DN).

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Thống kê cho thấy, kể từ năm 2001 đến nay, trung bình Toà án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã thụ lý hơn 500 vụ việc mỗi năm. Các tổ chức trọng tài quốc tế khác cũng tiếp nhận và giải quyết một số lượng vụ việc tương đối lớn.
Tại Việt Nam, tuy mới được hình thành, nhưng trọng tài cũng được khuyến khích sử dụng trong một loạt các luật như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải… Hiện nay, Việt Nam đã có Pháp lệnh Trọng tài thương mại (ban hành năm 2003) là văn bản quy định khá chi tiết về trọng tài, trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Trọng tài vốn phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các DN. Lợi thế đầu tiên khi DN lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này là thủ tục tố tụng linh hoạt. Đây là một trong những tiêu chí mà các DN thường quan tâm khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp. Luật trọng tài các nước quy định thủ tục tố tụng trọng tài rất đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa thuận của các bên.
Các bên được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình tố tụng và các hội đồng trọng tài có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận của các bên. Ví dụ, các bên có thể quyết định số lượng trọng tài viên của hội đồng trọng tài, cách thức chỉ định trọng tài viên, tiêu chuẩn trọng tài viên, thời gian giải quyết vụ tranh chấp, luật áp dụng, ngôn ngữ, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp…
Bên cạnh đó, tính trung lập, vô tư khách quan và chuyên nghiệp của hội đồng trọng tài cũng là yếu tố quan trọng để DN có thể tin cẩn lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này. Với đặc thù là cơ chế giải quyết tranh chấp tư, thẩm quyền được hình thành dựa trên thỏa thuận của các bên, trọng tài luôn nhấn mạnh các tiêu chí vô tư, khách quan và trình độ của các trọng tài viên. Theo Điều 13 Pháp lệnh Trọng tài thương mại, các trọng tài viên có nghĩa vụ “vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ tranh chấp”.

Continue reading

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TRONG ĐẦU TƯ TỰ DOANH

image LẠI HỒNG VÂN (Dịch theo William D. Bygrave)

Cuốn sách này là tuyển tập những câu chuyện về quá trình khởi nghiệp và phát triển kinh doanh trong những lĩnh vực mới, về các nhà đầu tư tự doanh, những cơ hội và yếu tố cần thiết để họ tạo dựng cơ nghiệp; những ví dụ thực tế nhằm bổ trợ cho cuốn “MBA trong tầm tay – Đầu tư tự doanh” đã được xuất bản tại Việt Nam. Bắt đầu một công việc kinh doanh là cả quá trình tổng thể, chúng ta không thể dễ dàng chia nhỏ thành những nguyên tắc, quy luật quản trị “cổ điển” như trong marketing và tài chính. Tuy nhiên, mỗi câu chuyện trong cuốn sách này đều có trọng tâm của nó.

Cuốn sách này bao quát tất cả những vấn đề về khách hàng, sản phẩm công nghiệp, kinh doanh sản xuất và dịch vụ, công nghệ cũ và công nghệ cao, các nguồn lực tài chính khác nhau bao gồm vốn của bản thân, gia đình, bạn bè, các nhà đầu tư cá nhân, các nhà quản lý vốn đầu tư mạo hiểm, thẻ tín dụng và ngân hàng. Những câu chuyện đều diễn ra vào những năm 90 và liên quan đến từng thời điểm có tính quyết định. Do các sinh viên thường quan tâm đến các nhà đầu tư tự doanh trong những câu chuyện đó nên chúng tôi đã lựa chọn những người mà chúng tôi tin rằng họ chính là những hình mẫu về tư cách đạo đức của đầu tư tư tự doanh.

JOHN ROUGHNEEN

John Roughneen tắt máy tính và nhìn chăm chăm vào chiếc màn hình tối đen, nơi mấy phút trước còn hiển thị menu khởi động Vending Tracker – chương trình chủ lực của Streamline Business Systems. Cuối năm 1991, John cùng cộng sự của mình – Glenn Butler đã sáng lập ra công ty Streamline nhằm mục đích phát triển phần mềm dành cho các nhà điều hành máy bán hàng tự động vừa và nhỏ. Khi đó, hầu hết các ông chủ những doanh nghiệp nhỏ vẫn còn quản lý, lập kế hoạch điều hành và thực hiện các giao dịch kế toán hoàn toàn bằng tay, thậm chí nhiều người còn chưa có lấy một chiếc máy tính cá nhân. Và lúc này đã là đầu năm 1993, sau hơn hai năm phát triển, phiên bản mới nhất của Tracker đã sẵn sàng để ra mắt. Với nhiều chức năng dành cho quản trị hàng tồn kho, kết toán doanh thu và hoa hồng, thực hiện được hơn 40 mẫu báo cáo kế toán và kiểm toán, hệ thống là sự kết hợp của rất nhiều đặc tính được chính những khách hàng tiềm năng và cả những người kinh doanh trong các lĩnh vực khác đưa ra. Điều đó khiến John và Butler tin tưởng rằng họ đã cho ra một sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường ngách đặc biệt này. Tuy nhiên, doanh thu không đáng kể, còn nhiệm vụ đạt được doanh số đủ để thúc đẩy công việc kinh doanh phát triển vẫn là một mục tiêu đầy hứa hẹn song cũng rất khó thực hiện.

Continue reading

QUY ĐỊNH TIÊU CHUẨN, THỦ TỤC BỔ NHIỆM, MIỄN NHIỆM CHỨC DANH GIÁO SƯ, PHÓ GIÁO SƯ (Ban hành kèm theo Quyết định số 174/2008/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Văn bản này quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư.

2. Quy định này được áp dụng đối với nhà giáo đang làm nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ (gọi chung là từ trình độ đại học trở lên) ở các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.

3. Các giáo sư, phó giáo sư đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong, công nhận hoặc bổ nhiệm trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành được tiếp tục giữ chức danh giáo sư, phó giáo sư.

Điều 2. Trong Quy định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Sử dụng thành thạo ngoại ngữ” trong chuyên môn được xác định bởi các nội dung sau (cho cùng một ngoại ngữ):

a. Đọc hiểu được các tài liệu chuyên môn viết bằng ngoại ngữ;

b. Viết được các bài báo chuyên môn bằng ngoại ngữ;

c. Trao đổi (nghe, nói) về chuyên môn bằng ngoại ngữ.

2. “Giao tiếp được bằng tiếng Anh” tức là diễn đạt được những điều muốn trình bày cho người khác hiểu bằng tiếng Anh và hiểu được người khác nói bằng tiếng Anh.

3. Thâm niên đào tạo là thời gian làm nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy từ trình độ đại học trở lên tính theo năm, tháng. Mỗi năm gồm 12 tháng.

Điều 3. Thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư

1. Thủ tục bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư bao gồm việc công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư và việc bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư.

Continue reading

CHỈ THỊ SỐ 190/CT – TTg NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 2008 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ NHÀ, ĐẤT LIÊN QUAN ĐẾN TÔN GIÁO

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, thời gian qua các Bộ, ngành và địa phương đã có nhiều nỗ lực trong công tác tôn giáo và đạt được những kết quả nhất định. Hoạt động tôn giáo cơ bản tuân thủ pháp luật, đa số tín đồ tôn giáo an tâm, phấn khởi, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia xây dựng đất nước. Cùng với quá trình phát triển của đất nước, nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của quần chúng tín đồ ngày càng tăng, trong đó có nhu cầu sử dụng nhà, đất. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, việc quản lý sử dụng nhà, đất nói chung và nhà, đất liên quan đến tôn giáo nói riêng ở nước ta đang đặt ra một số vấn đề cần được điều chỉnh cho phù hợp.

Để việc quản lý, sử dụng nhà, đất liên quan đến tôn giáo được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật và phù hợp tình hình thực tế, góp phần xây dựng và phát triển đất nước, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chấn chỉnh việc quản lý, sử dụng nhà, đất liên quan đến tôn giáo; rà soát quy hoạch tổng thể về quản lý, sử dụng đất và chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề nhà, đất liên quan đến tôn giáo, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích tôn giáo với lợi ích dân tộc.

Việc quản lý, sử dụng nhà, đất liên quan đến tôn giáo phải thực hiện đúng chính sách, pháp luật và theo những nguyên tắc, nội dung sau đây:

1. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng và Nhà nước tôn trọng, bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật và các nhu cầu chính đáng về nhà, đất để phục vụ mục đích tôn giáo của tổ chức, tín đồ tôn giáo.

Continue reading

LỰA CHỌN PHÁT TRIỂN SAU KHI GIA NHẬP WTO VÀ TRONG ĐIỀU KIỆN QUỐC TẾ MỚI

TS. TRƯƠNG CÔNG HÙNG – Giám đốc Dự án Quốc gia Hỗ trợ Thể chế cho Việt Nam, Văn phòng Quốc hội

NGUYỄN THỊ VY – Phó Trưởng Ban Chuyên đề cơ sở Tạp chí Cộng sản

Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được gần hai năm cũng là lúc cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu diễn ra buộc các nhà nghiên cứu phải xem xét đến các vấn đề về thể chế. Nhiều nhà nghiên cứu chiến lược đặt vấn đề về sự cần thiết phải đổi mới nhận thức và điều kiện phát triển trong tình hình mới.

Khi đánh giá về cuộc khủng hoảng hiện nay ở Mỹ và các nước phương Tây, U-ma Hây-kiu (Umair Haque), nhà nghiên cứu chiến lược của Mỹ, đã đề cập tới những thay đổi mang tính thể chế. Ông viết: “Mặc dù đó là một khoảng thời gian kinh hoàng, chán nản và đầy thất vọng – người ta vẫn có thể tìm thấy một tia hy vọng trong cơn khủng hoảng, đó là: nó phụ thuộc vào việc chúng ta tái hình dung, thay đổi quan niệm, và tái sáng tạo chúng…”(1).

Nguyên nhân của khủng hoảng bắt nguồn từ những đầu cơ bong bóng vào thị trường nhà, đất ở Mỹ, nhưng gốc rễ của nó chính là sự bất ổn của các thể chế tài chính – tiền tệ của tư bản chủ nghĩa. Các chương trình tái đầu tư, điều chỉnh tái cơ cấu đã được Mỹ và các nước châu Âu đề ra với những nguồn tiền khổng lồ từ ngân sách nhằm ổn định lại thị trường tài chính thế giới, như Quốc hội Mỹ thông qua giải pháp 700 tỉ USD, Cộng hòa Liên bang Đức chi 600 tỉ ơ-rô. Nhiều nước cũng đang kêu gọi sự giúp đỡ khẩn cấp của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

1. Những thuận lợi và thách thức đối với các nước đang phát triển sau khi gia nhập WTO và trong bối cảnh thế giới năm 2008

Mặc dù quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế thế giới đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, tự do hoá thương mại, tự do hoá tài chính dường như đang tạo ra những cơ hội đầu tư, sản xuất và xuất khẩu to lớn, song các nước đang phát triển không dễ gì đạt được sự phát triển theo cơ cấu kinh tế mà họ mong muốn.

Continue reading