ĐI TÌM LỜI CHÚC ĐẦU NĂM

image PHƯƠNG NAM

Theo tục xưa, những gì xuất hiện vào đầu năm sẽ ảnh hưởng đến cả năm. Vì vậy, trong những ngày đầu xuân thì ai cũng chọn cho mình bộ quần áo “bảnh” nhất, tìm cho được những lời chúc tốt đẹp nhất để gửi đến những người thương yêu, quý trọng. Những lời chúc ấy tập trung chủ yếu vào tuổi thọ, tiền tài, danh vọng, hạnh phúc…Mỗi lời chúc thể hiện một ước mơ và đâu là ước mơ đáng để mơ nhất?

Sống lâu trăm tuổi

Sống lâu trăm tuổi là một ước mơ của người xưa khi tuổi thọ con người chỉ ở khoảng 45 – 50 năm. Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học, tuổi thọ con người đang ngày càng tăng.

Theo quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): dưới 65 được xếp vào “lứa” trung niên, từ 65 đến 74 được gọi là cao tuổi, từ 75 – 90 mới bị gọi là già, còn lão niên phải từ 90-120. Như vậy, có lẽ bài hát “60 năm cuộc đời” của NS Y Vân sẽ phải được điều chỉnh lại! Tuy nhiên, đa số các cụ khi đã thọ lại phát hiện ra rằng, tuổi thọ không phải là tất cả Có ai vui khi thọ đến 100 tuổi trong tư thế… “ngọa triều”? Như vậy, chất lượng sống tốt mới chỉ là “chỉ tiêu” cần “phấn đấu”.

Theo giáo sư Hồng Chiêu Quang, chuyên gia nổi tiếng của Trung Quốc về bệnh tim mạch và sức khỏe người cao tuổi thì những sinh hoạt hằng ngày có khả năng làm chất lượng cuộc sống trở nên kém đi, thậm chí làm người ta đoản thọ. Trong cuốn sách “Hãy là bác sĩ của chính mình”, giáo sư Hồng hướng dẫn: Về ăn uống, hằng ngày, uống một ly sữa bò hay hai ly sữa đậu nành để không thiếu can xi, ăn một lượng chất bột vừa phải từ một đến hai bát cơm (tùy công việc nặng hay nhẹ), 100g thịt hay 200g cá, hoặc 200g đậu phụ, ăn 500g rau xanh và quả chín, không ăn no. Lưu ý ăn các chất có màu: đỏ (cà chua), vàng (cà rốt), xanh (lá chè xanh), trắng (bột yến mạch), đen (nấm mộc nhĩ) để tăng cường hệ miễn dịch, phòng bệnh. Vận động vừa sức tốt nhất là đi bộ, mỗi tuần đi bộ khoảng năm lần, mỗi lần độ 3km, khoảng 30 phút. Đi bộ giúp cơ thể không dự trữ mỡ, máu huyết lưu thông. Nếu lỡ kết tình thâm giao với thuốc lá và rượu thì nên “nói lời chia tay” càng sớm càng tốt.

Continue reading

BÀN VỀ ĐẠO KINH DOANH CỦA NGƯỜI VIỆT

DƯƠNG TRUNG QUỐC

Một quan niệm tương đối hoàn chỉnh về “đạo kinh doanh” chỉ hình thành khi nước Việt Nam đã thực hiện được nền độc lập về chính trị và gắn với tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nhà yêu nước và nhà hoạt động chính trị này vạch ra được một quan niệm khá hoàn chỉnh về con đường phát triển đất nước- kiến tạo một nước Việt Nam hiện đại và đặt Việt Nam

1 – Một chút về lịch sử

Trong từ điển tiếng Việt hiện đại thì “kinh doanh” được định nghĩa là “tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi”. Từ điển hiện đại cũng nhắc đến nội hàm được coi là cổ của từ này, là sự “gây dựng, mở mang thêm (thường nói về đất nước)”. Nghĩa cổ này cũng có thể tìm thấy trong các cuốn từ điển được biên soạn vào những năm 20,30 của thế kỷ trước như “Từ điển Hán-Việt” của Đào Duy Anh hay “Việt Nam từ điển” của Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức…
Điều đó cho thấy, khái niệm “Đạo kinh doanh của người Việt” là một khái niệm mới do thế hệ chúng ta đặt ra. Tuy nhiên, khái niệm này có liên tưởng hay liên hệ đến một khái niệm khác là “Đạo làm giàu” của thế hệ các nhà Duy Tân ở đầu thế kỷ trước, đặc biệt là cụ cử Lương Văn Can mà nhờ trước tác còn để lại mà chúng ta có xu hướng tôn vinh Cụ như vị tổ sư, hay người khởi xướng “Đạo làm giàu”. Đọc kỹ những trước tác phải nói là đầy tính khai sáng của Lương Văn Can không chỉ thấy sự truyền bá những kiến thức mới mẻ về một lĩnh vực đã từng có từ xưa là sự buôn bán…
Giới sử học Việt Nam vẫn cho rằng, xã hội Việt Nam dựa trên nền tảng của một nền kinh tế tiểu nông gắn với cơ cấu làng xã cùng với chính sách có xu hướng ức thương của các nhà nước phong kiến nên khó hình thành một tầng lớp thương nhân lớn, những đại gia tạo thành một thế lực xã hội. Về đại cục điều đó không sai. Ngay những địa điểm được coi là đô hội và buôn bán trù phú nhất như Phố Hiến hay Hội An cũng chỉ là sự bùng phát một thời với những yếu tố ngoại thương của các thương nhân nước ngoài đến tham dự hội chợ theo mùa và cuối cùng tàn lụi.
Nhưng có một phát hiện đáng chú ý liên quan đến một hiện vật nổi tiếng của dòng gốm Chu Đậu tại Bảo tàng Istabul (Thổ Nhĩ Kỳ). Trên chiếc bình cổ vẽ những bông hoa cúc với dây leo rất đẹp có ghi tên người vẽ là Bùi Thị Hy. Sau rất nhiều công phu nghiên cứu người ta đã tìm được một số hiện vật là những sản phẩm gốm có giá trị ở trong nước có dấu tích của nhân vật này… Để rồi mới đây, người ta đã tìm thấy bản sao tấm bia trên mộ chí của bà trong đó ghi tiểu sử của một nhà doanh nghiệp lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV. Nội dung bia cho biết, bà sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc có tài văn chương lại có tài hội họa. Bà kết hôn với một chủ lò gốm ở vùng Chu Đậu, huyện Nam Sách, góp phần cùng chồng mở rộng sản xuất đồ gốm có chất lượng để tiến cống triều đình và xuất sang Trung Hoa, Nhật Bản và một số nước phương Tây. Chồng bà bị chết trong một chuyến đi biển vận chuyển hàng hóa. Bà tái giá với một người chồng họ Đặng rồi trực tiếp đứng ra kinh doanh, trở thành chủ thương đoàn, vượt biển buôn bán với “Tam phiên” (Nhật, Trung Hoa và phương Tây)… Cuối đời bà dành nhiều tiền của làm công đức…

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO CHI TRẢ TIỀN GỬI CHO NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ CHỦ SỞ HỮU: NGÂN HÀNG “TRẢ NHẦM” TIỀN CHO TRỘM, KHÁCH HÀNG CHỈ BIẾT KHÓC?

TUYẾT NHUNG

Sau khi “trả nhầm” tiền cho kẻ đã ăn trộm sổ tiết kiệm và chứng minh thư của người khác rồi giả chữ ký, rút tiền trong sổ, Ngân hàng NN&PTNT chưa biết phải chịu trách nhiệm thế nào đối với khách hàng của mình.

Bị người quen trộm sổ tiết kiệm

Ngày 28/5/2008, chị Nguyễn Thị Mai, quê Bắc Giang, tạm trú tại số nhà 68, tổ 3, làng Thành Công, Ba Đình, Hà Nội, gửi số tiền 626.932.000 đồng tại sở giao dịch số 2 Láng Hạ, Ngân hàng NN&PTNT.
Đến ngày 24/7/2008, chị Mai đã rút ra 350.000.000 đồng, số tiền còn lại trong sổ tiết kiệm là 276.932.000 đồng.
5 tháng sau, ngày 24/12/2008, chị Mai phát hiện ra sổ tiết kiệm bị mất nên vội đến ngân hàng trình báo, thì được nhân viên giao dịch cho biết, tiền trong sổ đã rút sạch từ ngày 11/11/2008.
Quá ngỡ ngàng, chị Mai đã làm đơn với nội dung cam đoan chị không hề rút tiền vào ngày 11/11/2008 và đề nghị ngân hàng làm rõ.

Sau đó ngân hàng đã phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự quản lý kinh tế, Công an Thành phố Hà Nội tiến hành xác minh, bắt kẻ gian đã lấy cắp sổ tiết kiệm và giả mạo chữ ký của chị Mai để rút tiền.
Kẻ trộm được cơ quan công an xác định là Nguyễn Thị Nết (sinh năm 1986), là sinh viên một trường Đại học tại Hà Nội, tạm trú tại phường Thành Công, quận Ba Đình, HN.
Chị Mai cho biết, trước đó Nết và chị Mai ở chung một nhà thuê. Chị Mai ở tầng 5, còn Nết ở tầng 4. Chị Mai coi Nết như chị em gái nên Nết đã có cơ hội để lấy trộm sổ tiết kiệm và chứng minh thư của chị Mai để ra ngân hàng rút tiền.
Theo cơ quan công an, Nết đã mang sổ tiết kiệm và chứng minh thư của chị Mai ra ngân hàng rồi giả chữ ký của chị Mai, rút được số tiền gần 300 triệu đồng trong sổ tiết kiệm.
Theo khai nhận ban đầu của Nết, do biết chị Mai có khoản tiền gửi tiết kiệm, Nết đã vào phòng của chị lấy cuốn sổ tiết kiệm. Sau khi lấy trộm được sổ tiết kiệm và số tiền trên, Nết lập cho mình sổ tiết kiệm 100 triệu đồng và dùng số tiền còn lại ăn chơi, cho người thân vay.
Qua khám xét nơi ở của Nết, cơ quan điều tra đã thu được sổ tiết kiệm của Nết gửi và tiếp tục điều tra vụ việc.

Continue reading

CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. PHAN THANH HÀ

Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động lập pháp là một trong những yêu cầu quan trọng của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Pháp luật cũng như hoạt động lập pháp không có mục đích tự thân mà luôn hướng tới điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm bảo vệ các giá trị xã hội, các chuẩn mực và lợi ích xã hội.

Trên cơ sở đó, pháp luật mới thực sự trở thành công cụ đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển. Có thể nói, trong giai đoạn hội nhập, với điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh dân chủ và phát huy vai trò xã hội của Nhà nước hiện nay, việc tôn trọng và bảo đảm thích đáng những nhân tố làm nên cơ sở xã hội lại càng trở nên bức thiết, góp phần khiến cho hoạt động lập pháp ngày càng chất lượng hơn, làm cho Quốc hội nước ta ngày càng bảo đảm vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở nước ta.

1. Khái niệm cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp

Tư tưởng về những nhân tố làm cơ sở xã hội cho hoạt động lập pháp đã hình thành từ rất sớm[1]. Đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm này, nhưng tựu trung có thể thấy rằng, các tư tưởng có liên quan trong lịch sử luôn xoay quanh việc xem xét pháp luật, hoạt động lập pháp trong những điều kiện nhất định của xã hội. Các nhà tư tưởng đều hướng tới sự đòi hỏi hoạt động lập pháp phải dựa trên những nền tảng kinh tế – xã hội nhất định, tuân theo các quy luật xã hội riêng biệt trong những “điều kiện bên ngoài thích hợp”.

Có thể quan niệm cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp là tổng thể các nhân tố làm nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của hoạt động lập pháp, thể hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau, bảo đảm cho hoạt động lập pháp thể hiện được bản chất và thực hiện đúng chức năng của nó.

Những nhân tố đó thể hiện nhu cầu của xã hội trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội nhất định, nghĩa là, nó giúp xác định những quan hệ xã hội mới nào hiện nay cần sự điều chỉnh của pháp luật, những quan hệ xã hội nào không còn cần đến sự điều chỉnh của pháp luật nữa, hoặc những quan hệ xã hội nào cần có sự thay đổi trong điều chỉnh pháp luật. Sự thể hiện này còn liên quan tới nhu cầu về mức độ điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội (ở tầm Hiến định, luật định hay dưới luật…, ở mức độ hình sự, dân sự hay hành chính…). Cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp còn nói lên được nhu cầu về cách thức điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ xã hội ấy như: ghi nhận (quy định, cho phép, khuyến khích) hoặc ngăn cấm…Dựa trên sự thể hiện đó, mà hoạt động lập pháp xác định được hướng đi cho sự tồn tại, phát triển của mình, thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Bên cạnh đó, bằng việc tạo ra các sản phẩm lập pháp dựa trên sự thể hiện đúng đắn, hợp lý nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội, hoạt động lập pháp tự nó đã thực hiện được chức năng giáo dục ý thức pháp luật đến người dân.

Continue reading