NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC TRONG GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC

image TÔ DIỆU LAN dịch (Theo Harry Murray, Eileen Gillese, Madeline Lennon, Paul Mercer, và Marilyn Robinson)

Những nguyên tắc đạo đức trong giảng dạy đại học được Society for Teaching and Learning in Higher Education (STLHE) xây dựng là một tập hợp những nguyên tắc đạo đức căn bản xác định trách nhiệm nghề nghiệp của các giáo sư đại học trong vai trò giảng viên, được xây dựng dưới dạng những hướng dẫn chung, những tiêu chuẩn lý tưởng, hay những kỳ vọng. Chúng cần phải được xét đến trong khi thiết kế và phân tích công việc giảng dạy, cùng với những điều kiện và hoàn cảnh liên quan khác; những nguyên tắc này không phủ nhận quyền tự do học thuật, mà thay vào đó, nó mô tả những cách khác nhau để thực hành quyền tự do học thuật một cách có trách nhiệm.

Năng lực về nội dung giảng dạy

Giảng viên đại học phải duy trì vốn hiểu biết về nội dung giảng dạy ở tầm mức cao và bảo đảm nội dung khoá học luôn được cập nhật, chính xác, tiêu biểu, và phù hợp với vị trí của khoá học xét trong toàn bộ chương trình học của sinh viên.
Để đạt được năng lực về nội dung giảng dạy, giảng viên phải chủ động cập nhật các lĩnh vực nội dung liên quan đến những khoá học mà mình giảng dạy; nắm được nội dung của các khoá học mà sinh viên phải học trước khi theo học khoá này cũng như các khoá học sử dụng khoá học hiện tại như là yêu cầu tiên quyết; và phải cung cấp một lượng phù hợp những kiến thức tiêu biểu về các chủ đề và quan điểm quan trọng.
Những ví dụ cụ thể về việc không thực hiện nguyên tắc này bao gồm trường hợp giảng viên dạy những môn học mà mình không có đủ nền tảng kiến thức, diễn giải sai các bằng chứng nghiên cứu để ủng hộ một lý thuyết hay một chính sách mà mình tán thành, hay giảng viên chỉ dạy những chủ đề mà mình quan tâm trong khi người đó có trách nhiệm dạy một khoá học làm nền tảng cho những khoá học khác.

Năng lực sư phạm

Giảng viên có năng lực sư phạm là người nắm được các phương pháp hay chiến lược giảng dạy khác nhau khi truyền đạt những mục tiêu của khoá học cho sinh viên, và lựa chọn những phương pháp giảng dạy giúp sinh viên đạt được những mục tiêu của khoá học một cách hiệu quả.

Continue reading

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: SỔ HỘ KHẨU – CHUYỆN NHỎ HÓA TO

SÁU NGHỆ

Bác sỹ Nguyễn Thị Mai lấy chồng năm 1994 và về sống với chồng, sinh con, ở căn nhà số 226 Trần Hưng Đạo (Ninh Kiều, Cần Thơ) liên tục đến nay. Ngày 21/10/2008, mẹ con chị bị xóa tên khỏi hộ khẩu.

Sau đó, người giúp việc cho chị liên tục từ năm 1997 đến nay không được tiếp tục đăng ký tạm trú. Khi quyền cư trú bị xâm phạm, chị Mai gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống.

Sốt sắng cắt hộ khẩu, tạm trú

Khi chị Nguyễn Thị Mai còn nằm trong bụng mẹ thì cha qua đời. Mẹ của chị lúc đó mới 23 tuổi và ở vậy nuôi 3 con thơ. Tuổi nhỏ của chị lớn lên trong thiếu thốn.

Nghèo khó cho chị tính tự lập, chị tốt nghiệp Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, được đào tạo chuyên khoa mắt, sau 8 năm học tập, ra trường năm 1992 và bây giờ là người mổ mắt bằng tia la-de có tiếng.

Tuy nhiên, con đường đến với chuyên khoa yêu thích lại không bằng phẳng. Học xong, về quê hương Cần Thơ, chị không xin được việc làm. Khi chị thi đậu công chức thì được điều về… khoa nội của một bệnh viện tuyến huyện.

Ở đó, một cô y tá có quyền đã đập bàn ra lệnh về chuyên môn cho chị, không chịu được, chị xin nghỉ. Chị làm cho các hãng dược và năm 2001, xin việc ở chuyên khoa mắt một bệnh viện tư nhân tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuần làm việc 5 ngày, cuối tuần về với chồng con ở Cần Thơ.

Chồng của chị là bác sỹ ở một bệnh viện lớn tại Cần Thơ, có phòng mạch ngoài giờ tại nhà riêng số 226, Trần Hưng Đạo (Ninh Kiều, Cần Thơ). Lấy nhau rồi, chị giúp chồng khám bệnh ngoài giờ, sau này làm việc trên thành phố Hồ Chí Minh, cuối tuần về nhà chị vẫn cùng chồng khám bệnh. Cuộc sống hai vợ chồng hạnh phúc, kinh tế ngày càng khá giả.

Continue reading

HAI GƯƠNG MẶT CỦA MỘT CHÍNH SÁCH

image LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ  tịch HĐTV – Công ty Luật BASIC

Chính sách thay đổi nhanh chóng, là một bước tiến đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất, kinh doanh. Nhưng nếu thay đổi đột ngột hoặc nhanh bị phá bỏ, thì lại là tiến một bước mà lùi hai bước.

Năm 2008, trong nước lạm phát tăng cao, thế giới khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, dẫn đến khó khăn đủ đường đối với doanh nghiệp. Lãi suất vay vốn quá cao nhưng cũng không dễ dàng vay được. Giá vật tư nguyên liệu tăng chóng mặt, trong khi đó sức tiêu thụ hàng hoá sụt giảm ghê gớm.

Được thua trên thương trường, trước tiên là do sự xoay xở của doanh nghiệp, sau là phụ thuộc vào sự thuận nghịch của thị trường. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, thì cơ chế quản lý và chính sách thuế má lại mang tính quyết định sống còn. Nếu như cơ chế, chính sách hợp lý hơn, linh hoạt hơn, kịp thời hơn thì đã tránh được nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Tăng giảm giá là điều tất yếu của kinh tế thị trường, nhưng nếu tăng, giảm quá đột ngột thì sẽ phá vỡ mọi sự tính toán, đảo lộn sản xuất, kinh doanh.

Giá xăng dầu sau khi được hứa hẹn giữ vững lại bất ngờ tăng lên từ 31- 44%. Chưa đầy một tháng, hai lần tăng thuế nhập khẩu ôtô với mức tăng đầy “ấn tượng” từ 60% lên 70% rồi 83%. Trần lãi suất cho vay sau nhiều tháng bất động đã bất thình lình tăng lên 37%, rồi lên 60% so với trước đó.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 126/2008/TT-BTC NGÀY 22 THÁNG 12 NĂM 2008 CỦA BỘ TÀI CHÍNH QUY ĐỊNH QUY TẮC, ĐIỀU KHOẢN, BIỂU PHÍ VÀ MỨC TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;

Bộ Tài chính quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới như sau:

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Chủ xe cơ giới, doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tuân thủ các quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Đối tượng áp dụng

2.1. Chủ xe cơ giới tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2.2. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định của pháp luật.

3. Giải thích từ ngữ

3.1. “Doanh nghiệp bảo hiểm” là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm hợp pháp tại Việt Nam và được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

3.2. “Chủ xe cơ giới” (tổ chức, cá nhân) là chủ sở hữu xe cơ giới hoặc được chủ sở hữu xe cơ giới giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp, điều khiển xe cơ giới.

3.3. “Xe cơ giới” bao gồm xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo), xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) có tham gia giao thông.

Continue reading