PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM – QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – KHOA LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

1. Giới thiệu.

2. Quá trình phát triển pháp luật trọng tài ở Việt Nam.

3. Đánh giá Pháp lệnh Trọng tài 2003: Thành tựu và hạn chế.

4. Các vấn đề gây tranh cãi và đề xuất phương án giải quyết trong Dự thảo Luật Trọng tài.

5. Kết luận.

I. Giới thiệu

Hiện nay, Luật Trọng tài đang được soạn thảo và sẽ có hiệu lực vào cuối năm 2010 nếu được Quốc hội thông qua vào kỳ họp mùa thu năm 2009. Theo truyền thống làm luật tại Việt Nam, một Ban Soạn thảo gồm 7 thành viên đã được thành lập. Thành viên của Ban Soạn thảo là các quan chức cao cấp, bao gồm Thứ trưởng các Bộ Tư pháp, Công Thương, Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam [1]. Ban Soạn thảo có trách nhiệm soạn thảo một dự luật với các vấn đề pháp lý quan trọng về trọng tài, lấy ý kiến công chúng và trình Dự thảo cho các Uỷ ban liên quan của Quốc hội trước khi được thảo luận và thông qua tại phiên họp toàn thể của Quốc hội.

Nhằm phục vụ cho công việc của Ban soạn thảo, một nhóm chuyên gia đã được Hội Luật gia Việt Nam thành lập để tiến hành nghiên cứu pháp luật về trọng tài thương mại hiện hành của Việt Nam, thu thập và phân tích kinh nghiệm quốc tế và nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật trọng tài nhằm soạn thảo dự thảo thứ nhất của Luật Trọng tài. Chúng tôi đã thu thập văn bản pháp luật về trọng tài của 80 quốc gia trên thế giới, chúng tôi đã nghiên cứu Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế [2], chúng tôi đã tổ chức ít nhất 5 cuộc hội thảo quốc gia ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố khác để lấy ý kiến các chuyên gia pháp luật và các doanh nhân trên toàn quốc về Dự thảo Luật Trọng tài.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: CÓ GIẤY TỜ HỢP PHÁP, NHƯNG VẪN BỊ TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – HÀ NỘI TƯỚC QUYỀN SỞ HỮU, VÌ SAO?

MINH LÝ

Mua bán hợp pháp, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… nhưng vẫn bị TAND Hai Bà Trưng tước quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất vì cho rằng “không chứng minh được nguồn gốc số tiền mua nhà”, trong khi đó người được công nhận chỉ là người được ủy quyền thanh toán tiền mua nhà đất. Tòa án đã “phớt lờ” nhiều chứng cứ được đưa ra…?

Công nhận quyền sở hữu cho người được ủy quyền

Theo đơn gửi ĐS &PL, vợ chồng bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ và ông Trần Thiện Cường cho biết: ngôi nhà và quyền sử dụng đất tại số 100 Đại Cồ Việt, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội do vợ chồng bà mua của gia đình bà Đào Thị Duyệt. Hợp đồng mua bán được lập ngày 24.4.1995 tại Phòng công chứng nhà nước số 1 Hà Nội. Sau khi mua nhà và quyền sử dụng đất, vợ chồng bà đã cho ông Nguyễn Văn Điền, Giám đốc Công ty TNHH Long Sơn mượn sử dụng.

Năm 2001, vợ chồng bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ đã được UBND thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 185, 1m2 và quyền sở hữu nhà tại số 100 Đại Cồ Việt. Năm 2006, do có nhu cầu sử dụng nhà nên vợ chồng bà Mỹ Lệ đã yêu cầu ông Nguyễn Văn Điền trả lại nhà. Tuy nhiên, ông Điền không trả nhà mà cho rằng, căn nhà và đất này là của ông vì chính ông mới là người trả tiền mua nhà. Trong đơn phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng bà Mỹ Lệ, ông Điền khẳng định, ngôi nhà này ông Điền mới là chủ thực sự, vợ chồng bà Mỹ Lệ chỉ là người được ông Điền nhờ đứng tên. ông Điền viện dẫn một số “nhân chứng, vật chứng” là người môi giới mua bán đất, biên lai trả tiền…

Vợ chồng bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ cũng đưa ra các bằng chứng chứng minh quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, đó là: Hợp đồng mua bán nhà lập tại phòng công chứng. Bên cạnh đó, vợ chồng bà Mỹ Lệ còn có các giấy tờ liên quan khác thể hiện việc quản lý, sử dụng và làm nghĩa vụ của chủ sử dụng đất từ năm 1995, như tờ khai hợp thức nhà đất; đăng ký quyền sử dụng đất và văn bản xác nhận việc sử dụng đất không có tranh chấp của các chủ sử dụng liền kề. Đặc biệt, việc mua bán căn nhà này đã bắt đầu từ năm 1993. Chính ông Cường, chồng bà Lệ đã ký hợp đồng dịch vụ với Công ty kinh doanh và xây dựng nhà để công ty này đứng ra lo thủ tục mua bán. Trong suốt quá trình giao dịch, chỉ có một nội dung liên quan đến ông Điền. Đó là việc ông Cường viết giấy ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Điền đứng ra thanh toán.

Continue reading

TOÀN CẦU HÓA, VẤN ĐỀ GIỚI VÀ VIỆC LÀM TRONG NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

image UNDP VIỆT NAM (NAILA  KABEER – TRẦN THỊ VÂN ANH BIÊN SOẠN)

Nghiên cứu này đề cập đến ý nghĩa của toàn cầu hoá đối với vấn đề giới và đói nghèo trong bối cảnh của Việt Nam. Ngày càng có nhiều lý thuyết về mối quan hệ này do chúng thường diễn ra trong các nước đang, hoặc đã chuyển từ một nền kinh tế thị trường bị quản lý chặt sang tự do hơn. Điểm khác biệt trong bối cảnh của Việt Nam là việc hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế toàn cầu diễn ra như là một khía cạnh của sự thay đổi cơ bản hơn nhiều về chế độ chính sách: quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với vai trò chi phối của Nhà nước trong mọi lĩnh vực của cuộc sống kinh tế, xã hội sang một nền kinh tế chú trọng hơn đến các lực lượng thị trường cả trong và ngoài nước.

Năm 1986, đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế, Việt Nam phát động một chương trình đổi mới kinh tế với mục tiêu tạo ra tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội thông qua việc cải cách hợp tác xã nông nghiệp nhằm tạo thuận lợi cho sản xuất hộ gia đình, mở cửa kinh tế đối với đầu tư và thương mại nước ngoài, tự do hoá giá cả, giảm vai trò của khu vực Nhà nước đi đối với khuyến khích doanh nghiệp tư nhân.

Cuộc cải cách kinh tế đã thu được thành công đáng chú ý. Tốc độ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng từ 2,3% năm 1986 lên mức trung bình 7,6% năm trong giai đoạn 1993-2005. Khu vực công nghiệp chế tạo dẫn đầu về tăng trưởng. Trong 14 năm qua, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của khu vực chế tạo đạt mức trung bình 11% năm, so với 4% trong nông nghiệp và 7% của khu vực dịch vụ.

Xuất khẩu đã tăng nhanh chóng trong giai đoạn này, đạt mức đầy ấn tượng 21% năm trong giai đoạn 1993-2003. Tính đến 2003, kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% GDP. Trong khi hàng xuất khẩu nông sản chiếm đa số trong những năm đầu, thì tính đến 2002 tỉ trọng của nhóm hàng này trong kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đã giảm còn 22%. Đồng thời, tỉ trọng hàng chế tạo đã tăng lên trên 50%. Năm 2004, chỉ riêng dệt may đã chiếm 16% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Continue reading

THANH TOÁN BẰNG VÀNG THEO HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN

NGUYỄN TRUNG LẬP

Ngày nay, việc sử dụng vàng để thanh toán trong các giao dịch mua, bán diễn ra hết sức phổ biến. Tuy nhiên, giá vàng trên thị trường thường xuyên biến động nên việc sử dụng vàng trong thanh toán gặp rất nhiều rủi ro, nhất là các hợp đồng dài hạn. Để hạn chế rủi ro liên quan đến việc thanh toán bằng vàng thì sử dụng Hợp đồng quyền chọn là một trong những giải pháp tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong thanh toán.

Hiện nay, việc sử dụng các công cụ này ở các doanh nghiệp còn chưa phổ biến và cũng chưa có chuẩn mực hướng dẫn cụ thể. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đề xuất một số giải pháp hạch toán liên quan đến việc lựa chọn hợp đồng quyền chọn trong việc thanh toán các giao dịch mua bán bằng vàng.

Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng diễn ra giữa các tổ chức tài chính, hoặc giữa một bên là các tổ chức tài chính và một bên là các doanh nghiệp.

Hợp đồng quyền chọn có hai loại:

– Hợp đồng quyền chọn mua (call option): là thỏa thuận cho phép người mua có quyền mua vàng của các tổ chức tài chính với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.

– Hợp đồng quyền chọn bán (put option): là thỏa thuận cho phép người bán bán vàng cho các tổ chức tài chính với giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.

Hợp đồng quyền chọn có đặc điểm:

– Không bắt buộc các bên phải mua hoặc bán vàng.

– Chỉ quy định quyền mua hay bán, mà không bắt thuộc thực hiện nghĩa vụ của mình.

– Người mua có thể thực hiện quyền hoặc bán quyền cho người khác hay không thực hiện quyền. Để thực hiện quyền này, khi ký kết hợp đồng người mua phải trả quyền phí, giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày định trong hợp đồng là ngày đáo hạn. Tương tự như vậy đối với người bán trong hợp đồng quyền chọn bán.

Continue reading