BÓC TỜ LỊCH CUỐI NĂM

image CHỬ VĂN LONG

Bóc tờ lịch cuối năm lòng tự nhủ – Thế là thời gian lại bắt đầu một chu kỳ mới! Nhưng Thời gian là gì nhỉ? Một cuộn chỉ vô hình, đời này qua đời khác thao mãi không ngừng, khúc lành lặn trơn tru, đoạn rối bòng bong không sao tháo gỡ, cuối cùng, nào ai đã nắm được cái lõi chỉ kia để biết cuộc sống là gì mà con người say mê làm vậy!

Thời gian như cốc nước đầy tạo hóa không ngừng nghiêng rót, mỗi người một cốc cầm tay, kẻ nhấm nháp từng ly, người một hơi dốc cạn; đến khi chiếc cốc tuội khỏi tay mình, kẻ tiếc mãi vị ngọt đầu môi, người thấm nhận tê, cay, đắng đót, chẳng ai biết vị thật cuộc sống là chi, lòng mãi khôn nguôi cơn khát…

Thời gian giống chuyến xe đời, không bến cuối cùng, cũng không nơi xuất phát; người lên xe tìm mơ mộng không đâu, kẻ chất chồng bạc tiền, lợi danh, khư khư ôm giữ… ai cũng ngỡ mình sắp về tới đích, đâu biết cả đời ta chỉ đuổi bắt kiếm tìm, lúc tưởng bàn chân đến được Thiên đường có khi lại là đang rơi xuống nơi địa ngục, còn những vòng quay chiếc xe vô định kia thì vẫn lăn mãi lăn hoài…

Thời gian tựa làn gió thoảng, vừa sớm mai đã lại buổi chiều, một ngày đợi chờ dài dằng dặc, một đời người phút chốc qua nhanh. Lúc thấy thời gian như được nhung lên nóng bỏng bởi những ham muốn dục vọng con người. Lúc lại lạnh tanh như mặt nước ao tù ngưng đọng. Thời gian luôn cứa vào ta chảy máu, rồi lại dịt lành mọi vết thương đau. Nhờ thời gian mà ta thấm nhận được hết vui buồn sự sống, những tình cảm vị tha, những tấm lòng nhân hậu, để biết yêu thương, chung thủy, đợi chờ, sàng lọc lại cho mình những gì là tốt đẹp giữa bao trắng đen, gian dối, lừa lọc… Tiếng nước mới êm dịu làm sao, nhưng mấy ai biết rằng, cái tiếng dịu êm ấy đã gọt, đã bào mòn biết bao đá núi, còn thời gian thì vẫn vẹn nguyên ăm ắp tràn đầy…

Continue reading

ODA VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NHÀ NƯỚC VÀ THỂ CHẾ

NGUYỄN TIẾN LẬP

Sự cố tham nhũng xảy ra vừa qua  ở dự án ODA “Đại lộ Đông –Tây” (thành phố Hồ Chí Minh) đang được điều tra, khiến chúng ta liên tưởng trở lại vụ án tham nhũng và lạm dụng vốn ODA ở “PMU18” hai năm trước. Vẫn là chủ đề liên quan đến chống tham nhũng, nhưng có lẽ tại thời điểm này, từ cả hai phía Chính phủ và xã hội, cần có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề tiếp nhận, quản lý và giám sát sử dụng ODA, một nguồn vốn vô cùng quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Đặt vấn đề

ODA (Viên trợ phát triển chính thức) từ năm 1960 khi được Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) chính thức định nghĩa tới nay đã trở thành một hiện tượng chính trị – kinh tế toàn cầu, một nội dung quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia phát triển phương Tây và các nước đang phát triển. Trước đó, đã có hai trường hợp tài trợ đặc biệt ở cấp độ chính phủ tương tự ODA là việc Hoa Kỳ hỗ trợ tái thiết nước Đức và châu Âu (kế hoạch MARSHALL) và Nhật Bản sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tuy nhiên với ý nghĩa và hiệu quả hoàn toàn khác.

Trong các tuyên bố và cam kết công khai giữa các nhà tài trợ và chính phủ các quốc gia nhận viện trợ, mục đích của ODA thường bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị công hay xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, bản chất sâu sa của các mối quan hệ ODA không đơn giản là sự hỗ trợ một chiều mang tính “thiện chí” như vậy. Ngoài các lợi ích chính trị và kinh tế hai chiều được tính đến (xin không đề cập ở đây), các nhà tài trợ ngày càng quan tâm đến thúc đẩy qúa trình dân chủ hóa, tức vấn đề cải cách nhà nước và thể chế, ở các nước nhận viện trợ. Động cơ của sự quan tâm này, xét trong bối cảnh hiện nay, không còn mang màu sắc đấu tranh về “ý thức hệ” (như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh trước đây), mà xuất phát từ một nhận định khái quát hơn. Đó là “dân chủ hóa” là điều kiện tiên quyết cho việc xóa đói giảm nghèo một cách bền vững, căn bản, đồng thời tạo môi trường quan trọng và cần thiết để bảo đảm ổn định và an ninh toàn cầu.

Hiện tượng tham nhũng và cuộc chiến chống tham nhũng ở các quốc gia tiếp nhận ODA có liên quan gì đến các mục tiêu của ODA nói trên? Trước hết, có thể khẳng định rằng hiện tượng tham nhũng vốn luôn luôn tồn tại. Trong điều kiện của các quốc gia đang chuyển đổi, tham nhũng đã vẫn tồn tại trong thời kỳ của nền kinh tế kế họach hóa tập trung; tuy nhiên khi đó nó không được nhận diện cũng như không có điều kiện phát triển trong bối cảnh một “hệ thống đặc quyền, đặc lợi” dành cho giới cầm quyền đã được pháp chế hóa. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, hệ thống đặc quyền, đặc lợi chính thức và hợp pháp đã bị xóa bỏ, tham nhũng xuất hiện và gia tăng mạnh mẽ. Cuộc chiến chống tham nhũng ở các quốc gia này trên thực tế không thành công, vì suy cho cùng, nó chỉ động chạm đến khía cạnh đạo đức và các hành vi cá nhân (tức lý do thuộc về con người) mà không tấn công vào các khuyết tật hay bất hợp lý của thể chế, bao gồm theo nghĩa rộng hệ thống tổ chức và họat động của bộ máy nhà nước, các nguyên lý của sinh họat chính trị, khung pháp luật và hệ thống thực thi tư pháp. Minh chứng cho nhận định này, người ta có thể dễ dàng so sánh tình trạng tham nhũng giữa các quốc gia có thể chế dân chủ (nơi vẫn còn tham nhũng nhưng rất ít và được kiểm soát) và các quốc gia chưa được dân chủ hóa (nơi hiện tượng tham nhũng đang tràn lan và trở nên không kiểm soát nổi).

Continue reading

ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TRẦN VĂN THỌ

Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh toán quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội.

Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đoạn phát triển sắp tới. Nếu chúng ta muốn giai đoạn sắp tới phải là giai đoạn tăng trưởng bền vững (sustained growth) thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng trưởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay.

Từ thập niên 1980 ở Trung Quốc và Việt Nam và từ thập niên 1990 ở Đông Âu, các nền kinh tế kế hoạch tập trung từng bước chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu thập niên 1990, chiến lược chuyển đổi và các biện pháp cụ thể được Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhiều chuyên gia Mỹ đúc kết thành ba nội dung chính: Tự do hóa (liberalization) các hoạt động kinh tế kể cả ngoại thương; giá cả, hối suất do thị trường tự do quyết định; ổn định hóa (stabilization) kinh tế vĩ mô, giảm chi tiêu Chính phủ; và tư nhân hóa (privatization) doanh nghiệp quốc doanh. Ba biện pháp này được khuyến khích tiến hành đồng loạt trong thời gian ngắn. Các nhà phân tích gọi đây là Đồng thuận Washington (Washington Consensus).
Nếu cải cách theo Đồng thuận Washington là chiến lược cấp tiến có tính cách liệu pháp shock để cứu chữa ngay căn bệnh của thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa thì cải cách của Trung Quốc và Việt Nam có thể được gọi là tiệm tiến (gradualism, incrementalism) hoặc sự tiếp cận hai đường song song (two-track approach). Nghĩa là tùy theo khu vực kinh tế mà áp dụng biện pháp cải cách khác nhau để giữ ổn định chính trị, xã hội và để không ai bị thiệt trong quá trình cải cách (reforms without losers), như vậy tránh được sự chống đối cải cách của thế lực bảo thủ muốn duy trì quyền lợi đã có. Nói cụ thể, ít nhất là trong giai đoạn đầu, không tư nhân hóa doanh nghiệp quốc doanh, thay vào đó đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp phi quốc doanh, kể cả đầu tư từ nước ngoài (FDI).

Continue reading

CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHO KINH TẾ VIỆT NAM TĂNG TRƯỞNG NHANH VÀ BỀN VỮNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

VỤ CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Trong giai đoạn 2008 – 2009 nền kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là diễn biến bất thường của cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng ra toàn cầu làm kinh tế thế giới suy giảm mạnh. Kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn, lạm phát gia tăng làm ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.

Chính vì vậy, ngày 12/01/2009, Viện khoa học Tài chính – Bộ Tài chính đã tổ chức hội thảo “Chính sách, giải pháp đảm bảo cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay”. Bài viết này nêu lên những nét chính được nhiều người quan tâm đó là: (i) hiểu thế nào là chất lượng tăng trưởng; (ii) những hạn chế của mô hình tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay, (iii) những giải pháp khắc phục và bài học kinh nghiệm từ Hàn quốc.

Chất lượng tăng trưởng được hiểu đó là tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn kéo dài trong nhiều năm khoảng 20 năm và tăng trưởng cần phải có đóng góp trực tiếp vào phúc lợi xã hội, cụ thể là phân phối thành quả của phát triển và xoá đói giảm nghèo. Với khái niệm này, cách nhìn nhận về tăng trưởng kinh tế trở nên toàn diện hơn.

Chất lượng tăng trưởng là vấn đề được quan tâm nổi bật và là tâm điểm của chiến lược phát triển bền vững mà các nước phát triển đang theo đuổi. Theo quan điểm tăng trưởng bền vững thì chất lượng tăng trưởng được đánh giá bởi sự phát triển ổn định về kinh tế – xã hội, môi trường trong sạch, nền văn hoá giữ được bản sắc dân tộc và lành mạnh, yếu tố con người được đề cao, quyền dân chủ của công dân được đảm bảo.

Để làm rõ hơn khái niệm này, các diễn giả đã đề cập đến 3 loại mô hình tăng trưởng:

– Mô hình tăng trưởng trì trệ: nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng trong một giai đoạn ngắn nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm dần, dẫn đến trì trệ và khó duy trì tăng trưởng được lâu dài. Mô hình tăng trưởng loại này thường không bền vững. Lý do chính là đầu tư quá thấp vào hình thành các loại tài sản vốn nhất là vào vốn con người và vốn tài nguyên và hiệu quả đầu tư công rất thấp.

Continue reading