CẦN SỚM CẢI CÁCH NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY ĐỂ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU MỚI

image TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Đã từ lâu, trên nhiều diễn đàn – các hội nghị, hội thảo, toạ đàm, các báo, tạp chí liên quan…, nhiều ý kiến cho rằng: cần nhanh chóng chuyển Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam hiện nay thành Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) để đáp ứng kịp xu thế và thực tiễn đổi mới của nền kinh tế thị trường Việt Nam trong hội nhập nói chung và các đối tượng quản lý trong ngành Ngân hàng Việt Nam nói riêng. Vậy NHTƯ là gì? NHNN Việt Nam hiện nay có những điểm khác biệt gì với một NHTƯ? NHNN Việt Nam có thể nhanh chóng chuyển thành NHTƯ Việt Nam được không? Lộ trình nào?… Bài viết này sẽ cố gắng trả lời ngắn nhất có thể được về những câu hỏi trên.

Thế nào là NHTƯ?

Xét trong lịch sử, NHTƯ trên thế giới ra đời từ quá trình sàng lọc các ngân hàng phát hành. Khi ngân hàng phát hành trở thành NHTƯ và thực hiện nghiệp vụ phát hành đều “không được phép tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách của Nhà nước” để bảo vệ giá trị sức mua của đồng tiền. Ngân hàng phát hành cho đến mãi sau này mới có tên gọi là NHTƯ khi mỗi quốc gia chỉ còn duy nhất một ngân hàng phát hành và đảm nhiệm thêm nhiều chức năng mang tính quyền lực nhà nước khác.

NHTƯ ngày nay không chỉ là ngân hàng phát hành, mà còn được luật pháp cho phép có thực quyền lực mang tính Nhà nước để quản trị và điều phối hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng trung gian trên 3 lĩnh vực chính: i) Cung ứng, điều hoà lưu thông tiền tệ (thông qua nhiều công cụ của chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, chính sách ngoại hối…); ii) Tổ chức và kiểm soát mạng lưới thanh toán quốc gia và quốc tế; và iii) Giám sát an toàn hệ thống ngân hàng. Mục tiêu ổn định giá cả thông qua sự ổn định giá trị sức mua của đồng nội tệ trở thành chức năng và là thước đo số một về uy tín và trách nhiệm của hầu hết các NHTƯ trên thế giới.

Quá trình ra đời và phát triển chức năng của ngân hàng phát hành trong lịch sử để trở thành NHTƯ đã và luôn luôn gắn liền với bản chất của tiền phát hành vào lưu thông. Đó là sự “ký phát” trên cơ sở giá trị tự có của ngân hàng phát hành ra nó và/hoặc dựa trên tổng giá trị tài sản của người khác gửi vào ngân hàng đó và do đó, giá trị sức mua của đồng tiền phải luôn luôn được bảo đảm như là sự bảo vệ mang tính nguyên thuỷ về giá trị của cải của chính ngân hàng phát hành và giá trị của cải của người gửi tài sản tại ngân hàng phát hành.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: ỦY BAN CÓ “ĐÁ LỘN SÂN” TÒA ÁN?

LIÊN PHƯƠNG

Theo điều 136 Luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 5 điều 50 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, thì do toà án giải quyết.

Diễn biến sự việc

Đó là quy định của luật pháp khi quy định về vấn đề để giải quyết sự việc tranh chấp đất đai khi đã có chủ quyền đất. Thế nhưng ở huyện Tân Uyên lại không hề giải quyết sự việc theo luật định khi Toà án đã và đang thụ lý giải quyết vụ án, thì UBND tỉnh Bình Dương lại chen ngang ra quyết định (QĐ) giải quyết.

Sự việc bắt nguồn tự sự tranh chấp đất đai giữa bà Nguyễn Thị Thắm (SN 1946, ngụ ấp 4, xã Vĩnh Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) và bà Trần Thị The (SN 1940, ngụ cùng ấp). Nguồn gốc đất trước đây là của ông cố nội hai người với diện tích tổng thể 21.869m2. Sử dụng đến năm 1985, thì bà The bỏ đi sang xã Bình Mỹ, Tân Uyên sinh sống, không canh tác nữa. Bà Thắm tiếp tục sử dụng, canh tác ổn định cho đến nay và hàng năm vẫn làm tròn nghĩa vụ nộp thuế đất đai đầy đủ. Năm 1998, xã kêu gọi tất cả các gia đình tập trung đi kê khai để làm GCNQQSDĐ cho các hộ dân.

Bà Thắm cho biết: “Năm 1998, tôi đi kê khai và được cấp GCNQSDĐ số sổ 01448, 01447 vào các ngày 04-01-1999, 12-01-1999 mà không có sự khiếu nại hay thắc mắc gì (Vì từ trước đó đến nay, gia đình tôi đã sinh sống ổn định trên đất và đóng thuế đất đai đầy đủ). Đến năm 2000, tôi thấy bà The sống bên Bình Mỹ khổ quá mới sai con cháu đến đón bà về nhà tôi ở. Sau đó cất cho bà một căn nhà nhỏ để sống những ngày cuối đời (Vì tôi với bà The là hai chị em họ). Chăm lo cho chị những ngày này cũng là để tình cảm chị em gắn bó hoà thuận hơn. ở với tôi cả hai năm liền, bà The cũng không hề khiếu nại hay phàn nàn gì về đất đai. Thế nhưng sự đời thật trớ trêu, hai năm sau bà The đệ đơn khiếu nại tôi đòi đất và bỏ đi khỏi ngôi nhà mà tôi đã cất cho bà. Tôi rất buồn vì tình cảm chị em đang êm ấm thì xảy ra chuyện tranh chấp đất mà tôi đã ở, sử dụng ổn định và đóng thuế từ nhiều năm nay…!”.

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC CỦA PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ CẦN ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

HOÀNG QUỐC HÙNG – NGUYỄN THẮNG LỢI

Pháp luật về luật sư đã được thay đổi kể từ khi Luật Luật sư có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Vấn đề đặt ra là  sau hơn 02 năm thực hiện Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn cần xem xét, kiểm nghiệm, đối chiếu với thực tiễn để ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này.  Qua công tác thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội (chiếm hơn một nửa tổng số luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trong cả nước), Thanh tra Bộ Tư pháp đã rà soát, sơ kết, đánh giá hiệu quả thực tế của các văn bản pháp luật về luật sư. Để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về luật sư, chúng tôi sẽ đăng nhiều bài viết về vấn đề này để bạn đọc cùng tham khảo.

Vấn đề thứ nhất: Bất cập, vướng mắc và giải pháp cho việc chuyển đổi hình thức hoạt động của văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh sang công ty luật trách nhiệm hữu hạn

          Điểm 3, Mục IV của Thông tư số 02/TT-BTP ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư (sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/TT-BTP) quy định: “Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đăng ký hoạt động theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 muốn chuyển đổi sang hình thức Công ty luật trách nhiệm hữu hạn thì phải chấm dứt hoạt động và làm thủ tục đăng ký hoạt động của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Luật sư. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn được sử dụng tên của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đã chấm dứt hoạt động.”. Vấn đề đặt ra là quy định này có thực sự phù hợp với thực tiễn và có phù hợp với các quy định khác của pháp luật có liên quan hay không? Qua thanh tra, tiếp thu các phản ánh, kiến nghị của các tổ chức hành nghề luật sư cho thấy, các văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh khi làm thủ tục chuyển đổi sang công ty luật trách nhiệm hữu hạn hiện nay đang vấp phải những trở ngại, khó khăn rất lớn.

Continue reading

PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI CÁC QUI ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI: NHỮNG ĐIỂM CÒN BẤT CẬP

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tư pháp

Hình thức và nội dung của Quyết định trọng tài được quy định trong pháp luật trọng tài của mọi quốc gia. Tuy nhiên, cách hiểu và áp dụng các quy định này ở các nước không hoàn toàn đồng nhất. Bài viết dưới đây của tác giả Đặng Hoàng Oanh tập trung bình luận, phân tích các quy định linh hoạt áp dụng cho hình thức và nội dung của Quyết định trọng tài trong pháp luật quốc tế và pháp luật các nước.

Tác giả cũng vận dụng cả lý luận và thực tiễn, bao gồm cả việc viện dẫn các vụ việc điển hình để phân tích, so sánh và chỉ ra những điểm còn bất cập của pháp luật trọng tài Việt Nam về hình thức và nội dung của quyết định trọng tài, đề xuất những kiến nghị để sửa đổi, bổ sung các quy định đó cho thêm tính thực tiễn và khả thi, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế về trọng tài thương mại.  Hy vọng rằng những phân tích và kiến nghị của bài viết này sẽ được cân nhắc, tham khảo trong quá trình xây dựng Luật trọng tài thương mại  của Việt Nam. 

1. Hình thức của Quyết định trọng tài:

Về cơ bản, hình thức của quyết định trọng tài được xác định theo 1) Thoả thuận trọng tài; và 2) Luật áp dụng cho trọng tài (the lex arbitri).  

Khác với pháp luật về trọng tài của nhiều nước, cũng như quy tắc tố tụng trọng tài của nhiều thiết chế trọng tài quốc tế, pháp luật Việt Nam không có một điều nào quy định  về hình thức của quyết định trọng tài. Tuy vậy, các quy định về nội dung của quyết định trọng tài tại Điều 44 Pháp lệnh trọng tài thương mại có thể cho chúng ta lý do để hiểu mặc nhiên rằng hình thức của quyết định trọng tài là bằng văn bản. Khoản 1 Điều 44 quy định “Chữ ký của các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất” hoặc khoản 2 “trường hợp có một trọng tài viên không ký vào quyết định trọng tài …”. Hành vi “ký” ở đây có thể cho chúng ta đương nhiên hiểu rằng quyết định trọng tài phải được lập bằng văn bản.  Quy định này cũng tương tự như quy định của Luật trọng tài của Pháp.[1]  Tuy nhiên, dù sao đi nữa, việc pháp luật của ta không có điều khoản quy định trực tiếp về hình thức của quyết định trọng tài cũng là vấn đề cần cân nhắc, tránh có những sự tuỳ tiện trong giải thích và áp dụng điều khoản này trên thực tế. Cũng cần nhấn mạnh rằng, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước đều đòi hỏi rằng quyết định trọng tài phải được lập thành văn bản và phải có chữ ký của một hay nhiều trọng tài viên. Quy tắc trọng tài UNCITRAL, Điều 32 quy định quyết định trọng tài phải được lập thành văn bản; Quy tắc trọng tài ICSID, tại Điều 47 ; Điều 33 Luật trọng tài Thuỵ sỹ…[2]cũng có quy định tương tự.

Continue reading