MẠN ĐÀM TẬP TỤC TẾT

image_thumb[1][4]BÙI ĐỨC ANH TÚ

Năm nào cũng vậy, sau lễ cúng ông công ông táo, mọi gia đình quét dọn nhà cửa, sắm lễ, treo câu đối, đoàn tụ ăn bữa cơm tất niên để đón năm mới. Tết đến, mọi người chúc nhau mạnh khỏe, may mắn, chúc bạn bè gần xa nhiều tài nhiều lộc. Tất cả những tập quán và phong tục đó đã thành tự nhiên, thành lệ, nên ít người biết đến sự tích, truyền thuyết và nguyên do để tập tục Tết tồn tại đến tận bây giờ.

Truyền thuyết về cúng Táo

Cô con gái út của Ngọc Hoàng vốn hiền lành và hay thương người nghèo, chẳng thế mà người cô yêu chỉ là chàng trai giúp việc bếp núc dưới trần gian. Việc đến tai, Ngọc Hoàng bực tức và đuổi cô con gái xuống trần gian để cùng chịu tội với anh chồng nghèo. Thương con, Vương mẫu nương nương xin Ngọc Hoàng phong cho anh con rể chức “ông táo” và cô con gái đương nhiên trở thành “Bà táo”.

Vốn có lòng trắc ẩn, mỗi lần về trời thăm họ hàng rồi trở lại trần gian Bà Táo đều mang theo nhiều thức ăn và đồ dùng phân phát cho người nghèo. Không ưa gì con rể nghèo túng lại thấy con gái về khuân đồ đi phân phát cho thiên hạ, Ngọc Hoàng liền hạ chiếu mỗi năm chỉ cho con về trời một lần vào đúng ngày 23 tháng Chạp.

Sang năm thứ hai, sắp Tết rồi mà mọi người vẫn đói ăn, ngay cả gia đình ông Táo cũng vậy, đến nỗi không có miếng ăn mang theo trên đường để về trời.

Gặp phụ hoàng, cô thuật lại nỗi thống khổ của trần gian, mong được trời cứu giúp. Ngọc Hoàng không những không đồng tình, còn bắt con gái phải trở về trần gian ngay đêm hôm đó.

Nếu phải đi ngay sẽ không có gì mang về để cứu khổ cứu nạn thiên hạ, cô bèn lấy cớ nấn ná thêm ít ngày, nào là phải quét nhà, nào là phải xay đậu, nào là phải chuẩn bị thịt, gà cho đến tận ngày 30 mới “vác của” trở về trần gian.

Sau một đêm thao thức và đúng vào lúc giao thừa họ vui sướng thắp hương, đốt vàng mã và pháo nghênh đón Bà Táo trở về. Tử đó cứ vào ngày 23 tháng Chạp, người ta lại làm cỗ để tiễn đưa ông Bà Táo về trời.

Continue reading

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI NĂM 2008

NGUYỄN THÚY HƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi so với năm trước… năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt khoảng 65 tỉ USD – mức cao nhất từ trước tới nay. Điều này khẳng định, Việt Nam vẫn là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

1. Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2008, cả nước đã thu hút trên 60 tỉ USD, trong đó cấp mới đạt 59 tỉ USD (1.059 dự án), bằng 82,5% về số dự án và tăng gấp 7 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007; số còn lại là vốn đầu tư tăng thêm của một số dự án mở rộng sản xuất, kinh doanh. Quy mô vốn bình quân đầu tư của một dự án đạt 55,7 triệu USD/dự án thể hiện số lượng dự án có quy mô vốn lớn tăng hơn nhiều so với năm 2007 (12,2 triệu USD/dự án). Điều này thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư nước ta hiện nay. Đây là kết quả đáng khích lệ đối với các nhà hoạch định chính sách FDI, là thành quả của Chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của các cơ quan quản lý hoạt động FDI từ Trung ương đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư – kinh doanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thông thoáng, phù hợp với cam kết quốc tế về giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó còn là sự tích cực, chủ động trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.

2. Môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực. Chính sách phân cấp việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động FDI về địa phương đã tạo thế chủ động và tích cực cho cơ quan quản lý đầu tư các cấp trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư đã đổi mới cả về phương thức lẫn nâng cao chất lượng thông qua nhiều hoạt động, như triển khai thực hiện Quyết định số 109/2007/QĐ-TTg, ngày 17-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007 – 2010; thành lập nhóm hỗ trợ dự án tiềm năng quy mô lớn, ảnh hưởng lớn tới địa phương; ban hành Danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI giai đoạn 2006 – 2010; xuất bản các tài liệu cập nhật, đĩa CD… liên quan tới hoạt động FDI; tổ chức nhiều hội thảo xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước, kết hợp với các chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước; chú trọng hướng thu hút đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia nhằm thu hút các dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu.

Continue reading

DẤU HỎI SAU NHỮNG PHIÊN TÒA?

QUANG TRUNG

Thường xuyên tham dự những phiên toà ở nhiều tỉnh, thành… tôi có cơ hội chứng kiến những điều tưởng không bao giờ có thể xảy ra trong cuộc sống. Vậy mà nó vẫn cứ tiếp diễn như “chuyện hàng ngày ở huyện”. Bên cạnh những việc làm tuy đã cẩn trọng của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có những tình tiết mà khi áp dụng trong quá trình xét xử không khỏi khiến người ta suy ngẫm…

Nghĩa tử, nghĩa tận

Ngay trên đường đi đến trụ sở toà án để tham dự phiên toà, chúng tôi đã phải đặt câu hỏi, vì sao người ta lại có thể lôi nhau ra toà trong những vụ việc như thế. Họ, những người đang sống vì những mâu thuẫn phát sinh ở dương gian mà lôi nhau ra toà chỉ vì một lối đi vào mộ cho người ở… cõi âm. Trong vụ việc này đó lại là một câu chuyện đầy bi kịch. Về khía cạnh pháp lý, Luật đã quy định về việc dành lối đi vào nhà cho những hộ gia đình vì những lý do nào đó mà mất lối đi (vấn đề mất lối đi vào nhà, báo chí cũng đã từng phản ánh). Tuy nhiên cái lối đi, hiểu theo nghĩa đường vào viếng mộ nó lại chưa hề được đề cập trong các văn bản pháp luật bởi dường như nó là chuyện hiển nhiên. ấy vậy mà…

Phiên toà diễn ra giữa những người đang sống, những người đã từng là hàng xóm của nhau. Họ từng là những người đã có lúc “cười tươi, bắt tay chặt” rồi chuyển sang “cười nhạt, bắt tay lỏng” và cuối cùng là… lôi nhau ra toà! Câu chuyện lôi nhau ra toà kể cũng lắm nỗi bi ai. Bên đi kiện là dòng họ Nguyễn, bên bị kiện là các ông bà Hùng, Liễu, Cường. Lý do mà dòng họ Nguyễn phát đơn khởi kiện các ông bà trên là do ở khu vực đất mà các ông bà này đang sinh sống có mộ tổ của dòng họ Nguyễn. Ngôi mộ tổ này đã tồn tại gần 300 năm nay. Gần đây bỗng dưng… mất lối đi vào cúng viếng. Ban đầu, khi chưa xuất hiện mâu thuẫn, mỗi khi cúng giỗ, các thành viên của dòng họ Nguyễn vẫn có lối vào để thăm mộ. Tuy nhiên, khi thấy các nhà ông bà trên xây dựng xung quanh khu vực này, dòng họ Nguyễn đã đến yêu cầu các bên dành cho một lối đi. Thoả thuận miệng là thế, cứ ngỡ mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió.

Continue reading

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: MỘT HỌC SINH GIỎI LỚP NĂM LÀ ĐỐI TƯỢNG THI HÀNH ÁN

NGUYỄN THẮNG – T.H

Một cậu bé là học sinh giỏi lớp năm ở huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu luôn luôn sống trong tâm trạng lo âu vì  là đối tượng  thi hành án của một vụ án dân sự.

Ngày 15/1/2009, ông Hoàng Mạnh Cường, Trưởng Thi hành án huyện Châu Đức, BR-VT cho biết  cơ quan  thi hành án (CQTHA) vẫn đang chờ ý kiến từ cơ quan cấp trên.

CQTHA cũng thi hành biện pháp cưỡng chế buộc bà  Trương Thị Hằng và ông Nguyễn Văn Thái, ngụ xã Xà Bang, Châu Đức BR-VT, giao cháu Hà Nguyễn Nhật Nam, SN 1998 là học sinh giỏi lớp 5 Châu Đức cho bà Hà Thị Thanh Thúy (trú TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) nhưng bà Hằng và ông Thái không chấp hành.

THA phạt hành chính và lập biên bản về việc bà Hằng ông Thái  không thi hành án, gửi Viện Kiển sát và Công an huyện để  giữ nghiêm phép nước. Tuy nhiên ông Cường nói rằng thực tình thì CQ THA không muốn làm.

Được biết chị Hà Thị Thanh Thúy kiện vợ chồng anh Nguyễn Văn Thái- Trương Thị Hằng ra tòa nhằm đòi lại đứa con do chị xin tại Bệnh viện Từ Dũ (TPHCM) năm 1998 để làm con nuôi. Khi xin con, chị Thúy khai sinh cho cháu bé đặt tên là Hà Nguyễn Nhật Nam.

Do điều kiện khó khăn nên chị Thúy đem cháu Nhật Nam gửi cho vợ chồng anh Thái- chị Hằng và hai bên có lập tờ “Đơn xin nhận con nuôi (đỡ đầu)”.

Tờ đơn này có nội dung: Anh Thái, chị Hằng nhận bé Nhật Nam làm con đỡ đầu. Nếu sau này, cô Thúy có cơ hội bảo lãnh bé về nuôi lúc nào, anh Thái – chị Hằng sẵn lòng giao trả lại, không làm khó dễ gì.

Năm 2003, chị Thúy quay lại đòi con nhưng chị Hằng và anh Thái quyết không giao cháu Nam cho chị Thúy. Chị Thúy có đủ giấy tờ nên Tòa án Nhân dân (TAND) Châu Đức, BR-VT, tuyên buộc anh Thái, chị Hằng phải trao trả cháu Nam cho chị  Thúy. Chị Hằng và Thái kháng cáo lên tòa Phúc thẩm TAND tỉnh BR-VT. Tòa phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Hằng, anh Thái.

Theo tòa phúc thẩm: “Điều quan trọng là cháu Nam phải được sống trong sự yêu thương, được lớn lên và phát triển trong môi trường tốt… Cháu Nam vẫn đang được chị Hằng, anh Thái nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, cho đi học. Nếu tách rời cháu Nam mà cứng nhắc về lý thì thật tàn nhẫn, vô tình”.

Continue reading