HƯỚNG DẪN MỚI VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

TUOITREONLINE – Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn vừa có công văn 16.181 hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) để xử lý thời gian quá độ trước và sau 1-1-2009 (chuyển từ pháp lệnh thuế thu nhập với người có thu nhập cao sang Luật thuế TNCN)Theo các chuyên gia thuế, với hướng dẫn này, nhiều cá nhân được lợi như nhận cổ tức, bán căn hộ chung cư nhưng cũng có người không được lợi vì thuế vẫn nộp… như cũ.

Hướng dẫn của Bộ Tài chính

* Cổ tức, tiền lương, tiền thưởng… của cá nhân có nguồn gốc phát sinh từ năm 2008 trở về trước nhưng được chi trả vào năm 2009 thì áp dụng các chính sách thuế của năm phát sinh thu nhập, không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản thu nhập này.

* Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho khoản doanh thu phát sinh trong tháng 12-2008, kê khai vào tháng 1-2009. Đồng thời thực hiện quyết toán thuế (nếu nộp thuế theo kê khai) chung vào năm 2008.

* Cá nhân chuyển nhượng bất động sản (BĐS): chia hai trường hợp.

– Cá nhân chuyển nhượng BĐS đã có hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật trước ngày 31-12-2008 nhưng từ 1-1-2009 chưa nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và chưa hoàn thành thủ tục chuyển nhượng thì cá nhân thực hiện kê khai nộp thuế TNCN.

– Cá nhân chuyển nhượng nhà chung cư: do năm 2008 trở về trước chưa có chính sách động viên về thuế đối với chuyển nhượng nhà chung cư của cá nhân, vì vậy các trường hợp cá nhân đã có hợp đồng chuyển nhượng nhà chung cư và đã thanh toán tiền trước 31-12-2008 thì không thu thuế TNCN.

* Cách chọn phương án tính thuế BĐS: cũng theo công văn này, Bộ Tài chính đã đề nghị cục thuế chỉ đạo cơ quan thuế áp dụng tính thuế theo mức thuế suất 2% tính trên giá chuyển nhượng BĐS.

Trường hợp nếu tính theo mức thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng có số thuế phải nộp cao hơn thì được áp dụng theo mức thuế suất 25% tính trên thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng BĐS (nếu lỗ thì không phải nộp thuế TNCN). Cá nhân áp dụng mức thuế suất 25% khi có đầy đủ hóa đơn, chứng từ để làm căn cứ xác định thu nhập tính thuế từ hoạt động chuyển nhượng BĐS.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: ÁN ĐÃ HỦY SAO VẪN ĐEM RA THI HÀNH?

CAND – Báo CAND và Chuyên đề ANTG đã rất nhiều lần điều tra, phản ánh những dấu hiệu không bình thường của một số thẩm phán cũng như những người liên quan giải quyết vụ án này song rất tiếc rằng đến nay tất cả đều “án binh bất động”…

Đầu năm 2009, bà Dương Thị Bạch Diệp (Giám đốc Công ty TNHH bất động sản Diệp Bạch Dương) có nhận được Công văn số  622/2008/CV-TPT ngày 30/12/2008 của tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân (TAND) tối cao tại TP HCM gửi cho Thi hành án (THA) dân sự TP HCM về việc giải thích bản án phúc thẩm số 409/2007/DSPT ngày 12/12/2007 của tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP HCM. Điều thật lạ lùng là người trực tiếp liên quan đến vụ kỳ án dân sự nhà 36 Nguyễn Thị Diệu (NTD) chính là bà Nguyễn Thị Thanh Tao (trú tại nhà 36 NTD phường 6, quận 3, TP HCM) thì lại không hề hay biết gì!? Người ký công văn này là ông Phạm Hùng Việt, thẩm phán, chủ tọa phiên tòa phúc thẩm (xét xử ngày 12/12/2007) đã cố dùng mọi lý lẽ giải thích bản án theo hướng hoàn toàn có lợi cho ông Lê Hồng Phương mặc dù bản án 409/2007/DSPT do chính ông tuyên đã quá rõ ràng chẳng có gì để mà cơ quan THA phải “xin giải thích”!

Đáng nói hơn là THA dân sự TP HCM đã gởi yêu cầu giải thích bản án từ đầu năm (cụ thể là ngày 30/1/2008) nhưng đến cuối năm thì ông chủ tọa mới có công văn giải thích?! Trong khi đó theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Pháp lệnh THA dân sự chỉ cho phép thời gian là 15 ngày. Để làm rõ hơn công văn “giải thích” của ông Phạm Hùng Việt, Chuyên đề ANTG xin trở lại vụ tranh chấp nhà 36 NTD để bạn đọc hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề…

Bản án phúc thẩm số  409/2007/DSPT đã tuyên: “Một là:  Hủy bỏ các hợp đồng mua bán (HĐMB) nhà ngày 2/9/1990 và ngày 15/9/1999 về việc mua bán nhà 36 NTD giữa bà Nguyễn Thị Thanh Tao với bà Dương Thị Bạch Diệp. Hai là: Hủy bỏ HĐMB ngày 27/8/2000 về việc mua bán căn nhà 36 NTD giữa bà Nguyễn Thị Thanh Tao với vợ chồng ông Lê Hồng Phương, bà Nguyễn Thị Thanh và tờ thỏa thuận ngày 27/8/2000 giữa bà Dương Thị Bạch Diệp với ông Lê Hồng Phương. Ba là: Bác yêu cầu của bà Dương Thị Bạch Diệp, bà Nguyễn Thị Châu Hà, ông Lê Hồng Phương và bà Nguyễn Thị Thanh xin mua căn nhà 36 NTD. Bốn là: Ông Phương được tạm giữ các giấy tờ bản chính có liên quan đến thủ tục hóa giá căn nhà 36 NTD đến khi thi hành xong bản án. Năm là: Bà Nguyễn Thị Thanh Tao phải đền bù cho ông Lê Hồng Phương, bà Nguyễn Thị Thanh 2.096,32 lượng vàng SJC”.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO CÔNG TRÌNH GÂY THIỆT HẠI: DÂN BỊ LÚN NHÀ CHƯA ĐỒNG Ý VỚI CÁCH ĐỀN BÙ CỦA MỎ SẮT TRẠI CAU

PHAN HOẠT

Tại nhà của ông Trịnh Đình Tài (tổ 1, thị trấn Trại Cau, Đồng Hỷ, Thái Nguyên), vết nứt chạy ngang qua làm gần như đã chia đôi cả nhà lẫn sân vườn. Có cảm tưởng như căn nhà có thể đổ ập xuống bất cứ lúc nào… Ông Lê Văn Lương – Tổ trưởng tổ nhân dân số 1 cho biết, hiện nay trong tổ các hộ dân đang rất lo lắng. Đã xuất hiện nhiều người có nhà mà không dám ở…

Như Báo CAND đã phản ánh về vấn đề lún sụt đất gây nứt nhà dân tại tổ 1, thị trấn Trại Cau, Đồng Hỷ, Thái Nguyên do hoạt động khai thác quặng của Mỏ sắt Trại Cau.

Mặc dù, Ban lãnh đạo mỏ sắt Trại Cau khẳng định không hề né tránh vấn đề và muốn sớm giải quyết dứt điểm, nhưng do sự chậm chạp và chưa thống nhất được với nhau giữa các cơ quan chức năng trong việc đưa ra kết luận và phương án hỗ trợ khiến nhiều hộ dân gặp nhiều khó khăn.

Ngày 29/12/2008, mỏ sắt Trại Cau đã tiến hành trả tiền hỗ trợ thiệt hại cho người dân tại trụ sở UBND thị trấn Trại Cau. Tuy nhiên nhiều hộ cho rằng số tiền mà mỏ hỗ trợ là chưa thỏa đáng, vì vậy mà một số hộ vẫn chưa chịu nhận tiền hỗ trợ.

Vẫn đang sống cùng nguy hiểm

Việc lún sụt đất gây nứt nhà dân tại tổ 1, thị trấn Trại Cau được cho là một phần do hoạt động khai thác quặng tại moong Thác Lạc của Mỏ sắt Trại Cau thuộc Công ty Gang thép Thái Nguyên đã diễn ra từ vài năm trước đây.

Tuy nhiên, tác động mạnh khoảng từ đầu năm 2008 trở lại đây. Đặc biệt khoảng 3 tháng trở lại đây, sự lún sụt càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Ban đầu chỉ xảy ra hiện tượng lún sụt đất ngoài ruộng, trong vườn. Sau đó trong khoảng thời điểm tháng 8/2008 đã gây ra nứt nhà. Sau khi có một số đoàn kiểm tra của các cơ quan chức năng tỉnh Thái Nguyên về kiểm tra, Mỏ sắt Trại Cau đã cho người tiến hành khảo sát, đo đạc để tính thiệt hại.

Từ tháng 8 khi khảo sát thì vết nứt trên tường của một vài hộ dân chỉ rộng chừng 1cm, còn lại mới chỉ là những vết rạn.

Continue reading

KHÁI NIỆM LÝ LUẬN

 LƯU HÀ VĨ

Ở tầm khái quát, việc phân loại các khái niệm trong các sách giáo khoa logic hình thức xưa nay thường dừng lại dưới mấy góc độ:

1. Phân loại theo ngoại diên, gồm có:

Khái niệm chung (vô hạn và hữu hạn).

Khái niệm riêng (đơn nhất).

Khái niệm rỗng (trống).

Khái niệm hợp (tập hợp).

2. Phân loại theo nội hàm, gồm có:

Khái niệm cụ thể và khái niệm trừu tượng.

Khái niệm khẳng định (đương) và khái niệm phủ định (âm).

Khái niệm tuyệt đối và khái niệm tương đối.

3. Phân loại dưới góc độ quan hệ giữa các khái niệm, gồm có:

Khái niệm so sánh được.

Khái niệm không so sánh được.

4. Phân loại dưới góc độ phân loại học, gồm có:

Phân loại tự nhiên.

Phân loại bổ trợ (nhân tạo).

Theo chúng tôi, ngoài mấy góc độ phân loại truyền thống này, có thể và cần phải bổ sung vào các sách giáo khoa logic hình thức một góc độ nữa hết sức quan trọng và cần thiết đó là phân loại theo chiều sâu nhận thức với hai cấp độ: khái niệm kinh nghiệm và khái niệm lý luận.

Được biết tác giả Vương Tất Đạt từng bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ triết học về đề tài Vai trò của khái niệm lý luận. Đáng tiếc, không hiểu vì sao tác giả đã không bổ sung vấn đề khái niệm lý luận này vào cuốn sách logic hình thức viết sau khi bảo vệ luận án (Đại học Sư phạm Hà Nội I phát hành tháng 4/1994). Chúng ta đều biết, từ khi khoa học xuất hiện vào khoảng hai nghìn rưởi năm qua, trong tư duy loài người cùng tồn tại hai cấp độ khái niệm để phản ánh các sự vật, hiện tượng với hai tầm nông – sâu khác nhau và không thể nhầm lẫn được – khái niệm kinh nghiệm và khái niệm lý luận.

Trong cuốn logic hình thức của mình (xuất bản 4 lần tại Nxb Chính trị Quốc gia, từ 1996 đến 1999), tôi đã mạnh dạn bổ sung vào phần phân loại khái niệm với sự phân biệt khái quát giữa hai khái niệm này theo chiều sâu nhận thức như sau:

Continue reading

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ KHÁM, CHỮA BỆNH

Phần thứ nhất

ĐẶT VẤN ĐỀ

I. S cn thiết phi đánh giá h thng pháp lut Vit Nam và pháp lut quc tế v khám bnh, cha bnh:

1. Cơ s pháp lý:

Ngày 21/11/2007, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 11/2007/QH12 về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007- 2011), trong đó có Dự án Luật khám bệnh, chữa bệnh. Để có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng Dự án Luật này, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 3/6/2008 (sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2009) thì một trong những yêu cầu phải làm là “Tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến Dự án Luật…Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến Dự án Luật”. Chính vì vậy, để xây dựng Dự án Luật Khám bệnh, khám bệnh, việc đánh giá hệ thống các văn bản hiện hành về khám bệnh, chữa bệnh từ khi Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được ban hành (1989) đến nay và nghiên cứu, tham khảo pháp luật quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh là hết sức cần thiết.

2. Cơ s thc tin:

Pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh- một bộ phận cấu thành của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân – đạo luật đầu tiên về công tác y tế của nước ta được ban hành năm 1989, trên cơ sở các quy định về khám bệnh, chữa bệnh của đạo luật này, hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành tạo thành một hệ thống pháp luật – hành lang pháp lý quan trọng để quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh.

Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển kinh tế – xã hội và sự phát triển của khoa học kỹ thuật y học trong nước và thế giới, đặc biệt là trong tình hình mới hiện nay – thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước đã làm biến đổi và phát sinh nhiều quan hệ xã hội mới đòi hỏi pháp luật phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp để từng bước hài hòa với chuẩn mực của pháp luật quốc tế, đáp ứng với yêu cầu hội nhập.

Continue reading