KHÁI NIỆM “ĐỨC” trong tư tưởng Khổng Tử qua “Luận Ngữ”

NGUYỄN THỊ KIM BÌNH – Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Quan niệm về Đức là cơ sở quan trọng tạo nên tư tưởng đức trị của Khổng Tử. Khổng Tử coi đức là gốc của con người, coi nhược đễ là gốc của đức. Quan niệm về “đức” của Khổng Tử trong “Luận ngữ” rất sâu sắc và phong phú. Đức không chỉ là thiện đức mà chủ yếu là hành động, là lời nói đi đôi với việc làm. Khổng Tử quan niệm đức với tài phải đi đôi với nhau, nhưng đức phải là gốc. Lòng tin yêu thiện đức của con người chính là cơ sở của đường hoàng đức trị Khổng Tử.

1. Đặt vấn đề

Nếu như dưỡng học phương pháp Tây thiên về hướng ngoại, với xu hướng tập trung nghiên cứu thế giới chất để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, thì dưỡng học phương Đông nói chung và Nho học nói riêng thiên về hướng nội, nghiên cứu con người và thế giới nội tâm của con người và từ đó đi đến các vấn đề xã hội. Bởi vậy, không có gì lạ khi ta thấy Nho học xem con người là hạt nhân, là đối tượng để nghiên cứu chủ yếu. Đường hôn “đức trị” của Khổng Tử đã thống trị trong xã hội phong kiến ​​Á Đông hàng vật chất năm lịch sử và tạo nên một hệ thống lớn của văn hoá Á Đông. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong đó có tư tưởng đức giá trị của Nho giáo có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy nội lực của con người Việt Nam để tiến trình cùng thời đại. Đến hiện đại từ truyền thông không thể nghiên cứu và xác định những mục tiêu giá trị thực sự của truyền thông từ góc nhìn hiện đại. Để hiểu rõ tư tưởng đức giá trị của Nho giáo không thể bắt đầu từ những khái niệm cơ bản của nó. Một trong những khái niệm cơ bản làm nền tảng cho đường hoàng “đức trị” của Nho giáo là phạm trù Đức trong tư tưởng Khổng Tử. nghiên cứu và làm rõ những tư tưởng nghiên cứu sâu sắc về Đức của Khổng Tử chính là cơ sở để chúng ta xác định đường lối “đức trị” của Nho giáo.

2. Quan niệm về đức của Khổng Tử

Đọc Luận Ngữ chúng ta thấy hầu như mọi tư tưởng, mọi thảo luận bàn của thầy trò Khổng Tử đều xoay quanh đường lối “Đức trị”, vậy trước hết ta hãy xem Khổng Tử đã quan niệm về “Đức” như thế nào”?

Với Khổng Tử đạo đức là gốc của con người, nói đến con người trước hết là nói đến đạo đức. Đúng như thiên đường “Học Nhi” – sách Luận ngữ đã viết: “Làm người có Nết, đễ thì ít ai mối xúc phạm vi bề trên. Không thích xúc phạm bề mặt mà thích làm loạn thì chưa từng có. Người quân tử chăm sóc chú thích vào việc gốc, gốc mà vững chắc thì đạo đức sinh ra Hiếu, đễ là cái gốc của đức nhân…” [1].

Trước thời Khổng Tử đã xuất hiện khái niệm quân tử. ” Nhưng lúc đó nó ẩn dụ cái địa vị trong xã hội, chứ không trỏ cái sản phẩm tính con người. Người có một phần cao (tối đại đa số ở trong giai cấp quý tộc) cai trị dân, có đức hay không đều gọi là quân tử” [2]. Đến thời mình, Khổng Tử đã đề ra những tiêu chuẩn về tài đức, về tư cách chất để thành người quân tử được nắm quyền dân dân, nhờ đó tiếng quân tử không còn liễu chỉ người cầm quyền như trước nữa, mà chủ yếu là có nghĩa chỉ người có đức dù họ cầm quyền hay không.

Như trên ta thấy, với Khổng Tử, võ, đễ là gốc của đạo đức. Làm người trước hết phải có ý nghĩa, phải đền ơn sinh thành. Chính vì vậy ông táp Tể Dư là bất nhân, bất chấp không nhớ công cha mẹ bồng bế ba năm, mà muốn rút thời gian để tang từ ba năm xuống một năm: “Dư là con bất nhân? Trẻ trẻ sinh ra, sau ba năm cha mẹ mới thôi bồng bế. Dư nó có được cha mẹ bồng bế trong ba năm hay không?” [3]. Khổng Tử đề cao bồi bởi vì làm người phải kính yêu cha mẹ và người thân trong nhà thì mới biết yêu thương người ngoài, yêu thương đồng loại. Và làm người theo Khổng Tử trước hết phải có “đức”, tu dưỡng “đức” rồi mới học văn. Đạo đức quan trọng như vậy, nhưng ai đó là điểm sâu? Hãy xem Khổng Tử trả lời Tử Du hỏi về đạo võ: “Ngày nay người ta cho ngựa là có thể nuôi cha mẹ, nhưng đến chó ngựa kia người ta cũng nuôi, nếu không kính cha mẹ thì còn gì nữa?”[4 ]. Như vậy, theo Khổng Tử, khốn đức không phải chỉ là nuôi dưỡng cha mẹ mà là chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ với sự thành kính, sự yêu thương thật sự.

Mặc dù coi trọng đức như vậy nhưng quan niệm của Khổng Tử không phong, cường hùng, một chiều mà rất đúng mực “Thờ cha mẹ, nên nhỏ nhẹ khuyến khích; nếu thấy cha mẹ không theo ý mình thì vẫn c u ng kính mà không xúc phạm cha mẹ; tuy khó thắng, lo buồn nhưng không được oán hận” [5]. Có thể nói quan niệm này của Khổng Tử nếu đặt trong bối cảnh xã hội hiện đại vị đã thất bại mà vẫn tip lên cho chúng ta nhiều suy nghĩ.

Sau đó, đễ, nói đến “đức” là nói đến tính thiện. Khổng Tử quan niệm: “Bản tính tốt ý phải học tập theo cổ nhân cũng tốt, nhưng không đạt được tính tinh vi của đạo”. Người có “đức”, có tính thiện thì “thấy việc thiện thì thở vàng như ui theo không đáp ứng, thấy việc bất thiện thì nhúng tay vào nước sôi” [6]. Nhưng điều chủ yếu “đức” không phải chỉ thiện đức mà là hành động. Khổng Tử nói: “Biết (đạo lý) không dùng thích nó, thích nó không bằng vui làm theo nó” và “nghe được điều nghĩa mà không làm theo, có lỗi mà không sửa đổi đó là những mối quan hệ của ta”.

Như vậy, đức là lời nói đi đôi với việc làm đúng như Khổng Tử đã nói: “Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà không làm được” và “Người quân tử chậm (thận trọng) về lời nói, mà mau mắn về việc làm”.

Đọc “Luận ngữ”, chúng ta thấy Khổng Tử nói rất nhiều đến “đức”, nhất là “đức” của người cầm quyền. Bài hát đáng chú ý là Khổng Tử quan niệm về “đức” không phải như một cái gì đặc biệt mà là trong sự thống nhất chặt chẽ không tách rời với tri thức, tài năng. Quan niệm này thực sự nhất quán từ Khổng Tử đến các môn đệ của ông. Với Khổng Tử thì “tinh binh mã tăng nhãn thì là người quê mùa; văn nhã cường chất phác thì là người biên soạn sử; văn và chất đều nhau mới là người quân tử” [7]. Là người hết sức coi trọng đạo đức như vậy đương nhiên, trong hoạt động của mình Khổng Tử bao giờ cũng hành xử theo đúng những tiêu chuẩn đạo đức mà ông tôn thờ, coi trọng và ra sức tuyên truyền nó trong xã hội, cho dù đời ông như chúng ta biết hết sức dài đồng, nan đận. Khổng Tử cho rằng: “Người có đức thì không cô độc, tất có người đồng đạo kết nối bạn với mình như ở đâu thì có lân ở đó” [8]. Với ông “sáng được nghệ đạo lý, tối chết cũng được (không hận)”. By như vậy, lẽ sống của Khổng Tử là “để tâm trí vào đạo, giữ phúc đức hạnh, nương theo điều nhân, vui với lục nghệ”. Chính vì thế mà khi gặp nguy ở nước Tống bị quan tư mã là Hoàn Khôi tìm cách hãm hại, Khổng Tử thả tự nhiên nói: “Trời cho ta có sản phẩm đức, Hoàn Khôi làm gì được ta”, hoặc khi ông giảm béo, Tử Lộ xin phép cầu đảo, Khổng Tử nói: “Khâu này cầu đảo từ lâu rồi” (ý nói ăn ở phải đạo thì suy phải cầu đảo). Thế giới mới biết ông tin và coi trọng đạo đức đến mức độ nào.

Điều dễ nhận thấy là tuy Khổng Tử nói nhiều về “đức”, tin vào “đức” và đề cao về “đức” như vậy, nhưng ông cũng nhận thấy rằng, xã hội thời ông đang thiếu “đức” một cách béo . Chính là thực tế xã hội và cuộc sống đã khiến ông phải thả ra những lời khuyên hơn là khám phá: “Ta chưa thấy ai nhược đức bằng nhung sắc”, “Học ba năm mà không có ý cầu lộc lộc, dễ được mấy người?” và “Trung dung là đức cực đẹp vậy. Từ lâu rồi, người ta ít có đức đó”. Ngay đối với lớp học trò được ông đào tạo theo lý tưởng đạo đức của mình, Khổng Tử cũng phải th từ a nhận : “Anh Hồi (Nhan Uyên) xin ba tháng không rời đạo nhân, còn các anh khác chỉ được một ngày , một tháng cũng vậy”. Có lần ông nói với Tử Lộ rằng: “… người biết đạo đức (nghĩa lý) lắm ít”. Sống trong một xã hội vô đạo, bạo loạn như vậy, một xã hội mà đầy rẫy những cảnh phản bạo, bạo bạo, khiêu bôn, đạo đức suy vi, phần nhiều giả dối, nói mà không làm, nhưng Khổng Tử với lòng yêu thương con người thiết kế, vẫn tin ở con người, tin ở học thuyết của mình có thể nghiên cứu cuộc đời. Với ông: “Người ta không thể làm bạn với cầm thú; ta không sống chung với người trong xã hội này thì sống chung với ai? Nếu thiên hạ thịnh trị thì Khâu này cần gì phải đổi nữa?” [9]. Chính là trên cơ sở đó, mà Khổng Tử đã đề xuất đường hoàng “Đức trị” – đường hoàng trị nước bằng đạo đức mang đậm dấu ấn độcg của ông. Nguyễn Hiến Lê rất có lý khi nhận xét rằng: “Khổng Tử là người đầu tiên nói nhiều nhất đến tư cách người cầm quyền, đến hoàng tùng họ phải sửa mình, phải làm hoành cho dân, phải giáo hóa dân gian. Ông không phân tách đạo đức và chính trị, ông đã đạo đức hoá chính trị. Và tất cả các lý lý chính trị của ông bao gồm trong danh từ đức trị, mà danh từ này có nghĩa là dân dân trị, phải dân đức, chứ không bằng bạo lực…” [10].

Thật vậy, Khổng Tử thật sự tin rằng, “Làm chính trị mà dùng đức đức (để cảm hoá dân) thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả (tức thiên hạ hạ về theo) “. Cơ sở tư tưởng “Đức trị” của ông suy đến cùng là lòng thương yêu con người, lòng tin ở bản tính con người có thể cảm hóa được. Ông quan niệm trị dân “cần gì phải dùng biện pháp giết người?… Đức hạnh phúc của người quân tử (người trị dân) như gió, mà đức hạnh của dân như cỏ. Gió mạnh thì cỏ tất tầng xuống” [ 11]. Khổng Tử từng bảo học trò: “Xử kiện thì ta cũng như người khác thôi; phải làm sao (dạy dân phải biết nghĩa phục vụ) cho dân không kiện nhau (thì mới hơn chứ)”.

Đọc “Luận ngữ” chúng ta thấy rõ, trước sau Khổng Tử chỉ tin vào đức chứ không tin vào “hình” bởi “dùng chính lệnh dẫn dắt dân dân, dùng hình phạt để bắt dân vào phép, dân tránh khỏi kiện but không biết hổ dũng. Dùng đạo đức để dẫn dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân biết hổ mà lại theo đường chính”. Tin vào “Đức trị” như vậy và cả đời mơ tình dục đời bằng “Đức trị” như Khổng Tử mà không có bậc vua chúa nào dung nạp. Khổng Tử thật sự tin rằng: nếu có ai dùng ông làm quốc chính” thì một năm kỷ cương đã khá, ba năm sẽ thành công”. Tóm tắt, với Khổng Tử, “Đức trị” có sức mạnh vạn năng. Đó là đường lối “dù không ra lệnh dân cũng theo”, như vua Thuấn chỉ kính râm mát trang ngồi trên ngai, nảy làm gì mà thiên hạ bình bình trị.

3. Kết luận

Quan niệm về đức của Khổng Tử có nhiều ý tưởng sâu sắc và phong phú. Những quan niệm đó có thể hiện thực hóa lòng tốt của con người và tài khoản bồi dưỡng chủ yếu, phát huy đức hạnh của con người. Từ quan niệm về đức Khổng Tử đi sâu bàn luận về nhân, lễ làm cơ sở cho đường hoàng đức trị của mình. Các nhà tư tưởng Nho giáo về sau đều coi tư tưởng về đức của Khổng Tử là nền tảng của đường hoa đức trị. Quan niệm về đức của Khổng Tử không chỉ có ý nghĩa đối với xã hội cổ đại đương thời mà còn có ý nghĩa đối với xã hội ta ngày nay. Trong bối cảnh xã hội đang chịu nhiều tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường hiện nay, rất cần thiết phải trở lại với những giá trị đạo đức truyền thống trong đó có tư tưởng đức giá trị Nho giáo. Quan niệm đức là gốc của con người và thiện đức phải thể hiện ở hành động của Khổng Tử vẫn nguyên giá trị và rất cần được tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong xã hội ta ngày nay.


Tài liệu tham khảo

[1] Doãn Chính (chủ biên), Đại cương học Trung Quốc, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

[2] Đoàn Trung Còn (dịch giả), Tứ Thơ, Luận ngữ, in tại nhà riêng Trí Đức Tòng Thơ, SG, 1950.

[3] Đoàn Trung Còn, Chuyện đức Khổng Tử, NXB Văn hoá Thông tin, 1996.

[4] Quang Đam, Nho giáo xưa và nay, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994.

[5] Nguyễn Hiến Lê (chủ dịch và giới giới), Khổng Tử, NXB Văn hoá, 1991, Tp. Hồ Chí Minh.

[6] Nguyễn Hiến Lê (chủ dịch và giới thiệu), Luận ngữ, NXB Văn học, 1995, Tp. Hồ Chí Minh.

[7] Nguyễn Hiến Lê, Nhà giáo họ Khổng, NXB TP HCM, 1992, Tp. Hồ Chí Minh.

[8] Nguyễn Tài Thư, Nho học và Nho học ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997.


Chú thích:

[1], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11] Nguyễn Hiến Lê (trình dịch và giới thiệu), Luận ngữ, NXB Văn học 1995.

[2], [10] Nguyễn Hiến Lê (chủ dịch và giới giới), Khổng Tử, NXB Văn hoá 1991.


NGUỒN: Tạp chí KHoa học Đại học Đà Nẵng số 19 năm 2007

Leave a Reply

Discover more from THÔNG TIN PHÁP LUẬT DÂN SỰ

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading