QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005

NGUYỄN NGỌC SƠN

Là nội dung cơ bản cấu thành nên địa vị pháp lý của doanh nghiệp, chế định quyền và nghĩa vụ chịu ảnh hưởng từ trình độ phát triển thị trường và nhận thức pháp lý về vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế.

1. Điều kiện cho việc xây dựng chế định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp

Là nội dung cơ bản cấu thành nên địa vị pháp lý của doanh nghiệp, chế định quyền và nghĩa vụ chịu ảnh hưởng từ trình độ phát triển thị trường và nhận thức pháp lý về vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế. Với đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, trong giai đoạn đầu của thị trường Việt Nam, chế định này được xây dựng từ quan niệm về vai trò của từng thành phần kinh tế đối với sự phát triển của thị trường. Vì thế, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác nhau được quy định trong những văn bản pháp luật khác nhau với giới hạn quyền và nghĩa vụ khác nhau. Chế định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 (LDN 2005) được hình thành từ những điều kiện sau:

Thứ nhất, các bộ phận trong cấu trúc của thị trường Việt Nam đã cơ bản được hình thành với diện mạo ổn định và chuyển sang giai đoạn phát triển. Chúng ta không còn loay hoay trong giai đoạn xây dựng các thiết chế của thị trường, mà đã chuyển qua thời kỳ hoàn thiện chúng để phát triển thị trường lành mạnh. Mặt khác, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển, song cũng đặt ra nhiều vấn đề cả về nhận thức lẫn thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết. Trong đó, chúng ta phải công nhận và tôn trọng các nguyên tắc, nguyên lý căn bản đã được thị trường khu vực và thế giới sử dụng. Pháp luật được xem là đại lượng bảo đảm sự cân bằng, lành mạnh, bình đẳng của thị trường. Do đó, những thái độ đối xử phân biệt làm ảnh hưởng đến sự bình đẳng của các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác nhau không được chấp nhận.

Continue reading

VỀ TÍNH XÁC THỰC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

TUẤN ĐẠO THANH

Qua thực tiễn công tác cũng như tham khảo các quy định pháp luật cụ thể về công chứng của một số quốc gia, chúng tôi tạm chia tính xác thực trong hoạt động công chứng ra làm ba cấp độ khác nhau.

Các cấp độ của tính xác thực trong hoạt động công chứng

Qua thực tiễn công tác cũng như tham khảo các quy định pháp luật cụ thể về công chứng của một số quốc gia, chúng tôi tạm chia tính xác thực trong hoạt động công chứng ra làm ba cấp độ khác nhau.

Cấp độ thứ nhất:

Xác định “đúng người”. Đây là yêu cầu quan trọng nhất đối với hoạt động công chứng của bất kỳ một quốc gia nào, dù đó là công chứng hình thức hay là công chứng nội dung. Việc xác định đúng, chính xác người yêu cầu công chứng không những tạo điều kiện cho công chứng viên có thể xác định đúng chủ thể, khách thể của hợp đồng, giao dịch mà còn ngăn ngừa những trường hợp mạo danh, lừa đảo… Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại ba cách để xác định người yêu cầu công chứng. Đó là: (1) Xác định bằng sự nhận biết cá nhân của công chứng viên; (2) Xác định bằng một hoặc hai nhân chứng đáng tin cậy; và (3) Xác định bằng việc kiểm tra các giấy tờ tuỳ thân còn hiệu lực để thay thế cho những chứng cứ thuyết phục.

Continue reading

NGÀY NAY, KHÔNG ĐỔI MỚI NHẬN THỨC CŨNG COI NHƯ MÙ CHỮ

TRƯỜNG GIANG

Trình độ nhận thức thực tế khách quan của con người cũng bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử. Có những điều mà ngày hôm nay cho là chân lý nhưng ngày mai lại bị nghi ngờ, thậm chí bị phủ định do có những phát minh, phát kiến mới, làm thay đổi hiểu biết của con người. Do đó nhận thức của con người phải luôn luôn đổi mới theo sự phát triển của xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển tri thức của loài người.

Nếu học xong mấy năm ở nhà trường ra mà đã thỏa mãn không tự học thêm, không đọc sách báo thường xuyên, không giao tiếp, giao lưu văn hóa với bạn bè thì hiểu biết không những không tăng mà còn mòn mỏi đi rất nhanh. Và chính những điều còn lại trong đầu cũng chưa chắc còn ý nghĩa gì. Một tỷ lệ nhất định trong đó đã trở nên cũ kỹ, lỗi thời.

Chân lý cũng là một phạm trù tương đối. Con người không thích nghi với thời cuộc, không thích nghi với tính biến động của thời đại trí tuệ thì sẽ không làm chủ được bản thân, không hòa hợp được với trào lưu tiến hóa của lịch sử. Vì vậy, không phải không có cơ sở khi nhà văn hóa Alvin Tofler đã nói như khẳng định tại một cuộc hội thảo lớn: Trong thời đại ngày nay, không đổi mới nhận thức coi như mù chữ.

Chân lý vốn giản đơn, nhận ra chân lý lại không đơn giản

Chân lý không gì khác là sự thật, là hiện thực khách quan. Chân lý vốn đơn giản như vậy thôi; chỉ có điều là nó tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người. Nó chỉ bước vào nhận thức con người thông qua một quá trình tư duy nghiêm túc, đúng đắn.

Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH CÁC QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI NĂM 1958

New York, ngày 10 tháng 06 năm 1958

Điều 1.

Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu.

Thuật ngữ “các quyết định trọng tài” bao gồm không chỉ những quyết định ra bởi các Trọng tài viên được chỉ định cho từng vụ mà còn bao gồm những quyết định ra bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên đưa vụ việc ra giải quyết.

Khi ký kết, phê chuẩn, hoặc gia nhập Công ước này, hoặc thông báo phạm vi áp dụng Công ước theo điều X, bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại tuyên bố rằng Quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một Quốc gia thành viên khác mà thôi. Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý/ dù là quan hệ hợp đồng hay không. Được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó.

Điều 2.

Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài. Thuật ngữ “thoả thuận bằng văn bản” bao gồm điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thoả thuận trọng tài được các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH MARAKESH THÀNH LẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI NĂM 1947

Các Bên Ký Kết Hiệp định này,

Thừa nhận rằng tất cả những mối quan hệ của họ trong lĩnh vực kinh tế và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn bảo đảm việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau,

Thừa nhận thêm rằng cần phải có nỗ lực tích cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia đó,

Mong muốn đóng góp vào những mục tiêu này bằng cách tham gia vào những thoả thuận tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân biệt đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế,

Do đó, quyết tâm xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định, và khả thi hơn, bao gồm Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, kết quả của những nỗ lực tự do hoá thương mại từ trước tới nay và toàn bộ kết quả của Vòng Uruguay về Đàm phán Thương mại Đa biên,

Quyết tâm duy trì những nguyên tắc cơ bản và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đang đặt ra cho cơ chế thương mại đa biên này,

Continue reading

TRÍ THỨC VÀ NHẬN THỨC PHÁP QUYỀN

B. A. KISTIAKOVSKI – PHẠM NGUYÊN TRƯỜNG dịch và chú thích

Pháp quyền không thể đặt bên cạnh các giá trị về tinh thần như chân lý khoa học, sự tận thiện về đạo đức hay kinh bổn của tôn giáo. Nó chỉ có ý nghĩa tương đối, nội dung của nó một phần nào đó được quyết định bởi những điều kiện kinh tế và xã hội luôn luôn biến đổi. Ý nghĩa tương đối của pháp quyền đã tạo cớ cho một số lý thuyết gia đánh giá nó quá thấp. Một số người cho rằng pháp luật chỉ có giá trị tối thiểu về đạo đức, một số khác lại cho rằng cưỡng chế, nghĩa là bạo lực, là thành tố không thể tách rời của pháp luật. Nếu đúng là như thế thì chẳng có cơ sở nào để chê trách giới trí thức của chúng ta trong việc coi thường pháp quyền hết. Giới trí thức của chúng ta luôn hướng tới những lý tưởng tuyệt đối và trên đường đi của mình nó có thể bỏ qua cái giá trị thứ cấp này.

Nhưng văn hóa tinh thần bao gồm không chỉ một loại giá trị. Các đặc điểm mang tính hình thức của hoạt động trí tuệ và hoạt động ý chí là thành phần chủ yếu của văn hóa tinh thần. Mà trong các giá trị mang tính hình thức thì pháp luật, một hình thức phát triển hoàn hảo nhất và gần như có thể cảm nhận được một cách cụ thể nhất, đóng vai trò quan trọng nhất. Pháp luật đưa người ta vào khuôn phép nhanh hơn là tư duy lô gich và phương pháp luận hay những biện pháp rèn luyện ý chí một cách có hệ thống khác. Điều quan trọng là, khác với những hệ thống kỷ luật mang tính cá nhân nói trên, pháp luật là hệ thống mang tính xã hội và lại là hệ thống xã hội duy nhất ép người ta vào kỷ luật. Kỷ luật xã hội chỉ có thể được hình thành nhờ pháp luật; xã hội có kỷ cương và xã hội có trật tự pháp luật phát triển là những khái niệm tương đồng.

Nhìn theo cách đó thì nội dung của pháp quyền đã có một ý nghĩa khác. Nội dung chủ yếu và quan trọng nhất của pháp quyền chính là tự do. Nói cho ngay, đấy là tự do ngoại tại, tự do tương đối, được quy định bởi môi trường xã hội. Nhưng tự do nội tại, tự do tinh thần, tự do có tính bền vững hơn, lại chỉ có thể hiện hữu khi có sự hiện hữu của tự do ngoại tại, cái sau là trường học tuyệt vời cho cái trước.

Continue reading

THỦ TỤC VÀ CÁCH THỨC TIẾN HÀNH ĐÌNH CÔNG

ĐỖ NGÂN BÌNH

Hầu hết các cuộc đình công ở nước ta thời gian qua đều rơi vào tình trạng trái pháp luật, mặc dù các cuộc đình công chủ yếu xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của người lao động. Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình trạng này là do pháp luật quy định về trình tự, thủ tục chuẩn bị đình công và cách thức tiến hành đình công phức tạp, thiếu tính khả thi. Do đó, yêu cầu thực tiễn đòi hỏi cần đơn giản hóa trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành đình công nhằm phát huy ý nghĩa tích cực của đình công trong việc giải quyết mâu thuẫn, bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động.

Đình công là hiện tượng mới xuất hiện ở nước ta khi chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đình công đã và đang diễn biến với chiều hướng phức tạp, không những tăng về số lượng mà cũng rất khó giải quyết hậu quả. Đáng chú ý là 100% các cuộc đình công đã xảy ra đều chưa hợp pháp[1]. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là những quy định về thủ tục chuẩn bị và cách thức tiến hành đình công không phù hợp với thực tiễn và ít tính khả thi. Do đó, người lao động khó có thể đảm bảo tính hợp pháp của cuộc đình công và bảo vệ những lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.

1. Nhận thức chung về thủ tục chuẩn bị và cách thức tiến hành đình công

Các quy định về thủ tục chuẩn bị và cách thức tiến hành đình công là một trong những điều kiện xét tính hợp pháp của cuộc đình công. Vấn đề này thông thường có thể được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc được thực hiện theo tập quán đình công ở những nước đã có lịch sử đình công tương đối dài.

Continue reading

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT – CÁCH NHÌN CỦA HÀNH PHÁP

TS. PHẠM TUẤN KHẢI

Nếu nói giải thích pháp luật (legal interpretation) là làm rõ tinh thần, nội dung của một văn bản pháp luật[1] thì việc giải thích phải gắn với thẩm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản. Mặt khác, giải thích pháp luật cũng còn bao hàm việc phải làm rõ các từ ngữ, cách hiểu thống nhất để vận dụng đúng đắn trong khi thi hành pháp luật. ở nước ta, ngoài Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) thì tất cả các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật đều có quyền giải thích pháp luật. Và từ góc độ thực tiễn, có thể khẳng định, các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp cũng có thẩm quyền giải thích pháp luật. Vậy, theo cách nhìn của các nhà hoạch định chính sách (hành pháp), khi nào cần giải thích pháp luật, phạm vi, nguyên tắc và hình thức giải thích pháp luật như thế nào?

1. Hành pháp với giải thích pháp luật

Hành pháp (excutive) một trong ba loại quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của bất cứ nhà nước nào, là sự thể hiện ý chí của Chính phủ trong việc hoạch định chính sách, đề xuất các chủ trương lớn, tạo tiền đề cho lập pháp, tư pháp và bảo đảm việc thực thi pháp luật trong toàn bộ bộ máy nhà nước. Hành pháp có nhiệm vụ riêng, ngoài việc đề xuất chính sách vĩ mô, can thiệp vào đời sống xã hội thông qua các hình thức cưỡng chế, kiểm tra và tài phán, nó còn có nhiệm vụ thiêng liêng cao cả là xây dựng, ban hành pháp luật theo thẩm quyền. Bên cạnh đó, nhiệm vụ xuyên suốt của các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp là xác lập trật tự quản lý (hành chính) từ trung ương đến địa phương, là cầu nối, là thước đo cho việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống xã hội: “không có hành pháp, không thể xác định được hiệu quả của việc thực hiện pháp luật”[2].

Continue reading

ĐỊA VỊ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CÁC CUỘC ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

LƯU HƯƠNG LY

Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong tất cả các điều khoản gia nhập WTO, có một cam kết ít được bàn luận nhưng lại có vị trí rất quan trọng, đó là việc Việt Nam chấp nhận bị coi là một nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm, kể từ khi gia nhập (không muộn hơn năm 2019). Vậy “nền kinh tế phi thị trường” nghĩa là gì và việc chúng ta cam kết như vậy sẽ có những tác động như thế nào đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là trong các cuộc điều tra chống bán phá giá? Bước đầu, xin được làm rõ vấn đề trên.

Nền kinh tế phi thị trường – hay còn được gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung – là tên gọi được dùng đến cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 cho nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm thông thường do một cơ quan giống như ủy ban kế hoạch Nhà nước soạn thảo. Đa số các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung nay đã chuyển thành nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình hướng tới mục tiêu đó.

Hiện nay, trong WTO chỉ có hai thành viên cam kết về địa vị nền kinh tế phi thị trường là Việt Nam và Trung Quốc. Trong Báo cáo về việc gia nhập WTO có đoạn: “Một số thành viên ghi nhận Việt Nam đã liên tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Những thành viên này cũng ghi nhận rằng, sẽ gặp những khó khăn đặc thù trong việc xác định chi phí và giá cả hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong các cuộc điều tra chống bán phá giá hay áp dụng các biện pháp đối kháng. Những thành viên này cho rằng, trong trường hợp đó nước nhập khẩu có thể nhận định rằng việc sử dụng chi phí và giá cả tại Việt Nam có thể sẽ không hợp lý”[2].

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC NA UY VỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Na Uy (sau đây gọi là “các Bên ký kết”),

Với mong muốn phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước nhằm bảo đảm việc thực hiện tốt hơn các quy định về di chuyển của cá nhân;

Nhận thức nhu cầu đấu tranh chống di cư bất hợp pháp và để tạo thuận lợi cho việc nhận trở lại, trên cơ sở có đi có lại, những người nhập cảnh và cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ của mỗi Bên ký kết;

Phù hợp với các điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên;

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục đích của Hiệp định này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “Thị thực” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và lưu trú trên lãnh thổ nước mình liên tục trong một thời gian được xác định theo pháp luật áp dụng tại nước đó.

b) “Giấy phép cư trú” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và cư trú nhiều lần trên lãnh thổ nước đó. Giấy phép cư trú không phải là thị thực và không được xem là giấy phép cư trú tạm thời cấp cho người đang chờ xét duyệt đơn xin tỵ nạn hoặc đang chờ thủ tục trục xuất cho phép người đó được lưu trú trên lãnh thổ một Bên ký kết.

c) “Yêu cầu” là văn bản chính thức của Bên ký kết yêu cầu gửi cho Bên ký kết được yêu cầu đề nghị nhận trở lại đối tượng.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ LAO ĐỘNG: MỘT ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT THEO HƯỚNG CHO PHÉP

PHAN HUY HỒNG – NGÔ THỊ THU

Các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin về sự xuất hiện hoạt động cho thuê lao động từ khoảng cuối năm 2001. Theo đó, một số doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động, cho các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động thuê lại người lao động đó trên cơ sở hợp đồng cung ứng lao động thời vụ hoặc tương tự[1]. Hoạt động này gây rất nhiều phản ứng khác nhau từ phía doanh nghiệp, từ các cơ quan quản lý.

Tuy nhiên, dù thế nào thì nó vẫn diễn ra trên thực tế và đòi hỏi cần có một phân tích tỉnh táo các khía cạnh kinh tế, pháp lý của hoạt động cho thuê lao động, làm cơ sở cho một chính sách pháp luật phù hợp với nhu cầu của hoạt động kinh tế, đồng thời đảm bảo lợi ích của các chủ thể tham gia, đặc biệt là của người lao động.

1. Nhận diện hoạt động cho thuê lao động

Có nhiều chủ thể khác nhau tham gia vào các hoạt động đa dạng làm cầu nối giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), như: các hoạt động giới thiệu việc làm do các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức như hội chợ việc làm hay sàn giao dịch việc làm[2]. Ngoài ra còn có hoạt động của các Trung tâm giới thiệu việc làm là các đơn vị sự nghiệp có thu ở các địa phương[3]. Hoạt động của các Trung tâm giới thiệu việc làm được coi thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội, mặc dù là hoạt động có thu, nhưng như vậy là phi lợi nhuận.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀCHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XLÔ-VA-KI-AVỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN CỦA HAI NƯỚC

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa X-lô-va-ki-a, (Sau đây gọi là các Bên ký kết),

Mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước,

Mong muốn hợp tác, trên cơ sở có đi có lại để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc nhận trở lại những công dân cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia của Bên ký kết kia,

Cố gắng ngăn ngừa tình trạng di cư bất hợp pháp,

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1

Phù hợp với các quy định của Hiệp định này, theo yêu cầu của một Bên ký kết, Bên ký kết kia nhận trở lại công dân của mình nếu người này không hoặc không còn đáp ứng các quy định pháp luật về nhập cảnh hoặc cư trú trên lãnh thổ của nước Bên ký kết yêu cầu (sau đây gọi là "người trở về").

Điều 2

1. Phù hợp với các quy định tại Điều 1, mỗi Bên ký kết sẽ nhận trở lại, sau khi xác minh người trở về đáp ứng các điều kiện sau:

(a) Có quốc tịch của nước Bên ký kết được yêu cầu, không đồng thời có quốc tịch của nước Bên ký kết yêu cầu hoặc quốc tịch của bất kỳ nước nào khác;

Continue reading

QUAN HỆ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG VÀ BẢO HIỂM VIỆT NAM – HOA KỲ

TS. NGUYỄN MINH PHONG

1. Khái quát chung

Quan hệ kinh tế – tài chính Việt Nam – Hoa Kỳ đã trải qua những thời khắc và sự kiện đặc biệt.

Cho đến nay, hai nước đã ký kết một số Hiệp định, Thoả thuận về kinh tế như Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả (ngày 27/6/1997), Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Mỹ (HĐTM)(1), Hiệp định Hợp tác về khoa học và công nghệ (2), Hiệp định Dệt -may (có hiệu lực từ 1/5/2003), Hiệp định Hàng không (3); Hiệp định khung hợp tác về kinh tế và kỹ thuật (có hiệu lực từ 28/7/2005), Bản Ghi nhớ hợp tác về Nông nghiệp (4)… Hai nước đã ký kết nhiều văn bản về hợp tác trong các lĩnh vực khác, như Tuyên bố chung về hợp tác y tế giữa hai Bộ Y tế (12/1997), Thoả thuận hợp tác về thể dục thể thao (tháng 3/1999), Bản ghi nhớ về hợp tác lao động Việt Nam -Mỹ (11/2000), Bản Ghi nhớ về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực Khí tượng Thuỷ văn (1/2001), Biên bản Ghi nhớ giúp đào tạo nhân lực cho ngành Thuỷ sản Việt Nam (11/3/2003), Hiệp định hợp tác y tế và khoa học y học Việt Nam -Mỹ (7/2006)… Năm 2003, hai nước đã ký kết Nguyên tắc hợp tác trong việc thực hiện Đề án Quỹ giáo dục của Mỹ dành cho Việt Nam (VEF), cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Mỹ đào tạo về các ngành khoa học, công nghệ. Ngày 23/6/2004, Tổng thống Mỹ G.Bush tuyên bố đưa Việt Nam vào danh sách 15 nước ưu tiên trong Kế hoạch Viện trợ khẩn cấp về phòng chống HIV /AIDS. Mỹ cũng hợp tác tích cực và tài trợ cho Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống đại dịch cúm gia cầm…

Kể từ khi HĐTM có hiệu lực đến nay, quan hệ buôn bán giữa hai nước tăng nhanh: kim ngạch buôn bán 2 chiều năm 2005 đạt 7, 8 tỉ USD, tăng gấp hơn 5 lần năm 2001 (1, 5 tỉ USD); năm 2006 đạt 9, 7 tỷ USD, trong đó Việt Nam nhập 1, 1 tỷ và xuất 8, 6 tỷ (Việt Nam luôn xuất siêu lớn sang Mỹ). Hiện Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt – Mỹ năm 2008 đạt 15, 2 tỉ đô la, gấp hơn 10 lần so với năm 2001. Theo đó, Mỹ đã trở thành đối tác thương mại số một của Việt Nam. Việt Nam là một trong những thị trường phát triển nhanh nhất của Hoa Kỳ ở khu vực châu á. Đồng thời, Hoa Kỳ đã trở thành nước thứ 2 (sau Trung Quốc) về số lượng khách du lịch vào Việt Nam. Đường bay thẳng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vừa được nối lại sau 30 năm gián đoạn.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG DO SÚC VẬT GÂY THIỆT HẠI: CHO CẮN NGƯỜI, BỒI THƯỜNG SỢ … THIỆT

HỒNG TÚ

Vốn không ưa gì nhau, khi một bên bị chó hàng xóm cắn, hai nhà đã nhất quyết hơn thua rồi dẫn nhau ra tòa. TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) đang thụ lý một vụ tranh chấp khá ngộ nghĩnh: Bà NTN đã kiện bà NTMH – hàng xóm ra tòa đòi bồi thường… gần 500 ngàn đồng tiền thuốc chích ngừa do bị chó nhà bà H. cắn.

“Bán” láng giềng gần…

Nhà bà N. và nhà bà H. vốn là hàng xóm láng giềng lâu năm ở phường 24. Giữa hai nhà có chung cái sân phía trước. Một lần bà N. kê chậu kiểng của nhà mình sát với ranh giới chung của sân thì bà H. không đồng ý. Thế là mâu thuẫn tích tụ, hai bên thường xuyên nảy sinh hiềm khích từ những việc cỏn con.

Chiều 4-2-2008, bà N. đi làm về thì thấy có một đống rác từ trên trời rơi xuống chắn lối đi vào nhà. Chậu cây kiểng nhà bà kê sát ranh giới chung với nhà bà H. cũng không còn ở vị trí cũ nữa. Bà N. liền dắt xe vào nhà rồi quay ra kê lại chậu kiểng vào chỗ cũ. Lúc này, bà H. đang ở trong nhà thấy vậy chạy tới ngăn cản, hất bể chậu kiểng của bà N. Bà N. phản ứng lại, hai bên to tiếng chửi nhau và con chó của bà H. từ trong nhà đã nhảy xổ ra cắn bà N.

Cùng lúc đó, chồng của hai bà cũng chạy ra bênh vợ. Chồng bà H. định dùng cây hành hung chồng bà N. nhưng nhờ hàng xóm can ngăn kịp thời nên xô xát đã không xảy ra.

Nhất quyết hơn thua!

Sau đó, bà N. ra Trung tâm Y tế quận Bình Thạnh chích ngừa dại hết 465 ngàn đồng. Quay về, bà yêu cầu bà H. phải bồi thường tiền thuốc. Theo bà, bà H. có lỗi khi không đeo rọ, khớp miệng cho chó. Bà không vào nhà bà H. mà chỉ đứng ở ngoài sân, con chó bà H. từ trong nhà lao ra cắn bậy thì chủ nó phải bồi thường cho bà.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN VỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thụy Điển (sau đây gọi là “các Bên ký kết”),

Với mong muốn phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước nhằm bảo đảm việc thực hiện tốt hơn các quy định về di chuyển của cá nhân,

Nhận thức nhu cầu đấu tranh chống di cư bất hợp pháp và để tạo thuận lợi cho việc nhận trở lại, trên cơ sở có đi có lại, những người nhập cảnh và cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ của mỗi Bên ký kết,

Phù hợp với các điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên,

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục đích của Hiệp định này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “Thị thực” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và lưu trú trên lãnh thổ nước mình liên tục trong một thời gian được xác định theo luật pháp áp dụng tại nước đó;

b) “Giấy phép cư trú” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và cư trú nhiều lần trên lãnh thổ nước đó. Giấy phép cư trú không phải là thị thực và không được xem là giấy phép cư trú tạm thời cấp cho người đang chờ xét duyệt đơn xin tỵ nạn hoặc đang chờ thủ tục trục xuất cho phép người đó được lưu trú trên lãnh thổ một Bên ký kết;

c) “Yêu cầu” là văn bản chính thức của Bên ký kết yêu cầu gửi cho Bên ký kết được yêu cầu đề nghị nhận trở lại một người;

Continue reading

RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN CHỦ ĐỘNG HAY THEO ĐƠN YÊU CẦU ĐỐI VỚI KHOẢN LỆ PHÍ TOÀ ÁN

THS. CÙ HOÀNG HANH – Thi hành án dân sự huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự năm 2008 ra đời đã bổ sung nhiều điểm mới quan trọng từ công tác tổ chức cán bộ đến quy trình, thủ tục thi hành án, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi đặt ra ngày càng cao của công tác thi hành án dân sự trong tình hình mới. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã có hiệu lực thi hành gần được một tháng rồi nhưng các văn bản hướng dẫn Luật thì chưa có, bên cạnh đó có nhiều quy định về thủ tục thi hành án cần được giải thích thì mới có thể áp dụng được. Dưới đây tôi xin được đề cập một trường hợp cụ thể như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Pháp lệnh án phí, lệ phí của Toà án ngày 27/2/2009 thì Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thu các khoản lệ phí Toà án sau:

1. Lệ phí giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

3. Lệ phí xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

4. Kháng cáo quyết định của Tòa án đối với yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 43 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án, nếu yêu cầu kháng cáo của họ không được chấp nhận (điểm d khoản 1 Điều 43).

Tuy nhiên căn cứ vào Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự không biết mình có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với khoản lệ phí Toà án hay không? Nếu có thì ra quyết định chủ động hay theo đơn yêu cầu. Đây cũng là vấn đền hiện nay đang có hai quan điểm khác nhau.

Continue reading

TÒA ÁN VÀ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP

TS. PHẠM VĂN HÙNG

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án.

1. Khái niệm, phạm vi cải cách tư pháp

Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, cải cách tư pháp luôn được hiểu với ý nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới có ích cho việc xây dựng nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nếu không đạt được ý nghĩa này, cải cách tư pháp sẽ bị coi là thất bại. Có thể xem việc cải cách tư pháp năm 1950 là một minh chứng. Thời kỳ đó, Bộ Tư pháp đã trình lên Chủ tịch Hồ Chí Minh dự án Sắc lệnh Cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng với những mục đích rất rõ ràng là bộ máy tư pháp cần được “dân chủ hoá”, “để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được hợp lý và giản dị hơn”[1]. Với ý nghĩa đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tư pháp non trẻ của nước ta. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết 49). Mục đích của việc xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp nhằm “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, hiện đại, bảo vệ công lý”. Tuy nhiên, trong điều kiện mới, để thể chế thành pháp luật theo các định hướng của Đảng, vấn đề đặt ra là cần có sự nhận thức thống nhất về khái niệm cơ quan tư pháp. Vì chỉ có thể xác định đúng đắn phạm vi cải cách tư pháp khi có sự nhận thức thống nhất về cơ quan tư pháp.

Continue reading

NHẬN DIỆN ĐÚNG VẤN ĐỀ VÀ TÌM GIẢI PHÁP PHÙ HỢP

HUY NAM

Từ những vấn đề cụ thể minh chứng sự khác biệt của tác động từ khủng hoảng kinh tế lên nền kinh tế các nước trên thế giới và Việt Nam (xem TBKTSG số 27 và số 28 năm 2009), tác giả đề xuất cách tìm biện pháp ứng phó phù hợp với tình hình.

Với kinh tế trong nước, trước tiên cần xác định, tình trạng suy thoái kinh tế tại Việt Nam là do bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và khủng hoảng kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, cần nhận rõ một sự thật rằng khủng hoảng có thể là của thế giới nhưng vấn đề thì của riêng mỗi nước. Và điều gì gọi là kinh nghiệm tại Mỹ chỉ có thể là bài học chung về kinh tế khủng hoảng, chứ không thể (không nên) bê nguyên xi về làm “bài học kinh nghiệm” cho Việt Nam.

Do không có vấn đề chung nên việc đi tìm lời giải, đưa ra giải pháp hay các biện pháp ứng phó sẽ cần dựa trên thực tế. Chẳng hạn, trong khi thanh khoản là một trong các vấn đề gay gắt của Mỹ và nhiều nước phương Tây trong quá trình khủng hoảng toàn cầu, thì ở Việt Nam vấn đề này diễn ra nhanh, mang tính cục bộ xảy ra trước thời điểm được ghi nhận khủng hoảng toàn cầu (trước tháng 9-2008).

Hoặc, cũng gọi là thất nghiệp, nhưng cách giải quyết có hiệu quả của Việt Nam có thể không phải là (hay không chỉ có) trợ cấp hay lệ thuộc ở nguồn cung việc làm mới mà là các biện pháp phát triển kinh tế nông thôn và khuyến khích hoạt động kinh tế gia đình.

Continue reading

VIỆT NAM ĐANG HƯỚNG HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI NĂNG ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ

TS. ĐÀM HỮU ĐẮC – Thứ trưởng Thường trực Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Diễn đàn An sinh xã hội thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Mát-xcơ-va năm 2007. Tham dự diễn đàn này có gần 1300 đại biểu của các tổ chức an sinh xã hội đến từ 129 quốc gia. Hiệp hội An sinh xã hội thế giới (ISSA) ra đời năm 1927, được tổ chức tại Bra-xin với sự tham gia của 17 tổ chức đại diện cho 20 triệu đối tượng từ nhiều nước trên thế giới.

82 năm qua, từ một tổ chức nhỏ đại diện cho các liên đoàn quốc gia của các quỹ bảo hiểm ốm đau của 9 nước châu Âu, ISSA đã trở thành một đối tác có tầm ảnh hưởng quan trọng và có vị thế lớn trên các diễn đàn và hợp tác quốc tế, đại diện cho hàng triệu đối tượng được bảo hiểm và bảo trợ trong mọi lĩnh vực của hệ thống an sinh xã hội.

Cùng với thời gian, ISSA đã chứng tỏ được sự lớn mạnh và hoạt động của mình trong lĩnh vực vận động xã hội, và tăng cường kiến thức về tầm quan trọng sống còn của an sinh xã hội trong các nền kinh tế đương đại. ISSA giờ đây đã là tổ chức hàng đầu thế giới chuyên về tập hợp các ý tưởng và kiến thức chuyên môn liên quan đến các vấn đề an sinh xã hội. Hiệp hội thường xuyên xây dựng các diễn đàn quy mô toàn cầu nhằm trao đổi thông tin và trao đổi về những vấn đề liên quan đến an sinh xã hội. ISSA có tầm bao phủ toàn cầu nhờ số lượng thành viên của mình, bao gồm 360 tổ chức, cơ quan an sinh xã hội của 150 nước trên thế giới.

Ngày nay, khái niệm về hệ thống an sinh xã hội được mở rộng. Vai trò của an sinh xã hội không chỉ còn giới hạn trong việc tái phân bổ thu nhập và trợ cấp để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho người dân. An sinh xã hội cần phải năng động hơn và chuyển từ tư duy cho rằng, an sinh xã hội là phương tiện bảo trợ, là một số khoản trợ cấp xã hội sang nhận thức mới về an sinh xã hội: an sinh xã hội là phương tiện phòng tránh và bảo vệ từng cá nhân trước những rủi ro và sự yếu thế. Phương pháp tiếp cận mang tính đổi mới này được gọi là “Hệ thống an sinh xã hội năng động”. An sinh xã hội có vai trò không chỉ đơn thuần là phương tiện bồi thường và khắc phục khó khăn cho đối tượng, mà là sự đầu tư vào yếu tố con người “vốn con người”.

Continue reading