SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG MÔ HÌNH CƠ QUAN ĐĂNG KÝ TẬP TRUNG VỀ BẤT ĐỘNG SẢN

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

I. Một số đặc điểm của mô hình tổ chức hệ thống các cơ quan đăng ký giao dịch về bất động sản hiện nay

Hiện nay, giao dịch về bất động sản và đăng ký bất động sản (đăng ký lần đầu và đăng ký biến động) đang được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự, Luật Đất đai và Luật Nhà ở và một số văn bản khác có liên quan. Theo đó, hiện tồn tại hai hệ thống cơ quan khác nhau, đó là cơ quan quản lý đất đai và cơ quan quản lý nhà ở.

1. Về đăng ký giao dịch quyền sử dụng đất

Theo quy định tại Điều 64 Luật Đất đai 2003 và Điều 9 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (gọi tắt là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP) thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công, có chức năng đăng ký các giao dịch về quyền sử dụng đất (đăng ký chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, cho thuê lại, góp vốn, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất).

a. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký các giao dịch về quyền sử dụng đất của tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.

b. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện có chức năng đăng ký các giao dịch về quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước được quyền mua nhà ở, gắn liền với quyền sử dụng đất ở (những nơi chưa thành lập hoặc không thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, thì Phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất).

Continue reading

TÍNH HỢP LÝ CỦA VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP LUẬT QUA BỘ LUẬT NAPOLEON 1804

PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG

Trên thế giới có những văn bản quy phạm pháp luật nổi tiếng bởi sự trường tồn của chúng. Đó là những minh chứng sinh động nhất về tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật, bởi những văn bản quy phạm pháp luật không hợp lý sẽ nhanh chóng bị đời sống thực tiễn loại bỏ. Sự trường tồn ở đây được xét trên hai phương diện: một là chúng có hiệu lực điều chỉnh lâu dài các quan hệ xã hội, hai là có thể chúng không còn hiệu lực trên thực tế nữa nhưng tư tưởng, tinh thần của nó được tiếp thu và thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật của các đời sau.

Một trong những ví dụ điển hình là Bộ luật dân sự Napoleon 1804. Bộ luật này đã tồn tại trên 200 năm và còn giữ được nguyên vẹn trên 1000 điều luật. Nhiều luật gia Pháp gọi đây là Hiến pháp dân sự của Pháp, là giáo đường của pháp luật. Mặc dù đã trải qua hơn 200 năm với nhiều thay đổi, bổ sung, nhưng Bộ luật vẫn giữ nguyên cấu trúc gồm 3 quyển, với 2283 điều.

1. Sự ra đời của Bộ luật dân sự Napoleon 1804 là ước muốn lâu đời của nước Pháp

Dưới chế độ phong kiến (người Pháp thường gọi là Ancien Regime) nước Pháp có quá nhiều nguồn pháp luật: tập quán, pháp luật hoàng gia, pháp luật giáo hội, pháp luật La Mã. Hơn thế nữa nước Pháp chia làm hai vùng lãnh thổ có chế độ pháp luật khác nhau. Miền Bắc là vùng pháp luật tập quán, còn miền Nam là nơi áp dụng pháp luật thành văn – pháp luật La Mã. Vào các thế kỷ XV, XVI, XVII người Pháp đã có ý định pháp điển hoá pháp luật bằng việc ban hành các sắc lệnh và luật:

– Sắc lệnh của Montils – Les -Tour, năm 1453, là sắc lệnh thể hiện sự thừa nhận các tập quán của các vùng; một thời gian sau, một bộ sưu tập về tập quán trong các vùng đã được xuất bản[1].

Continue reading

TỔ CHỨC HỆ THỐNG CƠ QUAN THI HÀNH ÁN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH TƯ PHÁP

TS. LÊ THU HÀ

1. Nhìn từ thực tiễn

Vụ việc 1: Phải chờ… Chủ tịch thành phố chỉ đạo?[1]

Ngày 01/01/2006, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã xử phúc thẩm vụ tranh chấp giữa các thành viên của Công ty cổ phần dịch vụ khách sạn Bạch Đằng (Hải Phòng). Sau khi có bản án, bên được thi hành án (THA) – ông Vũ Quang Lâm (Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc mới) nhiều lần đề nghị cơ quan chức năng sớm thi hành dứt điểm bản án để công ty kiện toàn tổ chức, tránh thất thoát về tài sản, kinh tế. Cơ quan pháp luật đã yêu cầu bên phải THA tự nguyện thi hành. Tuy nhiên, họ không chấp hành án. Vì thế, Thi hành án dân sự (THADS) thành phố Hải Phòng có kế hoạch cưỡng chế THA vào sáng ngày 16/5/06. Từ nhiều ngày trước, bản kế hoạch chi tiết đã được gửi tới đương sự và Công an, Viện kiểm sát, Sở Tài chính, Sở Du lịch, các cơ quan báo chí… để phối hợp. Thế nhưng, ngày 15/5/08, ông Lâm và các cơ quan hữu quan bất ngờ được THA thông báo tạm hoãn cưỡng chế với lý do “để công tác chuẩn bị tổ chức cưỡng chế THA đảm bảo chặt chẽ”. Trả lời báo chí, chấp hành viên Nguyễn Văn Thơi (người giải quyết vụ việc) nói phải tạm hoãn cưỡng chế để chờ Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Trịnh Quang Sử – đang đi công tác nước ngoài – về chỉ đạo (?!).

Vụ việc 2: Đợi đến bao giờ

Căn nhà số 03 Lam Sơn, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh là của bà Nguyễn Thị Bé và chồng là Nguyễn Văn Trầm. Ông bà có một người con trai duy nhất là Nguyễn Văn Quế. Năm 1991, ông Trầm ủy quyền cho ông Đỗ Văn Mừng (cháu của ông Trầm) liên hệ với các cơ quan chức năng để làm thủ tục xin lại căn nhà (đã bị Nhà nước quản lý năm 1978). Sau khi lấy lại được căn nhà trên, ông Mừng đã bán căn nhà cho bà Trần Thị Hoàng Mai. Năm 1994, ông Trầm – có con trai là ông Quế làm đại diện – đã khởi kiện ông Mừng và bà Mai để đòi lại nhà. Vụ án đã bị xét xử nhiều lần, nhiều cấp. Quyết định giám đốc thẩm số 03/HĐTP -DS ngày 27/1/2005 của Hội đồng thẩm phánTANDTC bác kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC và giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 319/PTDS ngày 13/12/2002 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại thành phố Hồ Chí Minh với các quyết định: Buộc bà Trần Thị Hoàng Mai giao trả căn nhà số 03 Lam Sơn cùng toàn bộ giấy tờ chủ quyền căn nhà này cho ông Nguyễn Văn Quế do bà Huỳnh Thị Muông làm đại diện nhận. Buộc ông Nguyễn Văn Quế do bà Huỳnh Thị Muông làm đại diện phải giao cho bà Mai 119, 11 lượng vàng SJC ngay sau khi nhận căn nhà nêu trên. Buộc ông Đỗ Văn Mừng (đã chết) có bà Thành và các con là đại diện các thừa kế của ông Mừng theo luật định giao cho bà Mai 1.833, 49 lượng SJC.

Continue reading

PHÁT HÀNH TIỀN KIM LOẠI Ở IN – ĐÔ – NÊ – XIA, BÀI HỌC KINH NGHIỆM

NGUYỄN TUẤN

Từ năm 1991-1993, Inđônêxia phát hành 5 đồng tiền kim loại, mệnh giá 25, 50, 100, 500 và 1000 Rupiah (Rp); loại 100 Rp, 500 Rp và 1000 Rp có cả tiền giấy song hành. Việc đưa tiền kim loại vào lưu thông không được thuận lợi, số lượng tiền kim loại trong lưu thông thấp hơn dự kiến. Sau khi khảo sát, phân tích những thuận lợi, khó khăn và đánh giá tác động của điều kiện địa lý tự nhiên (Inđônêxia là quốc đảo với hơn 13.000 đảo nhỏ), Ngân hàng Trung ương Inđônêxia đi đến kết luận, nguyên nhân chủ yếu là do người dân ưa thích sử dụng tiền giấy hơn tiền kim loại và do các loại hình dịch vụ, bán hàng tự động sử dụng tiền kim loại chưa phát triển rộng rãi.

Trước tình hình đó, bên cạnh việc tăng cường giáo dục cộng đồng và tuyên truyền về lợi ích của tiền kim loại, Ngân hàng Inđônêxia đã áp dụng nhiều biện pháp, kể cả các biện pháp hành chính nhằm khuyến khích và thúc đẩy việc sử dụng tiền kim loại trong thanh toán. Ngân hàng Inđônêxia đã ngừng in thêm 2 loại tiền giấy 100 Rp và 500 Rp và tiến hành thu hồi 2 loại tiền này. Đáng lưu ý là năm 2001, Ngân hàng Trung ương Inđônêxia uỷ thác cho bên thứ ba đưa tiền kim loại đến tay người sử dụng cuối cùng thông qua nghiệp vụ đổi loại tiền và đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (outsourcing). Bên nhận uỷ thác được hưởng tỷ lệ chiết khấu nhất định trên tổng số tiền kim loại đổi từ Ngân hàng Inđônêxia để bù đắp chi phí, vì vậy, họ không được thu phí dịch vụ đổi tiền kim loại cho công chúng. Kết quả của dự án này rất khả quan. Tuy nhiên, do Inđônêxia vẫn có cả tiền giấy và tiền kim loại cùng mệnh giá song hành nên việc đưa tiền kim loại vào lưu thông còn gặp trở ngại. Theo Ngân hàng Inđônêxia, vấn đề này sẽ được xử lý trong thời gian tới bằng những biện pháp mạnh mẽ hơn nhằm cải cách và nâng cao chất lượng đồng tiền trong lưu thông, tiết kiệm chi phí phát hành tiền.

Continue reading

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CỦA CÁC NƯỚC BẮC ÂU

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Khái quát chung

Trong quan điểm của nhiều người, pháp luật của các nước phương Tây hoặc thuộc dòng họ pháp luật châu Âu lục địa (Dòng họ Civil Law) hoặc thuộc dòng họ pháp luật Anh – Mỹ (Dòng họ Common Law). Tuy nhiên có thể thấy rằng hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu: Đan Mạch, Phần Lan, Ailen, Na Uy, Thuỵ Điển có những nét riêng khó có thể xếp vào một trong hai dòng họ pháp luật kể trên.

Zweigert và Kotz đưa ra khái niệm “phong cách pháp luật” (được hình thành từ năm nhân tố: nguồn và sự tiến triển của hệ thống pháp luật, tính đặc thù của tư duy pháp lý, các chế định pháp lý đặc thù, bản chất của các nguồn pháp luật và phương thức giải thích chúng, các nhân tố tư tưởng) như tiêu chuẩn của việc phân loại các hệ thống pháp luật và phân biệt các "vùng pháp luật" trong đó có vùng pháp luật Bắc Âu hay còn được gọi là vùng pháp luật Scandinavia (hai cách gọi này đồng nghĩa mặc dù về mặt địa lý Đan Mạch và Ailen nằm ngoài bán đảo Scandinavia).

Khó có thể xếp hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu vào dòng họ pháp luật Anh – Mỹ bởi nhiều lý do, một trong những lý do đó là ở các nước này án lệ không có vai trò quyết định (mà vai trò quyết định của án lệ vốn là một trong những đặc trưng cơ bản của dòng họ pháp luật Anh Mỹ). Cũng khó có thể xếp hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu vào dòng họ pháp luật châu Âu lục địa bởi đặc trưng cho dòng họ này là sự ảnh hưởng của Luật La Mã và vai trò quan trọng của Luật thành văn với các Bộ luật là công cụ chính yếu để hệ thống các quy phạm. Trong sự phát triển của pháp luật ở các nước Bắc Âu, Luật La Mã có ảnh hưởng không đáng kể và ở các nước này đến tận bây giờ vẫn không có các Bộ luật như Bộ luật Dân sự Đức… Zweigert vµ Kotz kết luận rằng do có mối quan hệ chặt chẽ và một số nét “phong cách pháp luật” riêng nên xếp hệ thống pháp luật các nước Bắc Âu vào một nhóm riêng, đồng thời ghi nhận rằng nhóm này có nhiều điểm tương đồng với dòng họ pháp luật châu Âu lục địa bởi pháp luật của các nước Bắc Âu được xây dựng và phát triển tuân theo nguyên tắc về tính tối cao của luật thành văn, sử dụng một cách rộng rãi các cấu trúc và khái niệm pháp lý của dòng họ pháp luật châu Âu lục địa.

Continue reading