HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ LAO ĐỘNG: MỘT ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT THEO HƯỚNG CHO PHÉP

PHAN HUY HỒNG – NGÔ THỊ THU

Các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin về sự xuất hiện hoạt động cho thuê lao động từ khoảng cuối năm 2001. Theo đó, một số doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động, cho các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động thuê lại người lao động đó trên cơ sở hợp đồng cung ứng lao động thời vụ hoặc tương tự[1]. Hoạt động này gây rất nhiều phản ứng khác nhau từ phía doanh nghiệp, từ các cơ quan quản lý.

Tuy nhiên, dù thế nào thì nó vẫn diễn ra trên thực tế và đòi hỏi cần có một phân tích tỉnh táo các khía cạnh kinh tế, pháp lý của hoạt động cho thuê lao động, làm cơ sở cho một chính sách pháp luật phù hợp với nhu cầu của hoạt động kinh tế, đồng thời đảm bảo lợi ích của các chủ thể tham gia, đặc biệt là của người lao động.

1. Nhận diện hoạt động cho thuê lao động

Có nhiều chủ thể khác nhau tham gia vào các hoạt động đa dạng làm cầu nối giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), như: các hoạt động giới thiệu việc làm do các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức như hội chợ việc làm hay sàn giao dịch việc làm[2]. Ngoài ra còn có hoạt động của các Trung tâm giới thiệu việc làm là các đơn vị sự nghiệp có thu ở các địa phương[3]. Hoạt động của các Trung tâm giới thiệu việc làm được coi thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội, mặc dù là hoạt động có thu, nhưng như vậy là phi lợi nhuận.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀCHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XLÔ-VA-KI-AVỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN CỦA HAI NƯỚC

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa X-lô-va-ki-a, (Sau đây gọi là các Bên ký kết),

Mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước,

Mong muốn hợp tác, trên cơ sở có đi có lại để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc nhận trở lại những công dân cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia của Bên ký kết kia,

Cố gắng ngăn ngừa tình trạng di cư bất hợp pháp,

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1

Phù hợp với các quy định của Hiệp định này, theo yêu cầu của một Bên ký kết, Bên ký kết kia nhận trở lại công dân của mình nếu người này không hoặc không còn đáp ứng các quy định pháp luật về nhập cảnh hoặc cư trú trên lãnh thổ của nước Bên ký kết yêu cầu (sau đây gọi là "người trở về").

Điều 2

1. Phù hợp với các quy định tại Điều 1, mỗi Bên ký kết sẽ nhận trở lại, sau khi xác minh người trở về đáp ứng các điều kiện sau:

(a) Có quốc tịch của nước Bên ký kết được yêu cầu, không đồng thời có quốc tịch của nước Bên ký kết yêu cầu hoặc quốc tịch của bất kỳ nước nào khác;

Continue reading

QUAN HỆ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG VÀ BẢO HIỂM VIỆT NAM – HOA KỲ

TS. NGUYỄN MINH PHONG

1. Khái quát chung

Quan hệ kinh tế – tài chính Việt Nam – Hoa Kỳ đã trải qua những thời khắc và sự kiện đặc biệt.

Cho đến nay, hai nước đã ký kết một số Hiệp định, Thoả thuận về kinh tế như Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả (ngày 27/6/1997), Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Mỹ (HĐTM)(1), Hiệp định Hợp tác về khoa học và công nghệ (2), Hiệp định Dệt -may (có hiệu lực từ 1/5/2003), Hiệp định Hàng không (3); Hiệp định khung hợp tác về kinh tế và kỹ thuật (có hiệu lực từ 28/7/2005), Bản Ghi nhớ hợp tác về Nông nghiệp (4)… Hai nước đã ký kết nhiều văn bản về hợp tác trong các lĩnh vực khác, như Tuyên bố chung về hợp tác y tế giữa hai Bộ Y tế (12/1997), Thoả thuận hợp tác về thể dục thể thao (tháng 3/1999), Bản ghi nhớ về hợp tác lao động Việt Nam -Mỹ (11/2000), Bản Ghi nhớ về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực Khí tượng Thuỷ văn (1/2001), Biên bản Ghi nhớ giúp đào tạo nhân lực cho ngành Thuỷ sản Việt Nam (11/3/2003), Hiệp định hợp tác y tế và khoa học y học Việt Nam -Mỹ (7/2006)… Năm 2003, hai nước đã ký kết Nguyên tắc hợp tác trong việc thực hiện Đề án Quỹ giáo dục của Mỹ dành cho Việt Nam (VEF), cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Mỹ đào tạo về các ngành khoa học, công nghệ. Ngày 23/6/2004, Tổng thống Mỹ G.Bush tuyên bố đưa Việt Nam vào danh sách 15 nước ưu tiên trong Kế hoạch Viện trợ khẩn cấp về phòng chống HIV /AIDS. Mỹ cũng hợp tác tích cực và tài trợ cho Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống đại dịch cúm gia cầm…

Kể từ khi HĐTM có hiệu lực đến nay, quan hệ buôn bán giữa hai nước tăng nhanh: kim ngạch buôn bán 2 chiều năm 2005 đạt 7, 8 tỉ USD, tăng gấp hơn 5 lần năm 2001 (1, 5 tỉ USD); năm 2006 đạt 9, 7 tỷ USD, trong đó Việt Nam nhập 1, 1 tỷ và xuất 8, 6 tỷ (Việt Nam luôn xuất siêu lớn sang Mỹ). Hiện Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt – Mỹ năm 2008 đạt 15, 2 tỉ đô la, gấp hơn 10 lần so với năm 2001. Theo đó, Mỹ đã trở thành đối tác thương mại số một của Việt Nam. Việt Nam là một trong những thị trường phát triển nhanh nhất của Hoa Kỳ ở khu vực châu á. Đồng thời, Hoa Kỳ đã trở thành nước thứ 2 (sau Trung Quốc) về số lượng khách du lịch vào Việt Nam. Đường bay thẳng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vừa được nối lại sau 30 năm gián đoạn.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG DO SÚC VẬT GÂY THIỆT HẠI: CHO CẮN NGƯỜI, BỒI THƯỜNG SỢ … THIỆT

HỒNG TÚ

Vốn không ưa gì nhau, khi một bên bị chó hàng xóm cắn, hai nhà đã nhất quyết hơn thua rồi dẫn nhau ra tòa. TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) đang thụ lý một vụ tranh chấp khá ngộ nghĩnh: Bà NTN đã kiện bà NTMH – hàng xóm ra tòa đòi bồi thường… gần 500 ngàn đồng tiền thuốc chích ngừa do bị chó nhà bà H. cắn.

“Bán” láng giềng gần…

Nhà bà N. và nhà bà H. vốn là hàng xóm láng giềng lâu năm ở phường 24. Giữa hai nhà có chung cái sân phía trước. Một lần bà N. kê chậu kiểng của nhà mình sát với ranh giới chung của sân thì bà H. không đồng ý. Thế là mâu thuẫn tích tụ, hai bên thường xuyên nảy sinh hiềm khích từ những việc cỏn con.

Chiều 4-2-2008, bà N. đi làm về thì thấy có một đống rác từ trên trời rơi xuống chắn lối đi vào nhà. Chậu cây kiểng nhà bà kê sát ranh giới chung với nhà bà H. cũng không còn ở vị trí cũ nữa. Bà N. liền dắt xe vào nhà rồi quay ra kê lại chậu kiểng vào chỗ cũ. Lúc này, bà H. đang ở trong nhà thấy vậy chạy tới ngăn cản, hất bể chậu kiểng của bà N. Bà N. phản ứng lại, hai bên to tiếng chửi nhau và con chó của bà H. từ trong nhà đã nhảy xổ ra cắn bà N.

Cùng lúc đó, chồng của hai bà cũng chạy ra bênh vợ. Chồng bà H. định dùng cây hành hung chồng bà N. nhưng nhờ hàng xóm can ngăn kịp thời nên xô xát đã không xảy ra.

Nhất quyết hơn thua!

Sau đó, bà N. ra Trung tâm Y tế quận Bình Thạnh chích ngừa dại hết 465 ngàn đồng. Quay về, bà yêu cầu bà H. phải bồi thường tiền thuốc. Theo bà, bà H. có lỗi khi không đeo rọ, khớp miệng cho chó. Bà không vào nhà bà H. mà chỉ đứng ở ngoài sân, con chó bà H. từ trong nhà lao ra cắn bậy thì chủ nó phải bồi thường cho bà.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN VỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thụy Điển (sau đây gọi là “các Bên ký kết”),

Với mong muốn phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước nhằm bảo đảm việc thực hiện tốt hơn các quy định về di chuyển của cá nhân,

Nhận thức nhu cầu đấu tranh chống di cư bất hợp pháp và để tạo thuận lợi cho việc nhận trở lại, trên cơ sở có đi có lại, những người nhập cảnh và cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ của mỗi Bên ký kết,

Phù hợp với các điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên,

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục đích của Hiệp định này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “Thị thực” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và lưu trú trên lãnh thổ nước mình liên tục trong một thời gian được xác định theo luật pháp áp dụng tại nước đó;

b) “Giấy phép cư trú” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và cư trú nhiều lần trên lãnh thổ nước đó. Giấy phép cư trú không phải là thị thực và không được xem là giấy phép cư trú tạm thời cấp cho người đang chờ xét duyệt đơn xin tỵ nạn hoặc đang chờ thủ tục trục xuất cho phép người đó được lưu trú trên lãnh thổ một Bên ký kết;

c) “Yêu cầu” là văn bản chính thức của Bên ký kết yêu cầu gửi cho Bên ký kết được yêu cầu đề nghị nhận trở lại một người;

Continue reading