BÀN LUẬN VỀ QUI ĐỊNH ĐĂNG KÍ GIAO DỊCH TẠI SỞ GIAO DỊCH HÀNH HÓA VÀ NHÂN ĐÓ SUY RỘNG TỚI MỘT VÀI ĐIỂM YẾU CỦA MỤC 3 CHƯƠNG 2 LUẬT THƯƠNG MẠI

NGUYỄN ĐỨC NGỌC

1. Mở đầu

Sở giao dịch hàng hóa là một loại hình thị trường phức tạp. Do đấy cách tiếp cận của việc điều chỉnh pháp luật thật không dễ dàng. Như thế để thấy rằng các qui định của Luật thương mại 2005 về sở giao dịch hàng hóa và các qui định hướng dẫn chi tiết ở cấp Nghị định quả là đáng quí. Trong quan niệm của chúng tôi, khi nghiên cứu về sở giao dịch hàng hóa theo bất kỳ nội dung pháp luật nào thì cũng cần phải dựa trên nhưng giả định sau đây về bản chất của sở giao dịch hàng hóa:

– Giao dịch tại sở giao dịch hành hóa là một hình thức đầu tư, kinh doanh hàng hóa là các công cụ phái sinh như hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi. Công cụ phái sinh được hiểu là hình thức đầu tư tìm kiếm lợi nhuận dựa trên lợi nhuận của việc kinh doanh một hàng hóa khác.

– Hiệu quả của các giao dịch trên sở giao dịch hàng hóa trước tiên là nhằm giảm thiểu rủi ro. Giao dịch qua các thị trường phái sinh là một kỹ thuật phòng ngừa rủi ro. Nhà sản xuất phải mua hàng hóa đầu vào cho sản xuất trong tương lai vì để tránh rủi ro tăng giá, và ngược lại, người bán là vì lí do giảm giá.

– Sở giao dịch hàng hóa là loại thị trường được tiêu chuẩn hóa. Mức độ tiêu chuẩn hóa được thể hiện bởi các điều kiện giao dịch, phương thức giao dịch. Chính quá trình tiêu chuẩn hóa này là nguồn gốc sâu xa cho tính thanh khoản của hàng hóa trên sở giao dịch. Cũng chính vì mức độ tiêu chuẩn hoá của sở giao dịch là rất cao nên việc đăng kí giao dịch tại sở cũng dựa trên những tiêu chuẩn và điều kiện nhất định. Pháp luật nước nào thì cũng phải qui định về đăng ký giao dịch tại sở giao dịch, cái khác chỉ là việc xử lí những vấn đề cụ thể.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 08/2009/TT-BGTVT NGÀY 23 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI HƯỚNG DẪN VIỆC SỬ DỤNG XE THÔ SƠ, XE GẮN MÁY, XE MÔ TÔ HAI BÁNH, XE MÔ TÔ BA BÁNH VÀ CÁC LOẠI XE TƯƠNG TỰ ĐỂ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH, HÀNG HÓA

Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 51/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải;
Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn việc sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự để vận chuyển hành khách, hàng hóa nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông như sau:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn những nguyên tắc chung về hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự.

Chương 2.

QUY ĐỊNH VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH, HÀNG HÓA BẰNG XE THÔ SƠ, XE GẮN MÁY, XE MÔ TÔ HAI BÁNH, XE MÔ TÔ BA BÁNH VÀ CÁC LOẠI XE TƯƠNG TỰ

Điều 3. Người điều khiển phương tiện

1. Phải bảo đảm quy định tại Điều 58 và Điều 63 Luật Giao thông đường bộ.

Continue reading

ĐẰNG SAU LÀN SÓNG CÔNG, VIÊN CHỨC TỪ BỎ NHIỆM SỞ. . .

TS. NGUYỄN MINH PHONG – Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

1. Làn sóng mới trong dịch chuyển lao động- nửa mừng nửa lo…

Có thể nói, thị trường lao động Việt Nam thời đổi mới và hội nhập đang chứng kiến sự xuất hiện và tô đậm dần những động thái mới chưa từng có suốt nhiều thập kỷ nay, như xu hướng tăng nhanh những lao động “có bằng cấp đầy mình”, được đào tạo khá bài bản từ các nguồn khác nhau; sự chuyển dịch linh hoạt và năng động, kiểu “nhẩy việc” liên tục hoặc làm việc và nhận lương đồng thời từ nhiều “cửa” khác nhau của các lao động trẻ có tài và có chí tiến thủ; sự  gia tăng đồng thời cả dòng lao động xuất khẩu, lẫn lao động nhập khẩu; Đặc biệt, trong đó đang nổi lên xu hướng “chảy máu chất xám” từ trong nước ra nước ngoài, từ miền Bắc vào miền Nam và nhất là từ khu vực Nhà nước sang khu vực ngoài Nhà nước…

Theo thống kê chưa đầy đủ, riêng ở TP.HCM giai đoạn từ tháng 7-2003 đến 31-12-2007 đã có 6.422 (tức mỗi năm có khoảng 1.500 )cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị hành chính và sự nghiệp Nhà nước thuộc TP.HCM chủ động rời bỏ nhiệm sở để chuyển sang làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước; dẫn đầu  là khối sự nghiệp giáo dục với hơn 3.000 người. Làn sóng di chuyển lao động này ngày càng lan tỏa rộng sang các cơ quan  khác, như Sở Bưu chính – Viễn thông  (năm 2007 đã có ba cán bộ chủ chốt và một số chuyên viên xin nghỉ việc), Sở Kế hoạch – Đầu tư, Sở Giao thông công chính, Sở Du lịch, các cơ quan trực thuộc Thành đoàn, UBND các quận, huyện, xã , phường, báo chí và nhà xuất bản…, trong đó có cả Phó Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư, Phó Giám đốc Sở Giao thông công chính, Phó Giám đốc Sở Du lịch, Phó Chủ tịch Quận 12, Phó Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ, Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ…; Tại Viện Kinh tế TP.HCM, chỉ trong vòng một năm đã có hơn mười nhà khoa học "ra đi", trong đó có những người có trình độ, bằng cấp cao. Sắp tới, một số Thạc sỹ thuộc Chương trình đào tạo 300 Tiến sỹ& Thạc sỹ của TP.HCM cũng sẽ nghỉ việc sau khi hết thời hạn cam kết phục vụ… Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở nhiều địa phương khác trên cả nước. Đặc biệt, khối ngành Tài chính- Ngân hàng được cho là có nhiều bổng lộc nhất do đặc thù ngành( cán bộ NHNN có hệ số lương gần gấp ba lần hệ số thông thường), cũng đang "lao đao" bởi "làn sóng" cán bộ công chức rời bỏ nhiệm sở, trong đó có cả cấp Vụ trưởng…

Continue reading

CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

TS. NGUYỄN ĐÌNH THÀNH

Tiếp cận vấn đề bảo đảm xă hội (an sinh xă hội) từ góc độ mô h́nh hoạt động kinh tế tổng thể của một quốc gia để xem xét quan hệ giữa chính sách xă hội và hệ thống bảo đảm xă hội ngay từ khi xác lập thể chế hoạt động kinh tế vĩ mô với những đặc trưng riêng của mỗi loại h́nh kinh tế thị trường. Điều đó giúp chúng ta đề ra những nhiệm vụ và mục tiêu của BHXH nói riêng và của hệ thống chính sách xă hội nói chung, thích ứng trong từng giai đoạn, gắn liền với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước.

Kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường được hiểu là một thể chế kinh tế với sự không tập trung (phân tán) về kế hoạch hoá và sự điều khiển quá tŕnh kinh tế được tiến hành theo sự điều phối của cơ chế giá cả. Trong nền kinh tế thị trường, phạm vi nhiệm vụ của Nhà nước ít nhất là phải tạo ra các điều kiện khung để khuyến khích đầy đủ được chức năng điều phối từ sự cạnh tranh, thi đua cũng như khuyến khích việc sẵn sàng cung cấp các loại hàng hoá công cộng không sinh lợi của kinh tế tư nhân. Đồng thời mỗi một đề án về các chính sách kinh tế như chính sách thời vận, chính sách cơ cấu và chính sách xă hội cần bổ sung thêm nhiệm vụ làm hạn chế tính tự trị của kế hoạch hoá cá nhân (Gabler Wirtschaftslexikon – 12. Auflage s.302). Người ta cũng có thể hiểu Kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mà trong đó các kế hoạch và tổ chức sản xuất kinh doanh của từng đối tượng kinh tế đều hoạt động dựa trên nền tảng của việc tự do tạo lập giá cả và được điều tiết theo giá cả. Đó là một nền kinh tế hàng hoá trao đổi và tự do cạnh tranh, thi đua là thực sự cần thiết. Sự cạnh tranh đầy đủ trong nền kinh tế thị trường không chỉ điều tiết nền kinh tế cả theo chiều dọc và chiều ngang mà c̣n thường xuyên điều chỉnh các diễn biến kinh tế và kích thích tính hiệu quả của nền kinh tế. Hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường được thể hiện ở động cơ sản xuất và năng xuất, ở mức thu nhập quốc dân và mức sống xă hội cao cũng như các khả năng cung ứng tốt các hàng hoá và dịch vụ.

Continue reading

TRÍCH “BÁO CÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2008”

 CIEM – Báo cáo Kinh tế Việt Nam của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương là báo cáo hàng năm nhằm cung cấp thông tin cho bạn đọc toàn cảnh nền kinh tế Việt Nam diễn ra trong năm, những thành tựu đạt được, phân tích những vấn đề tồn tại, những thách thức cần vượt qua và dự báo triển vọng tăng trưởng một số chỉ tiêu kinh tế cho năm tiếp theo. Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2008 tập trung vào hai nội dung chính: Kinh tế Việt Nam năm 2008 – một số vấn đề, và triển vọng Kinh tế Việt Nam 2009.

I. Tổng quan Kinh tế Việt Nam năm 2008

Tình hình phát triển kinh tế – xã hội nước ta trong năm 2008 đã chịu tác động tương tác giữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác. Nền kinh tế toàn cầu biến động phức tạp: giá dầu tăng mạnh và giá lương thực leo thang đến tháng 8/2008; khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ vào tháng 9/2008 và nền kinh tế thế giới lún sâu vào suy thoái.

Trước tình hình lạm phát gia tăng từ quí III/2007, từ tháng 4/2008 Chính phủ đã có bước ngoặt chuyển hướng chính sách từ thúc đẩy tăng trưởng sang kiềm chế lạm phát. Từ tháng 10/2008, nền kinh tế lại phải gồng mình chống đỡ tác động hết sức tiêu cực của cơn bão khủng hoảng và suy thoái toàn cầu. Một lần nữa, Chính phủ lại chuyển hướng chính sách, tập trung chống suy giảm kinh tế cùng tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Chính sách tiền tệ được nới lỏng dần và từ tháng 12/2008, một gói 6 tỷ USD kích thích kinh tế được chính thức triển khai nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phát triển kết cấu hạ tầng, kích thích tiêu dùng và giảm thiểu khó khăn xã hội.

Continue reading