HÀNH VI ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT VÀ ỨNG DỤNG TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC SƠN

Định giá hủy diệt là việc các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm quá thấp…

1. Hành vi định giá hủy diệt

Định giá hủy diệt là việc các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm quá thấp trong một khoảng thời gian đủ dài nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường hoặc (và) ngăn cản không cho các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường. Sau khi hoàn tất mục đích ngăn cản hoặc loại bỏ, doanh nghiệp sẽ tăng giá một cách đáng kể nhằm bù đắp lại các khoản lỗ và các khoản lợi nhuận đã bỏ qua bởi mức độ cạnh tranh trên thị trường đã bị giảm[1].

Lý thuyết định giá hủy diệt ra đời từ nhận thức về cạnh tranh trong lĩnh vực giá cả giữa các doanh nghiệp. Khi giá của một sản phẩm giảm xuống sẽ làm cho giá của sản phẩm cạnh tranh khác (nếu không thay đổi về giá) trở thành cao tương đối trước nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm có mức giá thấp có được lợi thế cạnh tranh về giá nên các đối thủ còn lại bị đặt vào tình trạng hoặc phải chạy đua để giảm giá hoặc chấp nhận mất dần khách hàng với mức giá không đổi. Khi giá bán có thể gây lỗ cho đối thủ thì mức giá đó được suy đoán là có khả năng hủy diệt. Mức giá có khả năng hủy diệt đối thủ có thể là kết quả hoặc của quá trình cạnh tranh lành mạnh về giá, hoặc của hành vi định giá hủy diệt. Sẽ là cạnh tranh lành mạnh nếu các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận mà vẫn hạ giá bán hàng hóa bằng cách giảm chi phí sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp doanh nghiệp bán hàng hóa với giá thấp để đẩy giá thị trường xuống mức không thể có lãi trong một thời gian nhằm làm suy yếu hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh[2], chiến lược kinh doanh đó bị coi là định giá hủy diệt. Việc xác định khả năng hủy diệt của hành vi tập trung vào:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1939/BTP-BTTP NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM 2006 CỦA BỘ TƯ PHÁP về một số nội dung liên quan đến công chứng

Kính gửi:

                         Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong thời gian qua, Luật công chứng (có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) đã được các địa phương tích cực triển khai thực hiện và đã dần đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Bộ Tư pháp nhận được ý kiến của một số địa phương phản ánh về một số khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật công chứng.

Để thống nhất một số nội dung liên quan đến công chứng trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng và giúp Sở Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Về cách hiểu cụm từ “công chứng nhà nước” trong Luật đất đai 2003

Thời gian qua, một số địa phương phản ánh về Bộ Tư pháp : do có cụm từ “công chứng nhà nước” trong Luật đất đai 2003 (từ Điều 126 đến Điều 131) quy định về việc hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của “công chứng nhà nước” hoặc lựa chọn “công chứng nhà nước”, vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng, một số cá nhân, tổ chức cho rằng: chỉ có Phòng công chứng mới có thẩm quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, còn Văn phòng công chứng không có thẩm quyền này, do đó một số cơ quan, tổ chức đã không công nhận hợp đồng, giao dịch do công chứng viên của Văn phòng công chứng chứng nhận.Về vấn đề này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1939/BTP-BTTP NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM 2006 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG CHỨNG

Kính gửi:

                         Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong thời gian qua, Luật công chứng (có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) đã được các địa phương tích cực triển khai thực hiện và đã dần đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Bộ Tư pháp nhận được ý kiến của một số địa phương phản ánh về một số khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật công chứng.

Để thống nhất một số nội dung liên quan đến công chứng trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng và giúp Sở Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Về cách hiểu cụm từ "công chứng nhà nước" trong Luật đất đai 2003

Thời gian qua, một số địa phương phản ánh về Bộ Tư pháp : do có cụm từ "công chứng nhà nước" trong Luật đất đai 2003 (từ Điều 126 đến Điều 131) quy định về việc hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của "công chứng nhà nước" hoặc lựa chọn "công chứng nhà nước", vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng, một số cá nhân, tổ chức cho rằng: chỉ có Phòng công chứng mới có thẩm quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, còn Văn phòng công chứng không có thẩm quyền này, do đó một số cơ quan, tổ chức đã không công nhận hợp đồng, giao dịch do công chứng viên của Văn phòng công chứng chứng nhận.Về vấn đề này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

Continue reading

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

TS. BÙI NGỌC CƯỜNG

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) “cho phép người khác thành công giống như chúng ta đã thành công”; “là sự lặp lại của thành công”. Đó là ý tưởng chủ đạo, định hướng tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực NQTM.

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) “cho phép người khác thành công giống như chúng ta đã thành công”; “là sự lặp lại của thành công”. Đó là ý tưởng chủ đạo, định hướng tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực NQTM.

NQTM là loại hoạt động thương mại theo mô hình kinh doanh thống nhất, gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ và nhấn mạnh quyền kiểm soát hệ thống NQTM của bên nhượng quyền. Về bản chất, NQTM là:

– Loại thoả thuận mà theo đó, bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ và dấu hiệu thương mại của mình (như: nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết, biển hiệu) trong hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ;

– Bên nhận quyền phải tuân thủ phương pháp kinh doanh của bên nhượng quyền;

– Trong suốt thời hạn hợp đồng NQTM, bên nhượng quyền có trách nhiệm trợ giúp kỹ thuật, kinh doanh và tiếp thị cho bên nhận quyền.

1. Đặc thù của NQTM

1.1. Trong các yếu tố cơ bản của hợp đồng NQTM

a. Hợp đồng NQTM phải quy định về sự góp vốn của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền

Continue reading

GIỚI THIỆU HỆ THỐNG THUẾ Ở TRUNG QUỐC

XUÂN THỦY – ACCA

Sự phát triển kinh tế thần kỳ của Trung Quốc làm kinh ngạc cả thế giới. Để có sự phát triển đó, chính sách thuế đóng một vai trò then chốt trong chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ Trung Quốc. Về kinh tế, xã hội, văn hóa Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc. Và vì vậy, những kinh nghiêm của Trung Quốc là những bài học lớn cho Việt Nam. Chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả loạt bài hệ thống thuế ở Trung Quốc.

1. Tổng quan chung

Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Chính sách thuế đóng vai trò then chốt trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ và nó có ảnh hưởng to lớn đến việc phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc. Trung Quốc đã tiến hành cải cách hệ thống thuế từ năm 1994. Trung Quốc đã thiết lập bước đầu một hệ thống thuế hợp lý nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.

Năm 2007 Trung Quốc đã thu thuế hơn 4.940 tỷ nhân dân tệ (670 tỷ đôla Mỹ) vượt 31,4% so với năm 2006.

Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng chính sách thuế, Tổng cục Thuế Nhà nước chịu trách nhiệm thu thuế.

Theo gói kích thích kinh tế trị giá 586 tỷ đôla Mỹ được chính phủ Trung Quốc đưa ra vào tháng 11năm 2008, chính phủ có kế hoạch cải tổ hệ thống thuế giá trị gia tăng (GTGT) và có thể cắt giảm thuế doanh nghiệp 120 tỷ nhân dân tệ.

Continue reading

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ DỰ ÁN LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Dự án Luật thuế nhà, đất.

Theo quy định của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài chính đã thành lập Ban soạn thảo để nghiên cứu, xây dựng Luật thuế nhà, đất, tiến hành đánh giá tình hình thực hiện các chính sách thu liên quan đến nhà, đất trong thời gian qua. Ban soạn thảo đã xây dựng Dự án Luật thuế nhà, đất, xin ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức xã hội, đã đăng trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ và của Bộ Tài chính (cơ quan chủ trì soạn thảo) để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân tham gia vào Dự án Luật thuế nhà, đất. Ban soạn thảo đã nghiên cứu ý kiến đóng góp, tiếp thu hoàn chỉnh Dự án luật thuế nhà, đất. Dự thảo đã có ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp (trình kèm). Bộ Tài chính xin trình Chính phủ Dự án Luật thuế nhà, đất như sau:

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LỆNH THUẾ NHÀ, ĐẤT VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

1. Tình hình thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành

1.1. Kết quả đạt được

Chính sách thuế nhà, đất đang thực hiện theo Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 31/7/1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 19/5/1994. Sau hơn 15 năm thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất, cơ bản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành Pháp lệnh, cụ thể là:

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: XỬ SAI “LỦ KHỦ”

PHAN GIA HI

VKS đã vạch ra cả chục điểm sai trong một bản án xử vụ tranh chấp vườn cà phê. Bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự và việc áp dụng pháp luật về dân sự…” – VKSND huyện Krông Năng (Dăk Lăk) vừa kháng nghị như trên về một bản án của TAND huyện này.

Chị em tranh chấp vườn cà phê

Theo đơn kiện của ông Đ., ông có một mảnh vườn trồng gần 2.000 cây cà phê. Sau đó, ông đã nhờ gia đình người chị trông coi vườn giúp để ông yên tâm đi xuất khẩu lao động. Trước khi đi, ông nhắn nhủ: “Anh chị trông coi, chăm sóc, thu hoạch hoa lợi, duy trì vườn cây cho tôi”. Gia đình người chị nhận lời.

Mấy năm sau, ông trở về nước, nể công anh chị giữ vườn tược vất vả nên vẫn để cho anh chị tiếp tục quản lý, thu hoạch hoa màu. Đầu năm 2007, ông nghe tin gia đình người chị đã đăng ký quyền sử dụng đất và tặng mảnh vườn cho con gái nên đòi gia đình người chị phải trả lại.

Phía người chị lại cho rằng một nửa vườn cà phê này là của cha mình, nửa còn lại là của ông Đ. Đầu năm 1992, gia đình bà đã mua lại của cả hai người. Sau đó gia đình bà đi đăng ký rồi được cấp giấy đỏ. Hai năm trước, con gái lấy chồng, gia đình bà cho các con, giờ không biết vì lý do gì mà ông Đ. lại đi đòi…

Continue reading