TRÍ THỨC VÀ NHẬN THỨC PHÁP QUYỀN

B. A. KISTIAKOVSKI – PHẠM NGUYÊN TRƯỜNG dịch và chú thích

Pháp quyền không thể đặt bên cạnh các giá trị về tinh thần như chân lý khoa học, sự tận thiện về đạo đức hay kinh bổn của tôn giáo. Nó chỉ có ý nghĩa tương đối, nội dung của nó một phần nào đó được quyết định bởi những điều kiện kinh tế và xã hội luôn luôn biến đổi. Ý nghĩa tương đối của pháp quyền đã tạo cớ cho một số lý thuyết gia đánh giá nó quá thấp. Một số người cho rằng pháp luật chỉ có giá trị tối thiểu về đạo đức, một số khác lại cho rằng cưỡng chế, nghĩa là bạo lực, là thành tố không thể tách rời của pháp luật. Nếu đúng là như thế thì chẳng có cơ sở nào để chê trách giới trí thức của chúng ta trong việc coi thường pháp quyền hết. Giới trí thức của chúng ta luôn hướng tới những lý tưởng tuyệt đối và trên đường đi của mình nó có thể bỏ qua cái giá trị thứ cấp này.

Nhưng văn hóa tinh thần bao gồm không chỉ một loại giá trị. Các đặc điểm mang tính hình thức của hoạt động trí tuệ và hoạt động ý chí là thành phần chủ yếu của văn hóa tinh thần. Mà trong các giá trị mang tính hình thức thì pháp luật, một hình thức phát triển hoàn hảo nhất và gần như có thể cảm nhận được một cách cụ thể nhất, đóng vai trò quan trọng nhất. Pháp luật đưa người ta vào khuôn phép nhanh hơn là tư duy lô gich và phương pháp luận hay những biện pháp rèn luyện ý chí một cách có hệ thống khác. Điều quan trọng là, khác với những hệ thống kỷ luật mang tính cá nhân nói trên, pháp luật là hệ thống mang tính xã hội và lại là hệ thống xã hội duy nhất ép người ta vào kỷ luật. Kỷ luật xã hội chỉ có thể được hình thành nhờ pháp luật; xã hội có kỷ cương và xã hội có trật tự pháp luật phát triển là những khái niệm tương đồng.

Nhìn theo cách đó thì nội dung của pháp quyền đã có một ý nghĩa khác. Nội dung chủ yếu và quan trọng nhất của pháp quyền chính là tự do. Nói cho ngay, đấy là tự do ngoại tại, tự do tương đối, được quy định bởi môi trường xã hội. Nhưng tự do nội tại, tự do tinh thần, tự do có tính bền vững hơn, lại chỉ có thể hiện hữu khi có sự hiện hữu của tự do ngoại tại, cái sau là trường học tuyệt vời cho cái trước.

Continue reading

THỦ TỤC VÀ CÁCH THỨC TIẾN HÀNH ĐÌNH CÔNG

ĐỖ NGÂN BÌNH

Hầu hết các cuộc đình công ở nước ta thời gian qua đều rơi vào tình trạng trái pháp luật, mặc dù các cuộc đình công chủ yếu xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của người lao động. Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình trạng này là do pháp luật quy định về trình tự, thủ tục chuẩn bị đình công và cách thức tiến hành đình công phức tạp, thiếu tính khả thi. Do đó, yêu cầu thực tiễn đòi hỏi cần đơn giản hóa trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành đình công nhằm phát huy ý nghĩa tích cực của đình công trong việc giải quyết mâu thuẫn, bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động.

Đình công là hiện tượng mới xuất hiện ở nước ta khi chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đình công đã và đang diễn biến với chiều hướng phức tạp, không những tăng về số lượng mà cũng rất khó giải quyết hậu quả. Đáng chú ý là 100% các cuộc đình công đã xảy ra đều chưa hợp pháp[1]. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là những quy định về thủ tục chuẩn bị và cách thức tiến hành đình công không phù hợp với thực tiễn và ít tính khả thi. Do đó, người lao động khó có thể đảm bảo tính hợp pháp của cuộc đình công và bảo vệ những lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.

1. Nhận thức chung về thủ tục chuẩn bị và cách thức tiến hành đình công

Các quy định về thủ tục chuẩn bị và cách thức tiến hành đình công là một trong những điều kiện xét tính hợp pháp của cuộc đình công. Vấn đề này thông thường có thể được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc được thực hiện theo tập quán đình công ở những nước đã có lịch sử đình công tương đối dài.

Continue reading

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT – CÁCH NHÌN CỦA HÀNH PHÁP

TS. PHẠM TUẤN KHẢI

Nếu nói giải thích pháp luật (legal interpretation) là làm rõ tinh thần, nội dung của một văn bản pháp luật[1] thì việc giải thích phải gắn với thẩm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản. Mặt khác, giải thích pháp luật cũng còn bao hàm việc phải làm rõ các từ ngữ, cách hiểu thống nhất để vận dụng đúng đắn trong khi thi hành pháp luật. ở nước ta, ngoài Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) thì tất cả các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật đều có quyền giải thích pháp luật. Và từ góc độ thực tiễn, có thể khẳng định, các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp cũng có thẩm quyền giải thích pháp luật. Vậy, theo cách nhìn của các nhà hoạch định chính sách (hành pháp), khi nào cần giải thích pháp luật, phạm vi, nguyên tắc và hình thức giải thích pháp luật như thế nào?

1. Hành pháp với giải thích pháp luật

Hành pháp (excutive) một trong ba loại quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của bất cứ nhà nước nào, là sự thể hiện ý chí của Chính phủ trong việc hoạch định chính sách, đề xuất các chủ trương lớn, tạo tiền đề cho lập pháp, tư pháp và bảo đảm việc thực thi pháp luật trong toàn bộ bộ máy nhà nước. Hành pháp có nhiệm vụ riêng, ngoài việc đề xuất chính sách vĩ mô, can thiệp vào đời sống xã hội thông qua các hình thức cưỡng chế, kiểm tra và tài phán, nó còn có nhiệm vụ thiêng liêng cao cả là xây dựng, ban hành pháp luật theo thẩm quyền. Bên cạnh đó, nhiệm vụ xuyên suốt của các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp là xác lập trật tự quản lý (hành chính) từ trung ương đến địa phương, là cầu nối, là thước đo cho việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống xã hội: “không có hành pháp, không thể xác định được hiệu quả của việc thực hiện pháp luật”[2].

Continue reading

ĐỊA VỊ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CÁC CUỘC ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

LƯU HƯƠNG LY

Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong tất cả các điều khoản gia nhập WTO, có một cam kết ít được bàn luận nhưng lại có vị trí rất quan trọng, đó là việc Việt Nam chấp nhận bị coi là một nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm, kể từ khi gia nhập (không muộn hơn năm 2019). Vậy “nền kinh tế phi thị trường” nghĩa là gì và việc chúng ta cam kết như vậy sẽ có những tác động như thế nào đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là trong các cuộc điều tra chống bán phá giá? Bước đầu, xin được làm rõ vấn đề trên.

Nền kinh tế phi thị trường – hay còn được gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung – là tên gọi được dùng đến cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 cho nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm thông thường do một cơ quan giống như ủy ban kế hoạch Nhà nước soạn thảo. Đa số các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung nay đã chuyển thành nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình hướng tới mục tiêu đó.

Hiện nay, trong WTO chỉ có hai thành viên cam kết về địa vị nền kinh tế phi thị trường là Việt Nam và Trung Quốc. Trong Báo cáo về việc gia nhập WTO có đoạn: “Một số thành viên ghi nhận Việt Nam đã liên tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Những thành viên này cũng ghi nhận rằng, sẽ gặp những khó khăn đặc thù trong việc xác định chi phí và giá cả hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong các cuộc điều tra chống bán phá giá hay áp dụng các biện pháp đối kháng. Những thành viên này cho rằng, trong trường hợp đó nước nhập khẩu có thể nhận định rằng việc sử dụng chi phí và giá cả tại Việt Nam có thể sẽ không hợp lý”[2].

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC NA UY VỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Na Uy (sau đây gọi là “các Bên ký kết”),

Với mong muốn phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước nhằm bảo đảm việc thực hiện tốt hơn các quy định về di chuyển của cá nhân;

Nhận thức nhu cầu đấu tranh chống di cư bất hợp pháp và để tạo thuận lợi cho việc nhận trở lại, trên cơ sở có đi có lại, những người nhập cảnh và cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ của mỗi Bên ký kết;

Phù hợp với các điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên;

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục đích của Hiệp định này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “Thị thực” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và lưu trú trên lãnh thổ nước mình liên tục trong một thời gian được xác định theo pháp luật áp dụng tại nước đó.

b) “Giấy phép cư trú” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và cư trú nhiều lần trên lãnh thổ nước đó. Giấy phép cư trú không phải là thị thực và không được xem là giấy phép cư trú tạm thời cấp cho người đang chờ xét duyệt đơn xin tỵ nạn hoặc đang chờ thủ tục trục xuất cho phép người đó được lưu trú trên lãnh thổ một Bên ký kết.

c) “Yêu cầu” là văn bản chính thức của Bên ký kết yêu cầu gửi cho Bên ký kết được yêu cầu đề nghị nhận trở lại đối tượng.

Continue reading