MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH

LG. VŨ XUÂN TIỀN

Vụ kiện giữa Jetstar Pacific và Vinapco là vụ kiện đầu tiên được Hội đồng Cạnh tranh quốc gia đưa ra giải quyết về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo Luật Cạnh tranh. Trong khi phần lớn ý kiến cho rằng vụ kiện đã mở ra một tiền lệ cho việc giải quyết các tranh chấp về cạnh tranh và chống độc quyền, cũng có ý kiến đánh giá ngược lại. TBKTSG giới thiệu bài viết sau với một góc nhìn mới để bạn đọc tham khảo.

Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua ngày 3-12-2004. Sau một thời gian không được ứng dụng trong thực tế, gần đây đã có một vài vụ việc tranh chấp giữa các doanh nghiệp được chuyển tới Hội đồng quản lý cạnh tranh giải quyết. Dù sao đó cũng là một dấu hiệu tốt, chứng tỏ cạnh tranh lành mạnh trên thương trường đã được các doanh nghiệp quan tâm.

Ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp đang ở vị trí độc quyền còn khá nhiều, điển hình là điện lực, nước sạch, kinh doanh xăng dầu, trong đó có xăng dầu hàng không. Và Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) đã là doanh nghiệp đầu tiên bị phạt vì vi phạm Luật Cạnh tranh trong khi Vinapco thì cho rằng một số doanh nghiệp khách hàng đã lợi dụng sự thiếu chặt chẽ của các điều khoản liên quan đến quy định về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm trong Luật Cạnh tranh để vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế giữa hai bên.

Chúng ta còn nhớ, cách đây không lâu, theo đơn kiện của hãng hàng không Jetstar Pacific, Vinapco bị Hội đồng Cạnh tranh quốc gia xử phạt hơn 3,3 tỉ đồng vì đã “lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng” theo khoản 3 điều 14 Luật Cạnh tranh.

Continue reading

GIẢNG DẠY LUẬT SO SÁNH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Việc giảng dạy Luật So sánh ở các nước trên thế giới đã có hơn 150 năm lịch sử: từ nửa sau của Thế kỷ 19 ở một loạt các nước châu Âu, Luật So sánh đã được hình thành như một khoa học pháp lý và như một môn học. Năm 1861 ở Trường Đại học tổng hợp Okxford đã có Bộ môn Luật So sánh với Trưởng bộ môn là Giáo sư G. Men. Ở Mỹ, việc nghiên cứu và giảng dạy Luật So sánh được thực hiện trong ở các Bộ môn Pháp luật La Mã ở Trường Đại học tổng hợp Jelexk (1876) và Trường Đại học tổng hợp Columbia (1880) .

Giảng dạy Luật So sánh là một chủ đề nóng bỏng trong giáo dục pháp luật những năm gần đây và nhiều người cho rằng phải đổi mới cách giảng dạy cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Do sự toàn cầu hoá mà các trường luật phải dạy không chỉ pháp luật của quốc gia mình mà phải dạy nhiều hơn về luật quốc tế, luật của các nước trên thế giới. Thực tiễn pháp lý cho thấy pháp luật ngày càng mang tính quốc tế hơn, ví dụ như Luật Trọng tài, Luật Đầu tư và các trường luật phải bổ sung các vấn đề mới này vào chương trình giảng dạy để sinh viên được chuẩn bị tốt hơn và điều này cũng liên quan đến giảng dạy Luật So sánh.

Ở Việt Nam, Luật So sánh chỉ mới được đưa vào giảng dạy ở trường đại học vài năm nay và việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong lĩnh vực này theo chúng tôi là việc làm cần thiết. Bài viết này nhằm cung cấp một số thông tin về nội dung chương trình, giảng dạy Luật So sánh ở các nước trên thế giới, qua đây đưa ra những yêu cầu và triển vọng của giảng dạy Luật So sánh trong tương lai trên thế giới nói chung và ở Việt nam nói riêng.

1. Giảng dạy Luật So sánh ở Liên bang Nga

Ở Liên bang Nga, sự phát triển của Luật So sánh chỉ mới bắt đầu vào cuối thế kỷ 20 cùng với việc thoát khỏi những quan điểm cũ và sự phổ biến của những nghiên cứu luật so sánh. Năm 1996, xuất bản cuốn sách giáo khoa Luật So sánh đầu tiên ở Nga do Giáo sư Tikhomirov Iu.A. viết. Tuy nhiên, những công trình lớn trong lĩnh vực Luật So sánh hoặc nghiên cứu các hệ thống pháp luật được tiến hành chủ yếu ở góc độ lý thuyết hoặc nghiên cứu so sánh theo chuyên ngành hẹp. Nghiên cứu tổng thể các hệ thống pháp luật vẫn chưa có nhiều, chủ yếu do các nhà nghiên cứu luật so sánh Nga vẫn chưa mở rộng nghiên cứu ra ngoài chuyên ngành hẹp của mình.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 58/2009/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 07 NĂM 2009 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết các Điều 46, 60, 65, 73, 85, 86, 98 và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự.

Điều 2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Đương sự có quyền yêu cầu thi hành án trong thời hiệu yêu cầu thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc không thể gửi đơn yêu cầu thi hành án đúng hạn theo quy định tại khoản 1 Điều này thì đương sự có quyền gửi đơn đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án xem xét. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc xảy ra trở ngại khách quan nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 98/2009/TANDTC – KHXX NGÀY 30 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI THI HÀNH PHÁP LỆNH ÁN PHÍ, LỆ PHÍ TÒA ÁN

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

– Các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao;

– Các Toà hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Toà án nhân dân tối cao;

– Ban thanh tra Toà án nhân dân tối cao.

Ngày 27-02-2009, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XII đã thông qua Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án; Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2009. Để triển khai thi hành Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án, các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp, các đơn vị trực thuộc Toà án nhân dân tối cao cần thực hiện đúng một số vấn đề sau đây:

1. Kể từ ngày 01-7-2009, khi thụ lý các vụ việc dân sự, hình sự, hành chính để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm, các vấn đề về tạm ứng án phí, lệ phí; án phí, lệ phí Toà án phải được xem xét và quyết định theo đúng các quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

2. Đối với các vụ việc đã được Toà án thụ lý để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hoặc theo thủ tục phúc thẩm trước ngày Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án có hiệu lực pháp luật (ngày 01-7-2009), nhưng sau ngày 01-7-2009 Toà án mới giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, thì các quyết định về án phí, lệ phí Toà án được thực hiện theo quy định của Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ “Về án phí, lệ phí Toà án” và các văn bản trước đây về án phí, lệ phí Toà án; trường hợp theo quy định của Nghị định số 70/CP mà đương sự phải chịu án phí, lệ phí Toà án, nhưng theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án thì đương sự không phải chịu hoặc được miễn, giảm án phí, lệ phí Toà án, thì áp dụng quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án đối với họ.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

THS. CAO NHẤT LINH – Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Theo pháp luật Việt Nam, người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam. Do đó, người lao động nước ngoài tại Việt Nam được hiểu là người lao động trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có quốc tịch Việt Nam (1). Về mặt pháp lý, người nước ngoài làm việc cho các doanh nghiệp Việt Nam được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân trong quan hệ pháp luật về lao động. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến hoạt động nghề nghiệp như công đoàn, bảo hiểm xã hội… thì quyền tham gia của họ còn chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận.

Nếu căn cứ vào quy chế pháp lý thì người nước ngoài lao động tại Việt Nam có thể được chia thành hai loại cơ bản, đó là người nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động nước ngoài và người nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động Việt Nam.

Đối với người nước ngoài làm việc cho các hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam (người sử dụng lao động nước ngoài) thì thông thường, quyền và nghĩa vụ của họ sẽ được xác định theo pháp luật của quốc gia mà doanh nghiệp đó mang quốc tịch, nếu hai bên không có thỏa thuận luật áp dụng trong hợp đồng lao động. Đây là những người đã ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp ở nước ngoài, theo luật nước ngoài. Sau đó, họ chỉ đến Việt Nam làm việc theo hình thức di chuyển nội bộ trong doanh nghiệp. Do đó, các quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam, về nguyên tắc, sẽ không được áp dụng cho những đối tượng lao động này. Đồng thời, trong một số lĩnh vực khác liên quan như bảo hiểm xã hội, công đoàn… thì họ đương nhiên có quyền tham gia bảo hiểm ở nước ngoài và là thành viên của công đoàn ở quốc gia mà doanh nghiệp nước ngoài đó mang quốc tịch, mặc dù họ đang lao động trên lãnh thổ Việt Nam.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU: THAY ĐỔI QUYẾT ĐỊNH SAU 11 NĂM LÀ SAI?

BÌNH NGUYÊN

Lúc đầu tỉnh cho chủ đất nhận trọn thửa đất cho ở nhờ nhưng sau đó lại giảm xuống một nửa. Năm 1958, bà Nguyễn Thị Nương (ấp Long Thuận, xã Long Phước, huyện Long Hồ, Vĩnh Long) cho người quen sử dụng tạm 1.000 m2 đất hương hỏa để cất nhà, xây trại mộc. Lúc đó, người quen và con dâu là bà Nguyễn Thị Cúc cùng sống ở đây. Thời gian sau, người quen trả lại đất cho bà Nương và đi nơi khác sinh sống, còn trại mộc thì bỏ trống.

Sau giải phóng, bà Cúc quay về ấp Long Thuận sinh sống. Thấy hoàn cảnh bà Cúc khó khăn, UBND xã đã thỏa thuận với bà Nương cho bà Cúc sống tạm ở trại mộc ngày trước.

Năm 1991, bà Cúc đứng tên kê khai phần đất trên để được sử dụng hẳn. Không đồng ý, bà Nương đã khởi kiện. Năm 1992, tòa án huyện đã ra quyết định buộc bà Cúc trả lại 1.000 m2 đất cho bà Nương. Sau đó, quyết định này bị tòa án tỉnh hủy bỏ vì được ban hành không đúng thẩm quyền. Vụ tranh chấp này được chuyển đến UBND huyện giải quyết.

Năm 1995, UBND huyện Long Hồ đã ra quyết định buộc bà Cúc trả đất cho bà Nương, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của bà Nương cho bà Cúc 105 m2 đất nơi khác và một triệu đồng di dời. Lần này, bà Cúc đã khiếu nại.

Năm 1998, UBND tỉnh Vĩnh Long đã ra quyết định bác đơn khiếu nại của bà Cúc và công nhận cách giải quyết của UBND huyện. Tiếp sau đó, khi thanh tra lại vụ việc, UBND tỉnh đã ra công văn khẳng định: “Sự vụ không có tình tiết mới để làm thay đổi kết quả giải quyết của UBND tỉnh nên quyết định trên của UBND tỉnh là đúng pháp luật. Từ nay về sau, tỉnh không xem xét bất kỳ đơn khiếu nại nào liên quan đến vụ tranh chấp trên vì đã hết thẩm quyền”. Đến năm 2002, bà Nương được huyện cấp giấy đỏ cho số đất trên.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ SAO CHỤP HÌNH ẢNH ĐỒNG TIỀN

HỒNG HẠNH – Cục PH&KQ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Vừa qua, tại một số địa phương xuất hiện “Tiền giấy đồ chơi” là các ấn phẩm có in hình ảnh đồng tiền Việt Nam trên giấy cứng hoặc nền nhựa, được bày bán với tính chất như “đồ chơi”. Trước hiện tượng này, các cơ quan chức năng (công an, quản lý thị trường và cả Ngân hàng Nhà nước) đã vào cuộc để xem xét việc sao chụp hình ảnh đồng tiền Việt Nam có phải là hành vi vi phạm pháp luật hay không, nếu có thì xử lý đối với hành vi này như thế nào, chế tài xử phạt ra sao. Bài viết này xin trao đổi một số vấn đề về quy định sao chụp đồng tiền nhằm quản lý được một cách chặt chẽ hành vi sao chụp đồng tiền Việt Nam, góp phần vào hoạt động phòng, chống tiền giả.

1. Kinh nghiệm của các nước

– Làm tiền giả là hành vi phạm tội bị pháp luật nghiêm cấm, mặc dù những quy định nhằm ngăn chặn việc làm tiền giả ở mỗi nước có khác nhau, nhưng mỗi quốc gia đều có những quy định pháp lý nhằm hạn chế về việc sao chụp hay tái tạo (reproduction) hình ảnh đồng tiền của nước họ rất nghiêm ngặt, có nước thì cho phép sao chụp trong khuôn khổ quy định của Ngân hàng Trung ương, chính phủ; nhưng có nước quy định bất cứ hành vi sao chụp hình ảnh đồng tiền – thậm chí với mục đích nghệ thuật hoặc quảng cáo – là hành vi bị nghiêm cấm. Bên cạnh đó, các nước cũng rất chú trọng đến việc vận dụng các kỹ thuật để chống sao chụp đồng tiền.

– Nhóm Chống giả của Ngân hàng Trung ương (CBCDG – gồm 10 cơ quan phát hành tiền lớn trên thế giới) đã phát triển Hệ thống Ngăn chặn Tiền giả (CDS) nhằm ngăn chặn việc làm tiền giả bằng máy tính cá nhân, thiết bị xử lý hình ảnh kỹ thuật số và các phần mềm khác. Hệ thống này đã được các nhà sản xuất phần cứng và phần mềm các thiết bị sao chụp kỹ thuật số và xử lý hình ảnh tự nguyện ứng dụng. Hệ thống Ngăn chặn Tiền giả bao gồm kỹ thuật ngăn ngừa máy tính cá nhân và các công cụ kỹ thuật số sao chụp hình ảnh của đồng tiền đã được bảo vệ. Chẳng hạn, khi đưa một đồng EURO, đồng USD hay đồng Yên vào máy photocopy màu để sao chụp thì máy sẽ tự động dừng lại và/hoặc đưa ra lời cảnh báo về hành vi bị cấm.

Continue reading