RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN CHỦ ĐỘNG HAY THEO ĐƠN YÊU CẦU ĐỐI VỚI KHOẢN LỆ PHÍ TOÀ ÁN

THS. CÙ HOÀNG HANH – Thi hành án dân sự huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự năm 2008 ra đời đã bổ sung nhiều điểm mới quan trọng từ công tác tổ chức cán bộ đến quy trình, thủ tục thi hành án, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi đặt ra ngày càng cao của công tác thi hành án dân sự trong tình hình mới. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã có hiệu lực thi hành gần được một tháng rồi nhưng các văn bản hướng dẫn Luật thì chưa có, bên cạnh đó có nhiều quy định về thủ tục thi hành án cần được giải thích thì mới có thể áp dụng được. Dưới đây tôi xin được đề cập một trường hợp cụ thể như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Pháp lệnh án phí, lệ phí của Toà án ngày 27/2/2009 thì Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thu các khoản lệ phí Toà án sau:

1. Lệ phí giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

3. Lệ phí xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

4. Kháng cáo quyết định của Tòa án đối với yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 43 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án, nếu yêu cầu kháng cáo của họ không được chấp nhận (điểm d khoản 1 Điều 43).

Tuy nhiên căn cứ vào Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự không biết mình có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với khoản lệ phí Toà án hay không? Nếu có thì ra quyết định chủ động hay theo đơn yêu cầu. Đây cũng là vấn đền hiện nay đang có hai quan điểm khác nhau.

Continue reading

TÒA ÁN VÀ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP

TS. PHẠM VĂN HÙNG

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án.

1. Khái niệm, phạm vi cải cách tư pháp

Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, cải cách tư pháp luôn được hiểu với ý nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới có ích cho việc xây dựng nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nếu không đạt được ý nghĩa này, cải cách tư pháp sẽ bị coi là thất bại. Có thể xem việc cải cách tư pháp năm 1950 là một minh chứng. Thời kỳ đó, Bộ Tư pháp đã trình lên Chủ tịch Hồ Chí Minh dự án Sắc lệnh Cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng với những mục đích rất rõ ràng là bộ máy tư pháp cần được “dân chủ hoá”, “để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được hợp lý và giản dị hơn”[1]. Với ý nghĩa đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tư pháp non trẻ của nước ta. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết 49). Mục đích của việc xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp nhằm “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, hiện đại, bảo vệ công lý”. Tuy nhiên, trong điều kiện mới, để thể chế thành pháp luật theo các định hướng của Đảng, vấn đề đặt ra là cần có sự nhận thức thống nhất về khái niệm cơ quan tư pháp. Vì chỉ có thể xác định đúng đắn phạm vi cải cách tư pháp khi có sự nhận thức thống nhất về cơ quan tư pháp.

Continue reading

NHẬN DIỆN ĐÚNG VẤN ĐỀ VÀ TÌM GIẢI PHÁP PHÙ HỢP

HUY NAM

Từ những vấn đề cụ thể minh chứng sự khác biệt của tác động từ khủng hoảng kinh tế lên nền kinh tế các nước trên thế giới và Việt Nam (xem TBKTSG số 27 và số 28 năm 2009), tác giả đề xuất cách tìm biện pháp ứng phó phù hợp với tình hình.

Với kinh tế trong nước, trước tiên cần xác định, tình trạng suy thoái kinh tế tại Việt Nam là do bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và khủng hoảng kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, cần nhận rõ một sự thật rằng khủng hoảng có thể là của thế giới nhưng vấn đề thì của riêng mỗi nước. Và điều gì gọi là kinh nghiệm tại Mỹ chỉ có thể là bài học chung về kinh tế khủng hoảng, chứ không thể (không nên) bê nguyên xi về làm “bài học kinh nghiệm” cho Việt Nam.

Do không có vấn đề chung nên việc đi tìm lời giải, đưa ra giải pháp hay các biện pháp ứng phó sẽ cần dựa trên thực tế. Chẳng hạn, trong khi thanh khoản là một trong các vấn đề gay gắt của Mỹ và nhiều nước phương Tây trong quá trình khủng hoảng toàn cầu, thì ở Việt Nam vấn đề này diễn ra nhanh, mang tính cục bộ xảy ra trước thời điểm được ghi nhận khủng hoảng toàn cầu (trước tháng 9-2008).

Hoặc, cũng gọi là thất nghiệp, nhưng cách giải quyết có hiệu quả của Việt Nam có thể không phải là (hay không chỉ có) trợ cấp hay lệ thuộc ở nguồn cung việc làm mới mà là các biện pháp phát triển kinh tế nông thôn và khuyến khích hoạt động kinh tế gia đình.

Continue reading

VIỆT NAM ĐANG HƯỚNG HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI NĂNG ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ

TS. ĐÀM HỮU ĐẮC – Thứ trưởng Thường trực Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Diễn đàn An sinh xã hội thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Mát-xcơ-va năm 2007. Tham dự diễn đàn này có gần 1300 đại biểu của các tổ chức an sinh xã hội đến từ 129 quốc gia. Hiệp hội An sinh xã hội thế giới (ISSA) ra đời năm 1927, được tổ chức tại Bra-xin với sự tham gia của 17 tổ chức đại diện cho 20 triệu đối tượng từ nhiều nước trên thế giới.

82 năm qua, từ một tổ chức nhỏ đại diện cho các liên đoàn quốc gia của các quỹ bảo hiểm ốm đau của 9 nước châu Âu, ISSA đã trở thành một đối tác có tầm ảnh hưởng quan trọng và có vị thế lớn trên các diễn đàn và hợp tác quốc tế, đại diện cho hàng triệu đối tượng được bảo hiểm và bảo trợ trong mọi lĩnh vực của hệ thống an sinh xã hội.

Cùng với thời gian, ISSA đã chứng tỏ được sự lớn mạnh và hoạt động của mình trong lĩnh vực vận động xã hội, và tăng cường kiến thức về tầm quan trọng sống còn của an sinh xã hội trong các nền kinh tế đương đại. ISSA giờ đây đã là tổ chức hàng đầu thế giới chuyên về tập hợp các ý tưởng và kiến thức chuyên môn liên quan đến các vấn đề an sinh xã hội. Hiệp hội thường xuyên xây dựng các diễn đàn quy mô toàn cầu nhằm trao đổi thông tin và trao đổi về những vấn đề liên quan đến an sinh xã hội. ISSA có tầm bao phủ toàn cầu nhờ số lượng thành viên của mình, bao gồm 360 tổ chức, cơ quan an sinh xã hội của 150 nước trên thế giới.

Ngày nay, khái niệm về hệ thống an sinh xã hội được mở rộng. Vai trò của an sinh xã hội không chỉ còn giới hạn trong việc tái phân bổ thu nhập và trợ cấp để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho người dân. An sinh xã hội cần phải năng động hơn và chuyển từ tư duy cho rằng, an sinh xã hội là phương tiện bảo trợ, là một số khoản trợ cấp xã hội sang nhận thức mới về an sinh xã hội: an sinh xã hội là phương tiện phòng tránh và bảo vệ từng cá nhân trước những rủi ro và sự yếu thế. Phương pháp tiếp cận mang tính đổi mới này được gọi là “Hệ thống an sinh xã hội năng động”. An sinh xã hội có vai trò không chỉ đơn thuần là phương tiện bồi thường và khắc phục khó khăn cho đối tượng, mà là sự đầu tư vào yếu tố con người “vốn con người”.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THÁI LAN VỀ HỢP TÁC SONG PHƯƠNG NHẰM LOẠI TRỪ NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI, ĐẶC BIỆT LÀ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM VÀ GIÚP ĐỠ NẠN NHÂN BỊ BUÔN BÁN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan (dưới  đây được gọi là “hai Bên”);

Nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước và thúc đẩy hợp tác song phương để trấn áp nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em;

Nhận thức rằng nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em là sự vi phạm thô bạo nhân quyền và chà đạp trắng trợn phẩm giá con người;

Lo ngại sâu sắc rằng nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về thể chất, tinh thần, tình cảm, đạo đức của con người và làm phương hại đến nền tảng và các giá trị của xã hội;

Lưu ý rằng các băng nhóm và tổ chức tội phạm xuyên quốc gia đang tích cực tham gia vào việc buôn bán phụ nữ và trẻ em và loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia này không chỉ ảnh hưởng đến Việt Nam và Thái Lan mà còn ảnh hướng đến toàn khu vực và cộng đồng thế giới;

Khẳng định rằng hai Bên cùng quan tâm đấu tranh chống nạn buôn bán người có tính chất xuyên quốc gia như đã trình bày trong Tuyên bố Bangkok về Di cư bất hợp pháp đã được thảo luận tại Hội nghị chuyên đề quốc tế về di cư “Tiến tới hợp tác khu vực chống di cư bất hợp pháp/di cư lén lút” được tổ chức từ ngày 21 – 23/4/1999 tại Bangkok và “Hội nghị Bali về chống buôn người và vận chuyển người bất hợp pháp” tổ chức tại Bali từ ngày 26 – 28/02/2002; Bản Ghi nhớ về Hợp tác chống buôn bán người Khu vực tiểu vùng sông Mêkông ký tại Yangoon, Myanmar ngày 29/02/2004 và các hoạt động liên quan tiếp theo;

Tin tưởng rằng việc trấn áp tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em thông qua hợp tác song phương trong thực thi pháp luật và tố tụng hình sự là biện pháp hữu hiệu nhằm đảm bảo công lý chống nạn buôn người; và

Cam kết rằng hai Bên sẽ hợp tác thật sự để loại trừ nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, và để bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán;

Đã thỏa thuận như sau:

Continue reading