NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI ĐỔI MỚI TỐ TỤNG THEO HƯỚNG TRANH TỤNG

NGUYỄN QUỐC VIỆT

Đổi mới tố tụng hình sự, làm cho tố tụng thật sự dân chủ, bảo đảm khách quan, không làm oan người vô tội là một trong những nội dung của công cuộc cải cách tư pháp đã được nghị quyết của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo… để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật…”.

Đổi mới tố tụng hình sự, làm cho tố tụng thật sự dân chủ, bảo đảm khách quan, không làm oan người vô tội là một trong những nội dung của công cuộc cải cách tư pháp đã được nghị quyết của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo… để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật…”.

Với những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, có thể nhận định: tố tụng hình sự của Nhà nước ta hiện nay – xét theo mô hình của tố tụng hình sự trên thế giới – là thuộc hệ thống tố tụng kiểu thẩm vấn. Nếu muốn đổi mới theo hướng tranh tụng thì chúng ta cần xem xét những vấn đề thuộc về quan điểm sau đây:

Continue reading

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT SINGAPORE

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

I. Giới thiệu về Singapore

Singapore là quốc đảo ở Đông Nam Á với diện tích 639,1 km2 và thủ đô là Thành phố Singapore.
Dân số Singapore vào khoảng 4 triệu người với 77% là người Trung Hoa, 14% là người Mã Lai, 8% là người Ấn Độ và 1% là người lai Âu Á và người có nguồn gốc khác.
Có bốn ngôn ngữ chính thức được sử dụng ở Singapore: tiếng Mã lai, Quan Thoại, Tamil (ngôn ngữ của vùng Nam Ấn và Sri Lanka) và tiếng Anh. Tiếng Anh là ngôn ngữ dùng trong kinh doanh và hành chính, và đuợc sử dụng rộng rãi. Hầu hết mọi người dân Singapore đều nói được hai ngôn ngữ, tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh. Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ quốc gia.
Các tôn giáo chính ở Singapore là Hồi giáo, Lão giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, Ấn Độ giáo, Độc Thần Giáo (còn gọi là đạo Sikh) và Do Thái Giáo.

1. Sơ lược lịch sử Singapore

Tài liệu cổ đầu tiên bằng tiếng Trung Quốc cách đây 3 thế kỷ đã đề cập đến Singapore và mô tả nơi đây như là một "Pu-luo-chung" ("hòn đảo ở tận cùng bán đảo"). Vào thời đó, ít người biết đến lịch sử của hòn đảo này ngoài tài liệu mô tả sơ sài đã gây nên ấn tượng sai lầm về một quá khứ sôi động của Singapore.
Trước thế kỷ thứ XIV, Singapore được biết đến dưới tên gọi là Temasek ("Thành phố Biển") và là một bộ phận của đế quốc hùng mạnh Sri Vijayan.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: MỘT BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC KHÔNG ĐƯỢC THI HÀNH

DUY TUẤN

Một bản án dân sự đã có hiệu lực sau 2 lần xét xử, bị đơn liên tục gửi đơn khiếu nại nhưng bị cơ quan tư pháp các cấp bác bỏ. Thế nhưng, sau hơn 1 năm, bản án vẫn không được thi hành.

Bà Chu Thị Lân, 81 tuổi ở số nhà 30, Hàng Mã cùng với con cháu đã có đơn “xin cứu giúp khẩn cấp” gửi đến VietNamNet về việc sau nhiều lần đi “hầu tòa” đã đòi được nhà. Tuy nhiên, đã hơn 1 năm trôi qua, bản án vẫn không được thực thi. Nay gia đình bà có thể lại phải tiếp tục "hầu tòa" từ cấp sở thẩm để đòi lại nhà.

Thuê nhà rồi muốn “sở hữu” luôn (?)

Nguyên gốc ngôi nhà số 30 Hàng Mã (Quận Hoàn Kiếm) được xác nhận tại Công văn (CV) số 2771 của Sở TNMT & Nhà đất Hà Nội: “thuộc bằng khoán điền thổ số 1005, khu Đồng Xuân, nằm trên thửa đất số 376, bản đồ số 10 chữ A năm 1942 đứng tên ông Chu Tuấn Đức và bà Phạm Thị Ân” (bố mẹ của bà Chu Thị Lân).

Năm 1953, ông Đức cho một người thuê tầng 1 để mở hàng in, sau đó cửa hàng in này sát nhập với xưởng in Hoàn Cầu. Đến năm 1962, xưởng in Hoàn Cầu nhập lại với xưởng in Kim Sơn thành Liên xưởng in Kim Sơn (sau này là Công ty in Thống Nhất).

Thời gian đó, giữa gia đình cụ Đức, cụ Phạm Hải Kình và Liên xưởng in Kim Sơn đã có thỏa thuận bằng văn bản là xưởng in sẽ dùng nhà cụ Kình đang ở tại số 10, Ngõ Huyện (thuê của nhà nước) để mở rộng sản xuất, cụ Kình sẽ đến ở căn buồng ngoài tầng dưới ở nhà 30 – Hàng Mã. Hàng tháng, cụ Kình phải có trách nhiệm trả tiền thuê nhà cho Đức.

Continue reading

PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG TRONG QÚA TRÌNH TOÀN CẦU HÓA

THS. PHẠM TRỌNG NGHĨA

Việt Nam đã và đang tham gia ngày càng sâu, rộng vào quá trình toàn cầu hóa; mọi mặt của đời sống xã hội đã và đang thụ hưởng lợi ích…

1. Một số đặc điểm của lao động trong quá trình toàn cầu hóa

Dưới góc độ kinh tế, toàn cầu hóa là sự hội nhập của các hoạt động kinh tế xuyên qua biên giới lãnh thổ và thông qua các loại thị trường khác nhau[1]. Chịu tác động của toàn cầu hóa, vấn đề lao động có một số đặc điểm nổi bật như sau:

– Thứ nhất, người được tự do đi tìm việc. Toàn cầu hóa sẽ cho phép sự dịch chuyển tự do của lao động. Người lao động có nhiều sự lựa chọn hơn trong công việc; phạm vi làm việc không bó hẹp trong một quốc gia mà có thể di chuyển sang quốc gia khác. Sự chuyển dịch lao động trong quá trình toàn cầu hóa chính là giải pháp để giải quyết sự chênh lệch về điều kiện lao động, nhu cầu lao động giữa nước giàu và nước nghèo[2]. Có hai nhóm lao động chính tham gia quá trình chuyển dịch lao động: (i) lao động có trình độ chuyên môn cao và (ii) lao động phổ thông. Trong khi, phần lớn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao di chuyển từ các nước phát triển sang các nước kém phát triển thì ngược lại, lao động phổ thông từ các nước kém phát triển triển lại đến các nước phát triển hơn để tìm kiếm việc làm.

– Thứ hai, việc được tự do đi tìm người. Toàn cầu hóa dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn xuyên quốc gia (Transnational Corporations – TNCs) – với tư cách là chủ sử dụng lao động. Toàn cầu hóa cho phép các tập đoàn này có nhiều sự lựa chọn trong quá trình sản xuất kinh doanh, đó là: (i) sản xuất ở nước mình và sử dụng lao động, nhà cung cấp tại chỗ; (ii) chuyển một phần công đoạn trong quá trình sản xuất sang cho lao động nước ngoài và các chi nhánh hoặc (iii) chuyển toàn bộ việc sản xuất cho nhà cung cấp nước ngoài và các nhà thầu phụ[3]. Các nhà đầu tư được tự do lựa chọn địa điểm đầu tư ở nước này hoặc nước khác; nơi này hoặc nơi khác. Đầu tư để sản xuất kinh doanh có nghĩa là sẽ tạo ra việc làm, hay nói cách khác, việc làm gắn liền với vốn đầu tư. Như vậy có nghĩa là, khi vốn đầu tư có thể chuyển từ chỗ này qua chỗ khác thì việc làm có thể được đưa từ chỗ này qua chỗ khác. Vậy là từ chỗ người phải đi tìm việc, thì nay, việc cũng có thể đi tìm người.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN TRIỆU TẬP ĐƯƠNG SỰ

VĂN LUẬN – TAND Quận Tân Phú, TPHCM

Đối với các tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động thì thời gian ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của đương sự, ví dụ: hai công ty tranh chấp về chất lượng của hàng hóa nên bên mua không đồng ý nhận hàng, vì vậy không cho bên bán nhập hàng vào kho của mình, buộc nên bán phải thuê kho để gửi hàng. Đối với số lượng hàng hóa lớn thì số tiền lưu kho là rất lớn và tăng lên từng ngày. Ngòai ra đối với một số hàng hóa thì nếu để lâu ngày có thể gây hư hỏng hoặc không sử dụng được.

Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự nên tại điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sư 2005 qui định “Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án”. Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại khỏan 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 có quy định “ Đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khỏan 1 Điều này”. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa của các tranh chấp quy định tại Điều 29 và Điều 31 Bộ luật này là 03 tháng.

Tuy nhiên khoản 3 Điều 154 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 qui định “Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết”.

Continue reading

HIỂM HỌA CỦA NGHỊCH LÝ

TS. NGUYỄN ĐỨC MẬU

Có một số quan chức hôm qua xuất hiện ở những nơi sang trọng, xuất hiện trên báo chí và được đánh giá như những cán bộ có nhiều năng lực và mẫu mực, thế nhưng hôm nay lại bị khởi tố, bắt giam vì tham nhũng. Nghịch lý kiểu này mang đầy hiểm hoạ đối với xã hội.

Trong đời sống xã hội, nghịch lý có tính hiểm hoạ vốn không thiếu. Chẳng hạn, giàu – nghèo là chuyện của xưa, nay, của mai sau và của mọi nơi trên thế giới. Nhưng nghịch lý có tính hiểm hoạ cao của chuyện giàu – nghèo là người có trí tuệ không cao, làm việc không nhiều, lương thực tế từ một đến vài ba triệu một tháng, nhưng đời sống thực thì cao ngất ngưởng (đó là những người trong hệ thống quan chức), ngược lại nhiều trí thức và không hoặc chưa phải là trí thức, làm việc ngày đêm, song lương lại thấp, và tất nhiên đời sống thấp. Nghịch lý đó tác động xấu đến xã hội trên nhiều phương diện như nhận thức về xã hội, định hướng cuộc sống, lý tưởng sống và tác động đến cả giáo dục trẻ em, thanh niên.

Thực tế cuộc sống cũng đang tồn tại hai chiều đánh giá, hai hệ thống đánh giá, hay có thể nói là hai hệ thống giá trị, đang lưu hành "hợp pháp" bên cạnh nhau như những nghịch lý. Chẳng hạn, chúng ta luôn nói đến chất lượng giáo dục thấp, giáo dục không đạt tiêu chuẩn quốc tế, thợ lành nghề ít một cách trầm trọng, bằng cấp thật, chất lượng giả rất nhiều, số tiến sĩ có chất lượng thật ít đến mức đáng buồn. Thế nhưng mọi người đều biết, hiện nay số học sinh tiểu học, trung học cơ sở có tỉ lệ giỏi rất cao,cao lắm. Cũng vậy, khoá luận tốt nghiệp đại học điểm 9 (thang điểm 10) bị xem là điểm trung bình! Luận văn cao học cũng thế. Luận án tiến sĩ lại cũng nhiều người xuất sắc. Rồi nữa, các giải thưởng nhiều, các cuộc thi được tổ chức nhiều, tưng bừng, rôm rả lắm… Nếu nhìn vào hệ thống đánh giá hoặc kết quả đó, thì hiện tại và tương lai của Việt Nam đâu còn thua kém nước nào trên thế giới! Sự bình an, tin tưởng của các bậc phụ huynh đối với con cái tưởng là vững chắc, nhưng thực ra là một sự bình an, tin tưởng đáng báo động.

Continue reading

15 LỜI KHUYÊN GIÚP BẠN THỰC HIỆN MỘT BUỔI THUYẾT TRÌNH THÀNH CÔNG

1. Chuẩn bị thật kỹ càng: Bạn nên tìm hiểu về đối tượng sẽ tham dự buổi thuyết trình để có cách ăn mặc ấn tượng và phù hợp, cũng như chuẩn bị về tâm lý và tác phong giao tiếp. Tuy nhiên, bạn nên nhớ rằng một nền tảng kiến thức sâu rộng mới tạo nên sức mạnh của người thuyết trình.

2. Hãy biết tạo cầu nối giữa người thuyết trình với thính giả: Đây là điều mà khách hàng và nhà đầu tư đánh giá rất cao ở bạn. Thông thường trong một buổi thuyết trình, bạn quá chăm chú với việc chuyển tải các nội dung căn bản, còn khán giả, họ lại kiếm tìm ở bạn những giá trị khác có thể gây thiện cảm và tạo niềm tin cho họ. Bởi vậy, bạn không nên quá cứng nhắc mà hãy giao lưu với khán giả qua ánh mắt và cử chỉ thân thiện, cũng như những ngôn từ giản dị, dễ hiểu, pha chút hài hước nhẹ nhàng.

3.Trình bày ngắn gọn và thuyết phục: Đôi khi bạn chỉ có 5 phút cho phần thuyết trình, nhưng bạn hãy tự tin là sẽ truyền đạt được thông tin cần thiết, do đó không nên xin lỗi khán giả trước hay đề cập đến việc bạn không có nhiều thời gian. Hãy vào đề ngay và chia nhỏ nội dung để bài thuyết trình được mạch lạc.

4. Đi thẳng vào những nội dung quan trọng: Đừng nói lan man làm thính giả không hiểu bạn muốn nhấn mạnh vấn đề gì, nội dung chủ yếu mà bạn muốn nói đến là gì. Bạn hãy tập trung ngay vào những nội dung quan trọng mà bạn biết chắc chắn sẽ giúp bạn giành được sự chú ý của đối tác, cũng như sẽ thôi thúc khách hàng tiềm năng mua sắm sản phẩm của bạn. Cũng không nên níu kéo mọi người để “cho phép tôi bổ sung…”, sau khi buổi thuyết trình đã kết thúc.

Continue reading

ĐỪNG LƠ LÀ KHI SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG

TRẦN THỊ THÚY

Một lần, Bia Gates hỏi: “Đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động kinh doanh?”. Nhiều người cho rằng câu trả lời: "Tính chặt chẽ của hợp đồng" thật ngớ ngẩn, nhưng theo ông, đáp án đó đáng được điểm tối đa. Không chỉ thể hiện tính chuyên nghiệp, bản hợp đồng chặt chẽ còn thể hiện sự tôn trọng của bạn với đối tác khách hàng.

Khá nhiều tranh chấp xuất phát từ những sơ suất trong hợp đồng. Bởi vì trên thương trường, hầu hết các hoạt động kinh doanh đều được thể hiện thông qua hợp đồng. Đây chính là ràng buộc pháp lý về nghĩa vụ của các bên trong kinh doanh. Một câu hỏi được đặt ra ở đây: “Đâu là yếu tố quan trọng nhất của một thương vụ làm ăn?”. Phần lớn các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, đó chính là tính chặt chẽ của hợp đồng.

Vai trò của hợp đồng

Ở Ford, một trong các hàng sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới, bên cạnh hàng ngàn hợp đồng mua bán xe mỗi ngày, Hãng còn có nhiều giao dịch kinh doanh khác như đầu tư, phân phối, mua nguyên vật liệu… John Mene, cố vấn pháp luật của Ford, cho biết: “Trung bình, các giám đốc, trưởng phòng của chúng tôi phải ký gần 3.000 hợp đồng/ngày. Chỉ cần một hợp đồng có sai sót, cũng đủ để mất đi hàng triệu USD. Do vậy, quá trình soạn thảo, ký kết hợp đồng luôn được thực hiện chặt chẽ, có chữ ký của các nhân viên soạn thảo văn bản”.

Việc này trước hết giúp cho quyền lợi của công ty được bảo đảm, cụ thể là không thất thoát vốn. Thứ hai, hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra trôi chảy vì công việc được sắp xếp theo lịch trình, kế hoạch. Vì thế, thận trọng trong các giao dịch với đối tác là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
Một ví dụ điển hình khác là việc hợp tác kinh doanh đua ngựa giữa Câu lạc bộ Phú Thọ (TP.HCM) và Công ty Thiên Mã vào năm 2005.

Continue reading

ƯU TIÊN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÙ HỢP VỚI CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN VẬN HÀNH CỦA CƠ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

TS. TRẦN DU LỊCH

Trước hết cần xác định rõ chức năng của Nhà nước trong kinh tế thị trường. Đây là cơ sở để đổi mới nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế. Trước hết cần xác định rõ chức năng của Nhà nước trong kinh tế thị trường. Đây là cơ sở để đổi mới nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế. Kinh tế thị trường được vận động với sự tham gia của 3 chủ thể chính: (1) Người sản xuất (tức người cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho thị trường); (2) Người tiêu dùng và (3) Nhà nước. Hiện nay, trong quản lý nền kinh tế của chúng ta đang có sự lẫn lộn về vị trí, vai trò của 3 chủ thể này.

Thực tế nhiều việc Nhà nước cần phải làm theo chức năng Nhà nước, nhưng trong nhiều trường hợp Nhà nước không làm hoặc làm không đầy đủ; trong khi đó lại can thiệp vào vai trò chức năng của các chủ thể khác. Ví dụ, trong lĩnh vực quản lý kinh tế vĩ mô, vai trò quan trọng nhất của Nhà nước là định hướng mục tiêu phát triển, dự báo tình hình biến động của thị trường; kiểm soát độc quyền; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nhưng Nhà nước không tập trung đúng mức; trong khi đó lại can thiệp vào vấn đề giá cả, tiền lương là chức năng của doanh nghiệp. Một khi Nhà nước không xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mình ở từng cấp, từng ngành trong quản lý kinh tế thị trường, thì không thể quản lý có hiệu quả sự vận động của thị trường. Chậm thay đổi thói quen can thiệp của Nhà nước vào thị trường bằng các biện pháp hành chính, thay vì sử dụng các công cụ can thiệp gián tiếp để điều tiết thị trường. Chính các công cụ gián tiếp mới mang lại hiệu quả quản lý nhà nước và phù hợp với tính chất của cơ chế kinh tế thị trường. Quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường chính là tạo ra khuôn khổ pháp luật phản ảnh được mục tiêu, ý muốn chủ quan của Nhà nước trong quá trình phát triển; để qua đó các chủ thể khác tự quyết định các hoạt động của mình. Nhà nước không bao cấp rủi ro cho doanh nghiệp, nhưng cũng không tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp bằng các quyết định hành chính của mình.

Continue reading

CÔNG CHỨNG VIÊN “TIẾP TAY” CHO ĐỐI TƯỢNG LỪA SỔ ĐỎ

H. VŨ

Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân trong việc công chứng ủy quyền, Nguyễn Thu Hợp và Phạm Tuấn Anh đã soạn thảo bản công chứng mẫu với một số điều khoản nhằm "bẫy" chủ sở hữu, từ đó sử dụng "sổ đỏ" của họ mang đi thế chấp hoặc bán cho người khác lấy tiền đút túi.

Trong vụ này còn có dấu hiệu bất thường của công chứng viên trong quá trình thực hiện công chứng một loạt hợp đồng ủy quyền.

Ủy quyền "sổ đỏ" vay vốn, bị bán mất nhà

Tháng 7/2008, vợ chồng ông Trần Văn Mạnh và bà Nguyễn Thị Nương ở 108 B16 tập thể Công ty May 10, thị trấn Sài Đồng, Gia Lâm tá hỏa khi bỗng nhiên bị bà Nguyễn Thị Hỷ ở tổ 19 Ngọc Lâm, Long Biên đến đòi nhà. Bà Hỷ đưa ra một bản hợp đồng chuyển nhượng ngôi nhà của vợ chồng ông Mạnh, bà Nương được ký giữa chị Phạm Thị Vân Anh (con gái bà Hỷ) với Nguyễn Thu Hợp ở số 2 dốc Tam Đa với giá 1,1 tỷ đồng. Đến lúc này, bà Nương mới ngã ngửa vì Nguyễn Thu Hợp là người đã nhận "sổ đỏ" của vợ chồng bà để làm thủ tục vay vốn ngân hàng.

Sự việc bắt đầu từ tháng 4/2008, do có nhu cầu vay 350 triệu đồng đầu tư trang trại, qua người quen, bà Nương đã đến gặp Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Giám đốc Công ty Tư vấn môi giới dịch vụ vay vốn ngân hàng tại phố Nguyễn Trường Tộ nhờ vay vốn ngân hàng. Hạnh đồng ý và thỏa thuận bà Nương trích hoa hồng tương đương 5% số vốn được vay.

Theo hướng dẫn, sáng 21/5/2008, bà Nương đến nhà Hạnh tại phố Ngọc Hà để ký hợp đồng và gặp Hợp cùng một người đàn ông đợi sẵn, sau đó họ đưa bà Nương đến Phòng công chứng số 5 làm thủ tục ủy quyền.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: THIẾU HỢP ĐỒNG THANH LÝ . . . ĐƯA NHAU RA TÒA

HỮU TUẤN

Hơn 100 tỷ đồng tiền mua bán hàng hoá trong vòng 7 năm mà không hề có hợp đồng thanh lý, chốt nợ là nguyên nhân khiến hai bên phải kéo nhau ra toà…  Toà án Kinh tế, Toà án Nhân dân TP. Hà Nội vừa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty TNHH Daewoo Hanel (Công ty Hanel) và Công ty TNHH Dịch vụ Thảo Anh (Công ty Thảo Anh). Đây là vụ tranh chấp kinh tế khá đặc biệt khi nhà sản xuất kiện ra toà đòi nợ đại lý phân phối sản phẩm.

Từ năm 1998 đến 2005, giữa Công ty Hanel và Công ty TNHH Dịch vụ Thiên Hưng (mà sau năm 2002 là Công ty Thảo Anh) có ký kết hợp đồng mua bán hàng điện tử, điện lạnh do Công ty Hanel sản xuất với giá trị hàng hoá hơn 100 tỷ đồng. Theo hợp đồng đã được ký kết giữa hai bên về phương thức thanh toán là hàng tháng sẽ quyết toán, cộng sổ sách một lần, một năm sẽ cộng sổ, chốt nợ một lần.

Phương thức thanh toán là không thanh toán theo từng hoá đơn, mà thanh toán trên tổng số tiền hàng bán ra. Cũng từ đây mọi rắc rối bắt đầu nảy sinh. Giữa hai bên đã có hàng chục "thông báo tình hình thanh toán và xác nhận số dư nợ" có ký tên, đóng dấu của ông Đỗ Hữu Nghĩa, Giám đốc Công ty Thảo Anh, với các đại diện Công ty Hanel. Đây là những khoản nợ đọng gối đầu sau các giao dịch mua bán hàng hoá giữa hai bên.

Cho đến ngày 31/8/2005, số công nợ mà hai bên xác nhận với nhau là 1.038.560.213 đồng. Ngày 23/02/2006, Hanel có đơn khởi kiện Công ty Thảo Anh. Đại diện Công ty Hanel, ông Dương Kim Sơn cho rằng, ngoài số tiền nợ trên (tính từ tháng 8/2005 đến tháng 6/2009), bên Thảo Anh phải trả số tiền lãi suất của 46 tháng theo quy định là 418.020.425 đồng. Tuy nhiên, để thể hiện thiện chí, ông Sơn đã đề nghị Công ty Thảo Anh chỉ phải trả số nợ gốc mà không phải trả tiền lãi.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: ĐUỔI VIỆC SAI PHẢI BỒI THƯỜNG

HOÀNG YẾN

Tại tòa, doanh nghiệp lẫn nhân viên đều nói bên kia vi phạm hợp đồng lao động. Mới đây, sau nhiều lần hoãn xử, TAND quận 1 (TP.HCM) đã tuyên án một vụ tranh chấp lao động khá phức tạp giữa một nhân viên bị sa thải với cơ quan cũ.

Đuổi việc không báo trước

Theo đơn kiện mà bà H. nộp cho tòa từ đầu năm nay, tháng 3-2008, bà được nhận vào làm việc tại Công ty L. và hai tháng sau thì được ký hợp đồng lao động không thời hạn. Công việc của bà là hướng dẫn kỹ thuật tại một doanh nghiệp may mà Công ty L. đặt hàng gia công với mức lương 270 USD/tháng cùng khoản trợ cấp tiền xăng 350 ngàn đồng/tháng.

Tháng 9-2008, công ty L. ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lý do bà H. không hoàn thành công việc, làm công ty bị thiệt hại 100 ngàn USD.

Bà H. bảo lý do công ty đưa ra để đuổi việc bà là không đúng sự thật, đồng thời công ty sa thải bà không báo trước cũng như chỉ trả cho bà tiền lương trong tháng 9 là sai pháp luật. Vì thế, bà yêu cầu công ty thanh toán cho bà hơn 3.500 USD (khoảng hơn 60 triệu đồng) tiền lương kèm phụ cấp trong những ngày bà không được làm việc tính đến ngày xét xử…

Công ty phản tố

Ngược lại, công ty nói từ tháng 8 đến tháng 9-2008, bà H. thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành công việc được giao. Cụ thể, bà không kiểm tra cẩn thận chất lượng các lô hàng gia công nên toàn bộ hàng bị đối tác từ chối tiếp nhận, làm công ty phải bồi thường gần 100 ngàn USD.

Continue reading