KHOẢNG CÁCH GIỮA TINH THẦN CỦA LUẬT VÀ THỰC THI

TS. TRẦN LÊ ANH – giảng dạy kinh tế và quản lý tại Đại học Lasell, Mỹ

Có lẽ không có gì bất ngờ khi mới đây Bộ Thương mại (DOC) và Ủy ban Thương mại Quốc tế (ITC) của Mỹ quyết định tiếp tục duy trì thuế chống phá giá đối với cá ba sa, cá tra sau năm năm áp dụng.

Trường hợp nhiêu khê của con tôm, con cá Việt Nam ở Mỹ có thể xem như một điển hình của cách thức mà Mỹ thực thi luật chống bán phá giá nói chung. Đây cũng là bài học kinh nghiệm về cách Mỹ thực thi luật chống cạnh tranh không công bằng.

Luật trên tinh thần

Luật chống bán phá giá được đặt ra là để trừng phạt sự cạnh tranh không công bằng của các nhà sản xuất nước ngoài nhằm tạo một sân chơi bình đẳng cho các nhà sản xuất trong nước.

Theo tinh thần này thì có lẽ không có gì để phàn nàn, bởi vì thúc đẩy cạnh tranh công bằng là một mục tiêu tích cực. Thật ra, nhìn từ phía Mỹ, nếu không có luật chống bán phá giá thì sẽ không tránh khỏi một số ngành nghề nội địa bị tổn thương vì hành động cố ý bán tháo của các công ty cạnh tranh nước ngoài. Hai trường hợp sau đây có thể minh chứng điều này.

Thứ nhất, để thúc đẩy sự phát triển của một ngành công nghiệp chiến lược, một chính phủ có thể hỗ trợ các nhà sản xuất trong nước của mình thông qua nhiều phương tiện, chẳng hạn như cung cấp vốn và mặt bằng. Vì được hỗ trợ nên các nhà sản xuất này sẵn sàng xuất khẩu sang các nước khác với giá bán rẻ hơn cả giá thành sản xuất bình thường nhằm tăng số lượng bán ra.

Khi gặp trường hợp này thì các nhà sản xuất cùng mặt hàng tại nước nhập khẩu không thể nào cạnh tranh nổi nếu như không được hỗ trợ giống như vậy từ chính phủ của họ. Do đó, cũng là hợp lý khi áp dụng thuế chống bán phá giá để giải quyết vấn đề bất công này.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-BNG NGÀY 9 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA BỘ NGOẠI GIAO HƯỚNG DẪN DỊCH QUỐC HIỆU, TÊN CÁC CƠ QUAN, ĐƠN VỊ VÀ CHỨC DANH LÃNH ĐẠO, CÁN BỘ CÔNG CHỨC TRONG HỆ THỐNG HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC SANG TIẾNG ANH ĐỂ GIAO DỊCH ĐỐI NGOẠI

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 15/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao;
Sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao hướng dẫn dịch Quốc hiệu, tên các cơ quan, đơn vị và chức danh lãnh đạo, cán bộ công chức trong hệ thống hành chính nhà nước sang tiếng Anh để giao dịch đối ngoại.

Điều 1. Phạm vi và nội dung dịch sang tiếng Anh

1. Trong Thông tư này Quốc hiệu, tên cơ quan và chức danh trong hệ thống hành chính nhà nước cấp trung ương được dịch đầy đủ sang tiếng Anh; tên của các đơn vị thuộc cơ quan và Ủy ban nhân dân các cấp được dịch phần danh từ chung.

2. Ban hành kèm theo Thông tư này “Phụ lục dịch Quốc hiệu, tên các cơ quan, đơn vị và chức danh lãnh đạo, cán bộ công chức trong hệ thống hành chính nhà nước sang tiếng Anh để giao dịch đối ngoại”.

3. Tên viết tắt theo chữ cái tiếng Anh của các Bộ (ví dụ: Bộ Ngoại giao là MOFA, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là MPI), cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được dịch trên cơ sở thực tế các cơ quan đã sử dụng trong các văn bản đối ngoại.

4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dịch tên đầy đủ của các đơn vị, tổ chức trực thuộc, các chức danh chưa được dịch trong phụ lục Thông tư này sang tiếng Anh và lập thành văn bản để sử dụng đối ngoại.

Continue reading

ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN: TỪ PHÁP LUẬT NỘI DUNG ĐẾN TỐ TỤNG DÂN SỰ

NGUYỄN MINH HẰNG

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 đã bổ sung và hoàn thiện thêm về chế định người đại diện của đương sự, đặc biệt liên quan đến các quy định về người đại diện theo ủy quyền. Trong phạm vi bài viết dưới đây, tác giả trao đổi một số vấn đề xung quanh quy định về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền, những vướng mắc nảy sinh từ việc hiểu và áp dụng các quy định của BLTTDS về vấn đề này trong thực tiễn thụ lý và giải quyết các tranh chấp dân sự. Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Việc tham gia của người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Tương tự như trong pháp luật nội dung (Xem hộp 1), pháp luật tố tụng dân sự (từ Điều 73 đến Điều 78 BLTTDS) phân chia người đại diện ra làm 2 loại là người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự nói chung và người đại diện theo ủy quyền nói riêng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự, đặc biệt trong trường hợp đương sự không tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Hộp 1: Theo Bộ luật Dân sự (BLDS) “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản” (Điều 151). Người đại diện theo ủy quyền là “Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có thể ủy quyền cho người khác phù hợp với quy định của Bộ luật này nhân danh mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” (Điều 152). Điều 150 khoản 2 làm rõ hơn khái niệm hạn chế đối với người đại diện theo ủy quyền “Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền”. Như vậy, khi hai bên (bên ủy quyền và bên được ủy quyền) thiết lập một quan hệ ủy quyền đồng thời thiết lập một quan hệ hợp đồng với tính chất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. Bên ủy quyền phải trả thù lao nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện một số hành vi nhất định làm phát sinh hậu quả pháp lý liên quan đến quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng hoặc lợi ích của người đã ủy quyền trong phạm vi ủy quyền. Vì vậy, xét về mặt bản chất pháp lý, quan hệ ủy quyền luôn tồn tại 2 quan hệ:

Continue reading

MỘT CHỮ CỦA NGƯỜI LÀM LUẬT

HOÀNG NHẬT LINH

Đôi khi, chỉ một từ đưa vào văn bản luật của các nhà làm luật đã tước đi cơ hội kinh doanh chính đáng của các doanh nhân và doanh nghiệp. Anh bạn nhà báo cao to, đẹp trai và rất phong độ này lại được các nhà doanh nghiệp đặt cho cái biệt danh nghe kinh người – Long “chết yểu”. Mọi biệt danh đều có sự tích. Và Long “chết yểu” cũng vậy. Số là cách đây 5 năm Long có mở một doanh nghiệp và khi công ty của anh bắt đầu ăn nên làm ra thì lại bị chết bất đắc kỳ tử chỉ vì một chữ của người làm luật.

Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định: “Chứng chỉ hành nghề của giám đốc hoặc những người quản lý khác đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.” Về người quản lý doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 1999 quy định: “Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức danh khác do điều lệ công ty quy định.” Trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 có chữ “hoặc”, có nghĩa là giám đốc doanh nghiệp không nhất thiết phải có chứng chỉ hành nghề mà chỉ cần có một số người quản lý doanh nghiệp có chứng chỉ hành nghề là được. Số người quản lý doanh nghiệp bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề có thể là một hoặc nhiều người. Giám đốc doanh nghiệp khác hẳn với người quản lý doanh nghiệp. Giám đốc đòi hỏi có óc tổ chức, vạch ra được chiến lược phát triển doanh nghiệp và có đủ mọi điều kiện về tài chính, kinh nghiệm, các mối quan hệ… để thực hiện được chiến lược đó. Còn người quản lý điều hành doanh nghiệp thì phải có chuyên môn, quản lý xí nghiệp dược nhất định phải có bằng dược sĩ cao cấp và đó là chứng chỉ hành nghề.

Continue reading

MÔ HÌNH GIÁM SÁT CHÍNH QUYỀN BẰNG TƯ PHÁP Ở MỸ

ĐẶNG MINH TUẤN

Trong Nhà nước pháp quyền, điều đặc biệt quan trọng là phải tìm ra các biện pháp để giới hạn quyền lực Nhà nước nhằm chống lại sự lạm quyền hay lộng quyền của Nhà nước mà xâm phạm đến các quyền con người.

Có nhiều cách thức kiểm soát và giới hạn chính quyền, và trong số đó cách thức kiểm soát chính quyền bằng tư pháp có nhiều ưu thế, được thiết lập và áp dụng phổ biến trên thế giới. Cách thức kiểm soát chính quyền cơ bản của tư pháp là giám sát tư pháp (Judicial Review)(1). Có nhiều mô hình giám sát tư pháp, trong đó có mô hình giám sát tư pháp bằng hệ thống Tòa án thường, có mô hình được đặc trưng bởi một cơ quan chuyên biệt (Tòa hiến pháp, hội đồng bảo hiến) thực hiện chức năng giám sát tư pháp và có cả mô hình áp dụng phối kết hợp những đặc điểm của mô hình trên.

Mô hình giám sát tư pháp ở Mỹ đặc trưng cho mô hình giám sát bởi hệ thống Tòa án thường và được gọi là mô hình giám sát phi tập trung (Diffuse system)(2). Do mô hình này lần đầu tiên được thiết lập ở Mỹ, do đó nhiều người gọi đây là mô hình Mỹ (the American system).

I. Quyền giám sát tư pháp và quyền tối cao tư pháp

Khi Alex đến nước Mỹ và nghiên cứu về hệ thống chính trị của Mỹ cách đây hơn 150 năm, ông ta đã có nhận xét rằng cách thức mà người Mỹ lập ra hệ thống quyền lực tư pháp là chỉ có riêng ở Mỹ. Khi đề cập đến quyền lực của các Tòa án, ông cho rằng thẩm quyền quan trọng nhất của quốc gia là quyền giám sát tư pháp (Judicial Review)(3).

Continue reading