THỰC HIỆN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG TRÊN THỰC TẾ

NGUYỄN NGỌC KHÁNH

Về bản chất, nghĩa vụ hợp đồng là quan hệ tạm thời, và thậm chí là quan hệ ngắn hạn phải được chấm dứt vào một lúc nào đó. Phương thức thông thường nhất để chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng là việc thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng[1]. ở nước ta, khi thực hiện hợp đồng, các bên không những chịu sự điều chỉnh trực tiếp của những quy định chung tại mục 7 Chương XVII, Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) về thực hiện hợp đồng (từ Điều 412 đến Điều 422), mà còn phải tuân thủ những quy định chung tại mục 2 Chương XVII, BLDS 2005 về thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 283 – Điều 301) và những quy định riêng của BLDS 2005 về thực hiện những hợp đồng thông dụng.

1. Đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng

Khi đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng, từ phía người có thẩm quyền bao giờ cũng nảy sinh hai câu hỏi độc lập: người có nghĩa vụ đã thực hiện những hành vi hai bên cam kết chưa? Nếu có, thì đã thực hiện như thế nào và có đúng không?[2] Trường hợp thứ nhất là nói về việc thực hiện những hành vi (hoặc không được thực hiện những hành vi) thuộc đối tượng của hợp đồng – hay còn gọi là việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế (NVHĐTT); trường hợp thứ hai là nói về “chất lượng” thực hiện nghĩa vụ đến đâu, tức là việc bên có nghĩa vụ có tuân thủ đúng hay không đúng các điều kiện về nghĩa vụ mà hai bên đã thỏa thuận (hoặc pháp luật có quy định), như: điều kiện về đối tượng, điều kiện về địa điểm, điều kiện về thời hạn, điều kiện về phương thức thực hiện … Nếu tuân thủ đúng các điều kiện này, có thể nói rằng, bên có nghĩa vụ đã thực hiện NVHĐTT và đồng thời thực hiện đúng nghĩa vụ. Ngược lại, nếu các điều kiện về nghĩa vụ không được tuân thủ nghiêm ngặt, bên có nghĩa vụ dù đã thực hiện những hành vi thuộc đối tượng của hợp đồng vẫn sẽ bị coi là thực hiện không đúng nghĩa vụ. Dựa trên sự khác biệt giữa hai trường hợp này, pháp luật nhiều nước nhìn chung đều thừa nhận vị trí riêng biệt của việc thực hiện NVHĐTT và việc thực hiện đúng nghĩa vụ. Điều này được thể hiện rất rõ trong thực tiễn xét xử cũng như trong luật thực định các nước như Anh, Nga, Đức …

Continue reading

QUYỀN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ

TRỌNG BẢO

Xét về bản chất, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính, thiết lập giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân khác trong xã hội và được điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh quyền uy.

Xét về bản chất, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính, thiết lập giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân khác trong xã hội và được điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh quyền uy. Dưới góc độ vật chất, quan hệ pháp luật thuế được thiết lập để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN). Tiền đề thiết lập quan hệ pháp luật thuế là do sự hình thành chính thể nhà nước để quản lý điều hành các hoạt động trong xã hội. Bộ phận chức năng ấy cần có nguồn vật chất hoạt động, nên thuế hình thành. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tư cách là người nộp thuế (NNT) buộc phải chuyển giao một phần lợi ích của mình cho NSNN. Điều 80 Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận "Đóng thuế là nghĩa vụ của công dân". Vì thế, khi thiết lập quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tư cách là NNT trước khi Luật Quản lý thuế ra đời, thường chỉ được nhìn nhận dưới góc độ phải thực hiện nghĩa vụ mà có rất ít quyền. Vì có ít, hoặc không xác định rõ quyền của NNT khiến cho chủ thể này cảm thấy mình bị cưỡng bức, bị tước bỏ một phần lợi ích vật chất nên hệ quả là họ sẽ tìm cách để trốn tránh nghĩa vụ thuế. Ngoài ra, NNT có thể còn bị các cơ quan, cán bộ công quyền nhũng nhiễu khi thực thi quyền hành thu thuế mà nhà nước trao. Việc nhận thức không đầy đủ này có thể gây thiệt hại cho Nhà nước lẫn NNT và xã hội nói chung vì những hao phí cho các mục tiêu không mang lại giá trị.

Continue reading

Pháp luật cạnh tranh trong WTO VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

NGUYỄN THANH TÚ

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thương mại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thươngmại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

Các quy định về tự do hóa thương mại của WTO, được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc không phân biệt đối xử, tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia và minh bạch, nhằm giảm bớt và loại trừ các hàng rào của chính phủ đối với thương mại quốc tế. Trong khi đó, các quy định về cạnh tranh công bằng điều chỉnh điều kiện cạnh tranh và hành vi của các doanh nghiệp trong một quốc gia (haytrong một khu vực) nhằm loại trừ những hàng rào tư gây tổn hại đến quá trình tự do hoá thương mại. Hai nhóm quy định này bổ sung cho nhau nhằm đạt đến mục tiêu chung là đem lại lợi ích và thịnh vượng chung cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế.

Continue reading

PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG WTO VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

NGUYỄN THANH TÚ

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thương mại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thươngmại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

Các quy định về tự do hóa thương mại của WTO, được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc không phân biệt đối xử, tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia và minh bạch, nhằm giảm bớt và loại trừ các hàng rào của chính phủ đối với thương mại quốc tế. Trong khi đó, các quy định về cạnh tranh công bằng điều chỉnh điều kiện cạnh tranh và hành vi của các doanh nghiệp trong một quốc gia (haytrong một khu vực) nhằm loại trừ những hàng rào tư gây tổn hại đến quá trình tự do hoá thương mại. Hai nhóm quy định này bổ sung cho nhau nhằm đạt đến mục tiêu chung là đem lại lợi ích và thịnh vượng chung cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế.

Continue reading

LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

THS. TRẦN MINH NGỌC

Ở Việt Nam, khi bàn tới vấn đề luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế, người ta thường chỉ nhắc tới luật điều chỉnh nội dung tranh chấp và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài mà chưa dành sự quan tâm đáng kể tới luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài. Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài khác với luật điều chỉnh nội dung tranh chấp (từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài. Luật này được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề liên quan tới thoả thuận trọng tài như sự giải thích, tính hợp pháp, hiệu lực, phạm vi, và huỷ bỏ thoả thuận trọng tài[1]. Bài viết tập trung trả lời cho câu hỏi: Luật nào sẽ giải quyết vấn đề hiệu lực của thoả thuận trọng tài?

1. Điều khẳng định trước tiên là, thoả thuận trọng tài phải tuân thủ luật của nước được áp dụng đối với thoả thuận trọng tài (dù là một điều khoản trong hợp đồng hay một thoả thuận được lập ngoài hợp đồng vào thời điểm phát sinh tranh chấp) nếu các bên mong muốn tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài chứ không phải là một phương pháp khác; hơn nữa là, phán quyết trọng tài cuối cùng sẽ có hiệu lực và được bảo đảm thi hành. Trên thực tế, hiệu lực của thoả thuận trọng tài được xem xét trong hai trường hợp sau đây:

Trường hợp 1: Khi xuất hiện một sự phản đối thẩm quyền của trọng tài được đưa ra trước hội đồng trọng tài

Đây là trường hợp một khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài được gửi tới hội đồng trọng tài khi hội đồng đang trong quá trình giải quyết vụ việc nhưng chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Khiếu nại về thẩm quyền trọng tài khá đa dạng, đó có thể là sự viện dẫn về sự không rõ ràng trong lựa chọn toà án hay trọng tài của thoả thuận trọng tài, hay lựa chọn một tổ chức trọng tài không có trên thực tế để xét xử tranh chấp v.v.. Để xác định xem trọng tài có thẩm quyền không, lúc này cần phải căn cứ vào thoả thuận trọng tài. Nhìn chung, trong trường hợp này, các trọng tài viên đều tôn trọng luật do các bên thoả thuận lựa chọn điều chỉnh thoả thuận trọng tài để xác định tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài. Nếu các bên đã không có bất kỳ sự thoả thuận chọn luật nào như vậy, thực tiễn trọng tài thường đi theo các hướng giải quyết khác nhau[2]. Có ba hướng giải quyết chính sau đây:

Continue reading

HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ THỰC THI, BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM

LÊ XUÂN THẢO

Theo đánh giá của các đối tác kinh tế quan trọng, Việt Nam đã và đang có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ nhưng vấn đề thực thi đang cần một lộ trình và giải pháp phù hợp.

1- Sự cần thiết của việc bảo hộ quốc tế các quyền sở hữu trí tuệ trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều này mở ra cơ hội to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước nhưng chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức đặc biệt là tuân thủ các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ trước hết là do nhu cầu của sự phát triển và giao lưu quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế, thương mại diễn ra ngày càng sôi động. Bảo hộ quốc tế quyền sở hữu trí tuệ là một hoạt động có tính tất yếu, khách quan, không ngừng được phát triển, thể hiện trên hai hướng: mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ bằng các thiết chế quốc tế và không ngừng chi tiết hoá nội dung bảo hộ. Điều này, ngày càng gắn chặt với quan hệ thương mại song phương, khu vực và toàn cầu. Việc gắn bảo hộ sở hữu trí tuệ với thương mại quốc tế, một mặt, sẽ tạo điều kiện để có những cơ chế bảo hộ quốc tế hữu hiệu hơn về sở hữu trí tuệ, mặt khác, cũng sẽ gây ra rất nhiều sức ép và khó khăn cho các nước có trình độ khoa học công nghệ thấp, đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực hay toàn cầu phải thực thi các cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Continue reading