THU NHẬP THỰC TẾ CỦA LAO ĐỘNG KHU VỰC NHÀ NƯỚC VẪN TĂNG

DƯƠNG NGỌC

Từ 1/5/2009, mức lương tối thiểu của người lao động tăng từ 540 nghìn đồng/tháng lên 650 nghìn đồng/tháng, tức là tăng 20%. Những đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp lương hàng tháng năm 2008 đã tăng 15%, từ 1/5/2009 được tăng thêm 5%. Cũng trong 4 tháng đầu năm nay, cán bộ, công chức, viên chức lương thấp (có hệ số lương từ 3,0 lần mức lương tối thiểu trở xuống) đã được nhà nước phụ cấp thêm 90 nghìn đồng/tháng…

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân một tháng của lao động khu vực Nhà nước trong 6 tháng đầu năm nay đạt 2.795,8 nghìn đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng này đã cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân 6 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước (10,27%), nên thu nhập thực tế đã tăng lên (khoảng gần 1,7%).

Nếu phân theo ngành và phân theo cấp quản lý thì có sự khác biệt đáng quan tâm. Xếp từ cao xuống thấp, ngành tài chính tín dụng có thu nhập gần 6 triệu đồng, khối đảng, đoàn thể, hiệp hội gần 2 triệu đồng.

Hai là, thu nhập của ngành cao nhất cao gấp 2,1 lần mức bình quân chung và gấp 3,1 lần ngành thấp nhất.

Ba là, ngành khoa học và công nghệ cả năm trước đứng thứ 6, nay vượt lên đứng thứ 5 nhờ “khoán 10” trong khoa học.

Bốn là, ngành thương nghiệp mặc dù bị tác động của khủng hoảng về lĩnh vực xuất khẩu, nhưng thương mại trong nước tăng trưởng cao (nếu loại trừ tốc độ tăng giá bình quân so với cùng kỳ đã tăng 8,8%, cao hơn tốc độ tăng 8% của cùng kỳ và cao hơn gấp đôi tốc độ tăng 3,9% của GDP.

Continue reading

KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

Khả năng môi giới là chìa khoá để hoàn thành bất cứ một thương vụ về bất động sản thành công nào, dù lớn hay nhỏ. Vấn đề ở đây là nghệ thuật môi giới phức tạp hơn nhiều việc mặc cả giá bán. Đó là sự chuẩn bị tinh thông, kiến thức về bản tính của con người, là cách thức tìm hiểu làm thế nào để phát hiện và khai thác được những điểm yếu của đối phương, học những kỹ năng đặc biệt và nhiều điều phức tạp khác. Theo Donald Trump thì trong môi giới về bất động sản nên áp dụng các thủ thuật sau :

1. Tạo nên tính độc nhất cho bất động sản

Một trong những quy luật cơ bản nhất của bản chất con người là chung ta ai cũng muốn có thứ mà người khác muốn có hoặc không ai khác có được. Nếu bạn nói với ai đó rằng bạn không muốn bán một khu bất động sản của mình, có thể họ sẽ muốn có được khu bất động sản đó hơn. Thậm chí, có thể họ sẽ bám lấy bạn cho đến khi bạn phải đưa ra một mức giá. Điều đơn giản là một thứ gì đó với số lượng có giới hạn sẽ tạo sẽ tạo ra một mong muốn sở hữu nó.

2. Đừng để cảm giác hợp lý đánh lừa

"Cảm giác hợp lý" đánh lừa tất cả những ai không chú ý đến nguy hiểm mà nó tạo ra. Đó là sự nhẹ dạ của những ai tin vào những gi mà họ độc được từ các văn bản hoặc nghe được từ các phương tiện thông tin đại chúng hay một vài nguồn thôn tin xác đáng từ chính quyền. Nó âm ỉ ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định của tất cả mọi người trong cách biểu hiện của nó.

Continue reading

BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

TRẦN TRUNG KIÊN

Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 07/11/2006. Tại thời điểm này, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chúng ta đã có nhiều điểm tương thích với Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ – TRIPS. Theo đó, một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong hiệp định TRIPS – giống cây trồng mới – lần đầu tiên được điều chỉnh trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Đây là vấn đề còn mới mẻ ở nước ta cả về lý luận lẫn thực tiễn. Vì vậy, để các quy định về bảo hộ giống cây trồng mới có thể được thi hành trong thực tiễn, chúng ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

1. Xu hướng chung của thế giới

Xét trên phương diện lịch sử hình thành và phát triển, giống cây trồng mới có thể được coi là thế hệ “sinh sau đẻ muộn” trong gia đình các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Phải mãi đến những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, cùng với việc thông qua Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng (UPOV) vào tháng 12/1961, quyền sở hữu trí tuệ của những người sáng tạo giống cây trồng lần đầu tiên được cộng đồng quốc tế thừa nhận và bảo hộ. Các quốc gia đã nhanh chóng nhận ra rằng, hoạt động sáng tạo giống cây trồng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn cả trong bảo vệ môi trường. Do vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng đã trở thành một cam kết bắt buộc mà tất cả các nước cần phải thực hiện trước khi tiến hành gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Khoản 3 Điều 27, Hiệp định TRIPS quy định: “các thành viên phải bảo hộ giống cây trồng bằng hệ thống patent hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào”.

Continue reading

CƠ SỞ HIẾN ĐỊNH VỀ THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH CÔNG CỘNG Ở VIỆT NAM

TS. PHAN TRUNG HIỀN

Để phục vụ cho mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế -xã hội, thời gian qua, Nhà nước ta đã tiến hành thu hồi có đền bù một số tài sản của cá nhân, tổ chức, trong đó có đất đai. Việc thu hồi này dựa trên cơ sở pháp lý cao nhất là quy định tại Điều 23 của Hiến pháp năm 1992 về trưng mua, trưng dụng tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Riêng đối với tài sản là đất đai, thì những nguyên tắc hiến định về sở hữu và quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân tại Điều 17, Điều 18 của Hiến pháp năm 1992 phải được nhắc tới. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ kỹ thuật lập hiến và lập pháp, tác giả cho rằng, có một số vấn đề cần bàn thêm về các quy định này cũng như về việc giải thích, hướng dẫn và vận dụng trong thực tế nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác thu hồi đất vì mục đích công cộng[1].

1. Nguyên tắc hiến định cơ bản và các quy phạm hiến định chi tiết

Thông qua việc tìm hiểu các quy định trong Hiến pháp 1992, ta nhận thấy các quy phạm trong Hiến pháp không hoàn toàn giống nhau. Một số quy phạm chứa đựng nguyên tắc; còn các quy phạm khác (quy phạm hiến định chi tiết) chỉ làm công việc quy định chi tiết các nguyên tắc đó để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cụ thể hóa và áp dụng trong các ngành luật.

Quy phạm chứa đựng nguyên tắc (nguyên tắc hiến định cơ bản) là các quy phạm thể hiện bản chất chế độ và tạo cơ sở nền tảng để quy định chi tiết các điều khác. Các điều chứa đựng quy phạm nguyên tắc thường tập trung ở những điều đầu tiên của Hiến pháp, nhưng cũng có thể nằm rải rác trong toàn bộ nội dung Hiến pháp. Ví dụ, ở nước ta, trong Hiến pháp năm 1992: nguyên tắc nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 2); nguyên tắc Đảng lãnh đạo và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật (Điều 4); nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý (Điều 17, 18) v.v.. là các nguyên tắc cơ bản. Còn lại, nhiều điều lại quy định chi tiết các nguyên tắc cơ bản nên phải tuân thủ các điều có tính nguyên tắc.

Continue reading

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VND NHẰM CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

PGS.,TS. NGUYỄN VĂN TIẾN

Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 là sự phát triển và lan tỏa của cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và còn tiếp tục diễn ra trong năm 2009. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại. Mặc dù Việt Nam đã chuyển hướng chính sách để đối phó với khủng hoảng, tuy độ mở của nền kinh tế Việt Nam khá cao nhưng còn chịu tác động bất lợi trên cả 3 bình diện: thương mại, đầu tư và tài chính nên sẽ đứng trước nhiều thách thức.

Năm 2008, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam chiếm 30% tổng đầu tư, đầu tư gián tiếp qua các kênh trái phiếu chính phủ, thị trường chứng khoán chiếm tỉ trọng khá cao (39% trái phiếu và 25% tổng mức vốn hoá của thị trường), nhưng đã có dấu hiệu suy giảm do khủng hoảng. Báo động đối với Việt Nam là thâm hụt cán cân thương mại đã ở mức đỉnh điểm, đặc biệt là thâm hụt thương mại với quốc gia láng giềng Trung Quốc. Trong tổng mức thâm hụt 17 tỉ USD hàng hoá của Việt Nam với thế giới thì riêng thâm hụt với Trung Quốc đã lên tới 12 tỉ USD, tiếp đến là thâm hụt thương mại với các đối thủ cạnh tranh là các nước ASEAN và Hàn Quốc, chỉ thặng dư với Hoa Kỳ và EU. Như vậy, muốn duy trì tăng trưởng, Việt Nam cần kiểm soát các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát huy hiệu quả của các chính sách này đến các chỉ tiêu kinh tế, đối phó với cuộc khủng hoảng. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại với mục đích đưa ra các giải pháp cho chính sách tỷ giá VND nhằm cải thiện cán cân thương mại trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Trước tiên, bài viết nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng chính sách tỷ giá nhằm cải thiện cán cân thương mại để rút ra được những bài học kinh nghiệm và từ đó đề xuất được các giải pháp khả thi cho Việt Nam.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: MẠNH AI NẤY XỬ, KHÓ THI HÀNH

VĂN ĐOÀN

Do hai bản án liên quan tuyên hai nội dung khác nhau nên việc thi hành án bị khựng khá lâu.Thi hành án TP Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đang lúng túng chưa biết phải thi hành như thế nào đối với hai bản án của tỉnh này vì hai bản án có nội dung mâu thuẫn nhau.

Năm 1997, ông R. khởi kiện ông L. (ngụ thị xã Vĩnh Long) ra tòa để đòi lại tiền bán máy cày. Ông R. trình bày từ năm 1996, ông có bán cho ông L. một số máy cày. Theo thỏa thuận thì trong thời hạn một tháng, ông L. phải thanh toán hơn 120 triệu đồng. Nhưng rồi ông L. đã không thực hiện đúng cam kết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L. cũng thừa nhận có mua máy cày của ông R. và còn thiếu ông R. số tiền nêu trên. Sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ, Tòa án thị xã Vĩnh Long đã xử cho ông R. thắng kiện. Ông L. có trách nhiệm trả cho ông R. hơn 120 triệu đồng. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật.

Tưởng chỉ có thế, nào ngờ giữa ông R. và người bạn là ông H. xảy ra mâu thuẫn. Ông H. cho rằng vào năm 1995, ông H. có mở cơ sở bán máy cày. Do quen biết nên ông H. thuê ông R. trông coi cửa hàng. Năm 1996, ông L. đến cửa hàng của ông H. mua máy cày và thiếu nợ hơn 120 triệu đồng. Lúc đó, ông H. giao cho ông R. khởi kiện ông L. để đòi tiền giúp. Như vậy, số tiền mà bản án của TAND thị xã Vĩnh Long yêu cầu ông L. phải trả cho ông R. thực chất là của ông chứ không phải của ông R.

Năm 2005, do thương lượng không được nên ông H. đã kiện ông R. ra TAND huyện Long Hồ (nơi ông R. cư ngụ) với yêu cầu được xác định số tiền mà bản án năm 1997 của TAND thị xã Vĩnh Long xử buộc ông L. phải trả cho ông R. là của ông.

Continue reading

QUI ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008 VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN NGHĨA – Bộ Tư pháp

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung, giải quyết tố cáo nói riêng trong lĩnh vực thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong việc kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật (nếu có) của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Do đó, công tác giải quyết tố cáo luôn được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Nhờ có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về thi hành án dân sự ở Trung ương, các cấp uỷ, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan khác có liên quan mà công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích chính đáng của các bên đương sự, công dân, cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự trong thời gian qua đã gặp phải không ít những khó khăn, vướng mắc nhất định, trong số các nguyên nhân đó có nguyên nhân cơ bản về mặt thể chế. Cụ thể Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 mới chỉ quy định một điều về tố cáo và giải quyết tố cáo, đó là: “Việc tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo” (Điều 63). Đây là quy định mang tính chất dẫn chiếu đến pháp luật chung về giải quyết khiếu nại, tố cáo mà chưa có những quy định cụ thể mang tính đặc thù về giải quyết tố cáo riêng trong lĩnh vực thi hành án dân sự tại pháp lệnh, ví dụ về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, thẩm quyền, thời hạn, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tố cáo về thi hành án dân sự, v.v…

Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THUỘC HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ HỢP TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN GIỮA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

Chính phủ các nước Brunei Darussanlam, Vương quốc Campuchia, Cộng hòa Indonesia, Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào, (“Lao PDR”), Malaysia, Liên bang Myanmar, Cộng hòa Philippines, Cộng hòa Singapore, Vương quốc Thái Lan và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (“ASEAN”) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (“Trung Quốc”) được gọi chung là “các nước ký kết”, hoặc “nước ký kết” nếu chỉ nhắc tới một thành viên ASEAN hoặc Trung Quốc);

Nhắc lại Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện (“Hiệp định khung”) giữa ASEAN và Trung Quốc do các vị lãnh đạo Chính phủ/Nhà nước của các quốc gia ASEAN và Trung Quốc ký tại Phnom Penh ngày 04 tháng 11 năm 2002;

Nhắc lại khoản 1 Điều 11 của Hiệp định khung về việc xây dựng các thủ tục và cơ chế giải quyết tranh chấp chính thức phù hợp phục vụ các mục tiêu của Hiệp định khung trong vòng 1 năm kể từ ngày Hiệp định khung có hiệu lực;

Đã nhất trí như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục tiêu của Hiệp định này, các định nghĩa sau đây sẽ được áp dụng trừ phi có quy định khác:

(a) Tất cả các định nghĩa trong Hiệp định khung sẽ được áp dụng trong Hiệp định này;

(b) “ngày” nghĩa là ngày theo lịch, gồm cả ngày cuối tuần và ngày nghỉ khác;

(c) “các bên trong tranh chấp”, “các bên tranh chấp” hoặc “các bên liên quan” nghĩa là bên khiếu nại và bên bị khiếu nại;

Continue reading