CÔNG LÝ TRONG NHỮNG VỤ ÁN KHÓ

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN (Pháp)

Sát nhân là tội khó tha thứ. Thế nhưng, có những bản án được tuyên chừng như quá nhẹ, lạ là lại nhận được sự cảm thông của người ngoài cuộc. Bởi có những người làm chết con vì bất cẩn, vô ý. Và cả vì tình thương!

Cực hình của tòa án lương tâm

Chuyện thứ nhất, thủ phạm là người cha, một dược sĩ vừa bị tòa buộc tội ngộ sát và xử chỉ có 8 tháng tù treo thay vì 3 năm cho tội danh này. Điều khủng khiếp ở chỗ nạn nhân là một đứa bé mới 2 tuổi rưỡi, chết do sự bất cẩn đến mức khó hiểu của người cha.

Sau khi chứng kiến và làm nhân chứng một vụ tai nạn giao thông mà kẻ gây tai nạn bỏ trốn, người cha bị sốc, bỏ quên con trai trong xe đậu ở bãi, ngay bên cạnh nhà thuốc nơi ông ta làm việc suốt mấy giờ. Dưới nắng hè thiêu đốt, cửa xe đóng kín, đứa bé ngất xỉu. Một người qua đường tình cờ thấy, gọi báo cảnh sát nhưng đã quá muộn.

Sự đãng trí bất chợt của người cha đã lấy đi sinh mạng một đứa trẻ ngây thơ, chưa đủ trí thông minh để tự cứu mình. Thoạt nghe khó ai không bất bình, thế nhưng vị thẩm phán đã yêu cầu hội đồng xử án như sau: “Tội ngộ sát thành lập nhưng quý vị nên đưa ra phán quyết mang tính nhân văn, và tôi yêu cầu quý vị hãy gửi một thông điệp cảm thông đến người cha không phải vì lỗi lầm ông ta gây ra mà chính vì nỗi đau mà ông ta đang hứng chịu”.

Continue reading

TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRỰC TUYẾN – CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TỐI ƯU CHO MỘT NỀN THƯƠNG MẠI HIỆN ĐẠI

THS. TRẦN ANH HUY – Công ty Luật hợp danh INVENCO

Quan niệm mới và cách tiếp cận mới:

Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành dòng chảy chủ đạo như hiện nay, thương mại quốc tế ngày càng phát triển. và trở thành một chủ đề quan trọng trong hầu hết các buổi nghị sự của các tổ chức quốc tế. Sự phát triển thương mại quốc tế đã kéo theo sự phát triển của nhiều yếu tố khác, một trong các nội dung đó là luật pháp và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

Thật vậy, ngày càng có nhiều công ước quốc tế, hiệp định song phương liên quan đến thương mại quốc tế ra đời, thậm chí còn có cả Tổ chức thương mại thế giới WTO được xây dựng để điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước. Thực tế là khi quan hệ thương mại quốc tế phát triển bao nhiêu thì đồng thời kéo theo sự ra đời của những hệ thống pháp luật mới để quản lý nó. chúng ta biết rằng trước kia thương mại quốc tế chỉ được hiểu là mua bán hàng hoá quốc tế. Tuy nhiên hiện nay các vấn đề khác như dịch vụ, đầu tư,.. cũng được hiểu là thương mại. Phương thức mua bán cũng thay đổi nhiều hơn, trước kia chủ yếu là mua bán hàng hoá quốc tế và chuyên trở bằng tầu biển, nhưng hiện nay còn có thể mua bán qua mạng internet….Sự phát triển của thương mại quốc tế như vậy đặt ra cho chúng ta, những người nghiên cứu về luật pháp thương mại quốc tế là các cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại cũng như các cơ sở pháp lý hiện có có đủ khả năng đáp ứng cho các hoạt động thương mại quốc tế hay không. Nếu không đủ phải thay đổi như thế nào? Chúng ta cần nhận thức rằng pháp luật cũng như các cơ chế giải quyết tranh chấp được ra đời là để:1- tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế; 2- đảm bảo công bằng cho các bên liên quan; 3 – đảm bảo pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/2009/NĐ-CP NGÀY 24 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội khóa XII;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về Thừa phát lại, văn phòng Thừa phát lại; phạm vi, thủ tục thực hiện công việc của Thừa phát lại; giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát đối với hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan.

2. Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.

3. Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật.

Continue reading

CẦN CÓ LUẬT VỀ BAN HÀNH THỦ TỤC

DIỆP VĂN SƠN

Thủ tục là một biện pháp của chính phủ mọi quốc gia dùng để quản lý điều tiết mọi hoạt động của đời sống xã hội. Thủ tục đúng, hợp lý sẽ giúp quản lý tốt xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Ngược lại, thủ tục rườm rà, chồng chéo, không cần thiết, thiếu tính khả thi sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội, gây mất lòng tin đối với công chúng, tạo điều kiện phát sinh tệ nhũng nhiễu…

Được biết trong thẩm quyền của mình, Chính phủ chủ trương sớm chuẩn hóa thủ tục hành chính. Vừa qua Hội đồng Tư vấn cải cách hành chính đã công bố danh sách 500 ý kiến về thủ tục hành chính liên quan đến 19 lĩnh vực gây khó cho doanh nghiệp.

Kinh doanh là lĩnh vực nóng bỏng hiện nay, là lĩnh vực có tính chất xương sống của nền kinh tế thị trường, thế nhưng trên thực tế hầu như bất kỳ lĩnh vực nào có quan hệ giữa công dân và doanh nghiệp với cơ quan công quyền đều xuất hiện những mê hồn trận thủ tục nhiêu khê…

Thiết nghĩ, về lâu dài cần có “Luật về ban hành thủ tục”. Công việc này, không ai khác hơn là Chính phủ đứng ra soạn thảo để trình Quốc hội. Còn nếu chỉ chuẩn hóa hay thực hiện biện pháp mạnh quy định thủ tục hết hiệu lực khi không chứng minh trước một hội đồng thẩm định chuyên môn tính cần thiết của thủ tục thì e rằng mới chỉ làm phần ngọn, chữa cháy chuyện đã rồi, sau đấy thủ tục phiền hà vô lý lại tái xuất hiện như nấm sau mưa! Vì suy cho cùng thủ tục là do con người và cơ chế bày ra.

Cũng con người đó, cơ chế đó thì thủ tục loại đó, loại phiền hà phi lý, tái xuất hiện cũng là chuyện dễ hiểu.Không chỉ có ở nước ta, mà hầu như câu chuyện về quy định thủ tục thiếu tính khả thi, gây phiền hà thậm chí không cần thiết, luôn là vấn nạn chung đối với nền hành chính của mọi quốc gia.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: 14 NĂM KHÔNG THỂ THI HÀNH ÁN

HỒNG TÚ

Các cơ quan liên quan đã nhiều lần ngồi lại tìm hướng gỡ nhưng 14 năm nay vẫn còn bế tắc. Trước đây, tại Bình Định, ông Nguyễn Đưa cùng đồng phạm thường xuyên mua hàng điện tử nhập lậu bằng đường biển, đưa vào nội địa bán lại kiếm lời. Tháng 7-1993, tàu hàng của ông Đưa đã bị đội tuần tra Công an tỉnh Bình Định bắt quả tang khi đang vận chuyển một số lượng lớn hàng điện tử lậu.

Ông Đưa cùng bảy đồng phạm bị TAND tỉnh Bình Định phạt lần lượt từ hai đến bốn năm tù về tội buôn lậu (ông Đưa bị phạt ba năm tù treo). Về phần xử lý vật chứng, tòa tuyên tịch thu sung công quỹ chiếc tàu BĐ 0243-TS2 của ông Đưa. Sau khi các bị cáo kháng cáo xin giảm án, tháng 4-1995, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã tuyên y án sơ thẩm.

Vật chứng “biến mất”

Từ tháng 3-1994, để đảm bảo cho việc thi hành án, VKSND tỉnh Bình Định đã ra lệnh kê biên tạm giữ chiếc tàu của ông Đưa và giao tài sản cho người đại diện hợp pháp tạm bảo quản, chờ xử lý. Tuy nhiên, ngày 9-3-1994, khi cơ quan điều tra đến thực hiện lệnh kê biên chiếc tàu thì mới biết chiếc tàu đã bị ông Đưa bán cho người khác với giá chín triệu đồng.

Về phần mình, sau khi tiếp nhận bản án có hiệu lực thi hành, giữa năm 2005, trưởng Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định đã ra quyết định thi hành đối với khoản tịch thu chiếc tàu của ông Đưa. Đến lúc chấp hành viên đi xác minh tài sản thì kết quả cũng y như lúc cơ quan điều tra thực hiện lệnh kê biên. Không chịu bó tay, chấp hành viên xác minh mở rộng thêm địa chỉ của người mua nhưng cũng chỉ thu về con số không.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 146/2009/TT-BTC NGÀY 20 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU, NỘP VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG LỆ PHÍ GIẢI QUYẾT CÁC VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN QUỐC TỊCH

Căn cứ Luật Quốc tịch;
Căn cứ Pháp lệnh Phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 và Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch tại Việt Nam như sau:

Điều 1: Đối tượng thu và mức thu lệ phí:

Công dân Việt Nam và người nước ngoài khi nộp đơn tại Việt Nam để xin nhập quốc tịch Việt Nam, trở lại quốc tịch Việt Nam, thôi quốc tịch Việt Nam phải nộp một khoản lệ phí theo mức thu quy định tại Biểu mức thu lệ phí giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch sau đây:

STT

NỘI DUNG THU

MỨC THU (VNĐ)

1

Lệ phí xin nhập quốc tịch Việt Nam

3.000.000

2

Lệ phí xin trở lại quốc tịch Việt Nam

2.500.000

3

Lệ phí xin thôi quốc tịch Việt Nam

2.500.000

Điều 2. Các đối tượng được miễn lệ phí liên quan đến quốc tịch:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2315/BTP–THA NGÀY 17 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ VIỆC ÁP DỤNG QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Kính gửi:

– Cục trưởng Cục Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng,
– Giám đốc Sở Tư pháp,
– Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Luật thi hành án dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009. Vì vậy, kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009, những vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Đối với những nội dung Luật Thi hành án dân sự giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, ngày 13 tháng 7 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự. Trong khi chờ các Nghị định nói trên được ban hành, có hiệu lực pháp luật, Bộ Tư pháp đề nghị các đồng chí lưu ý một số nội dung sau đây:

I. VỀ TỔ CHỨC, CÁN BỘ

1. Những quy định tại Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự (sau đây gọi tắt là Nghị định số 50/2005/NĐ-CP) không trái với quy định của Luật Thi hành án dân sự vẫn có hiệu lực thi hành cho tới khi có Nghị định mới thay thế. Các quy định tại Điều 10, Điều 11, Điều 20, Điều 22, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 26, Điều 27 và Điều 30 của Nghị định số 50/2005/NĐ-CP không phù hợp với quy định của Luật Thi hành án dân sự nên kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON NUÔI: GIÀNH LẠI QUYỀN NUÔI CON

VĂN ĐOÀN

Tranh chấp quyền nuôi trẻ với bà ngoại nhưng không được các cơ quan pháp luật địa phương giải quyết. Bài “Giành nuôi cháu ngoại” (Pháp Luật TP.HCM ngày 6-5) có phản ánh vụ tranh chấp quyền nuôi trẻ bốn tuổi giữa bà Trần Thị Kim Hạnh (ngụ phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP.HCM) với bà K. (thị trấn Chư Ty, huyện Đức Cơ, Gia Lai). Đến nay, vụ việc này vẫn chưa được giải quyết.

Năm 2005, con gái bà K. đến nhà bà Hạnh sinh con. Ít ngày sau, do con bà K. bỏ lại trẻ nên bà Hạnh đã đứng ra làm giấy khai sinh cho trẻ với tư cách là mẹ. Cuối tháng 2-2009, bà K. đưa trẻ lên Gia Lai chơi. Lấy lý do “để công an địa phương không làm khó dễ”, bà K. đề nghị bà Hạnh đưa khai sinh của trẻ, đồng thời viết giấy chuyển quyền nuôi con. Sau đó, bà K. không chịu giao trả trẻ, viện lẽ đã đưa cho bà Hạnh 30 triệu đồng…

Không ai chịu xử lý

Phản đối việc bà K. đưa tiền, bà Hạnh đã nộp nhiều đơn yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét, buộc bà K. phải giao trả trẻ cho bà. Cho rằng vụ việc chỉ đơn thuần là tranh chấp dân sự, Công an huyện Đức Cơ đã chuyển hồ sơ đến UBND thị trấn Chư Ty. Ngày 7-4, do hòa giải không thành nên UBND thị trấn đã chuyển hồ sơ đến TAND huyện.

Ngày 21-4, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai xác định đây là tranh chấp về xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND theo khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng đến ngày 18-5, TAND huyện Đức Cơ đã ra thông báo trả lại đơn kiện của bà Hạnh vì “không thuộc thẩm quyền”.

Continue reading

LỊCH HỌC MÔN LUẬT DÂN SỰ HỌC KỲ I NĂM HỌC 2009 – 2010 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

1. HỌC KỲ:  Học kỳ 1 năm học 2009 – 2010

 2. CHƯƠNG TRÌNH HỌC:

 2.1. Môn Luật dân sự – Modul 1 theo học chế tín chỉ (Nội dung môn học theo phương pháp tín chỉ – Chưa áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ)

* Người học: Sinh viên Khóa 33

* Nội dung môn học:

Modul 1 có 3 tín chỉ, bao gồm 12 vấn đề:

Vấn đề 1: Khái niệm chung luật dân sự Việt Nam

Vấn đề 2: Quan hệ pháp luật dân sự

Vấn đề 3: Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự

Vấn đề 4: Giao dịch dân sự, đại diện, thời hạn, thời hiệu

Vấn đề 5: Tài sản

Vấn đề 6: Nội dung quyền sở hữu

Vấn đề 7: Hình thức sở hữu

Vấn đề 8: Căn cứ xác lập và chấm dứt quyền sở hữu

Vấn đề 9: Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu và các quy định khác về quyền sở hữu

Continue reading

VÀI NHẬN XÉT VÀ SUY NGHĨ VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẬU DỊCH (FAIR TRADE)

NGÔ VĨNH LONG

Trong bài về sự bí ẩn trong “thế giới hàng hóa” của Marx,[1] tác giả Lữ Phương có viết những dòng sau đây về trao đổi hàng hóa (trang 1):

Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi, mình cần cái mình không có mà không bị thiệt thòi. Muốn như vậy thì phải tìm ra một chuẩn mực chung giữa hai hàng hoá để làm cơ sở cho cuộc trao đổi đó. 

Chuẩn mực chung đó là gì?  Trong trao đổi đơn giản, Marx cho rằng nếu đó là sự chi phí sức lao động tính bằng độ lâu (durée) về thời gian của các loại lao động riêng biệt thì trong xã hội mà sự trao đổi hàng hoá đã trở thành hiện tượng “chi phối”, phổ biến, sự chi phí về sức lao động đó đã biểu hiện như một hình thái đồng nhất, trừu tượng mang ý nghĩa của một bản thể xã hội gọi là giá trị. Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.

             Đoạn trích ở trên có hai câu gây cho tôi ít nhiều suy nghĩ: “Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi” và “Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.” Lữ Phương đã trình bày rất chi tiết phân tích của Marx về “hình thái giá trị” đề cập ở trên; và việc đánh giá nguyên tắc ngang giá của Marx như thế nào là tùy người “đọc.” .

Continue reading