TỔNG HỢP CÁC QUI ĐỊNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ, DÂN SỰ, HÀNH CHÍNH VỀ QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG BẰNG

TS. NGUYỄN VĂN THẢNH – THS. NGUYỄN THỊ HẠNH

I. Khái niệm quyền tiếp cận công bằng

1. Khái niệm

Quyền tiếp cận công bằng hay quyền tiếp cận công lý được dịch từ cụm từ tiếng Anh "access to justice"[1]. Đây cũng có thể coi là một khái niệm mới trong giới luật học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Coi đó là khái niệm mới bởi nội dung, ý nghĩa của nó vẫn còn được thảo luận sôi nổi tại các diễn đàn khoa học và kết quả cho thấy, có thể hiểu và nên hiểu một cách linh hoạt ý nghĩa, nội dung của cụm từ này trong mỗi lĩnh vực, phạm vi, hoàn cảnh, thời điểm, địa điểm và mục đích nghiên cứu. Ví dụ, tại Hội nghị Diễn đàn toàn cầu về tiếp cận công bằng tổ chức tại New York từ ngày 6/4 đến ngày 8/4/2000, các tham luận và thảo luận được trình bày toát lên ý nghĩa của cụm từ tiếp cận công bằng có thể sử dụng trong các khái niệm và ý nghĩa mà theo đó, có thể bao hàm cả việc được bảo đảm có đại diện pháp luật cho người nghèo tới việc cải cách pháp luật một cách toàn diện và liên quan tới vấn đề toàn cầu hoá. Các luật sư từ Mỹ nhấn mạnh đến quyền được bảo đảm có luật sư về dân sự cho tất cả các cá nhân; cũng có luật sư kêu gọi việc cần phải có nguồn lực để ổn định nền tư pháp và cung cấp các chương trình đào tạo pháp lý. Trong khi đó, các luật sư thuộc Nam Phi lại nhắc tới hiệu quả của các án lệ trong việc bảo vệ quyền của các công dân hạng thấp của xã hội.

Như vậy, có nhiều cách hiểu, nhiều con đường khác nhau để đi tới khái niệm tiếp cận công lý, công bằng. Ví dụ, trong bối cảnh thiếu hụt các dịch vụ pháp lý cho người nghèo thì các nhà nghiên cứu có thể đánh giá khía cạnh vai trò của các luật sư trong việc tiếp cận công bằng đối với người nghèo.

2. Phạm vi nghiên cứu

ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến khía cạnh bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền của tổ chức, công dân bằng con đường tố tụng (gồm tố tụng dân sự, hình sự và hành chính).

Continue reading

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ SAU CỔ PHẦN HÓA

PHẠM NGỌC LINH

Cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước là một biện pháp hữu hiệu được tiến hành phổ biến ở nhiều nền kinh tế trên thế giới. Ngay cả những quốc gia có nền kinh tế phát triển, phương thức quản lý doanh nghiệp tiên tiến như Anh, Pháp, Mỹ cũng đã áp dụng. ở nước ta, CPH đã bắt đầu được triển khai cách đây 19 năm với những bước đi thử nghiệm và sau đó là sự triển khai rộng khắp trên cả nước. Tuy nhiên do nhiều lí do khác nhau, CPH vẫn chưa mang lại những kết quả mong muốn. Mặc dù hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được CPH đã chứng tỏ tác dụng to lớn của nó, song thực tế các DNNN đã được CPH đang phải đối mặt với không ít vấn đề khó khăn, chưa có hướng giải quyết.

Một số vấn đề sau cổ phần hóa

Đất đai và quyền sở hữu tài sản. Trên thị trường chứng khoán hiện nay đôi lúc xảy ra trường hợp có những doanh nghiệp tiềm lực kinh tế cỡ trung bình, nhưng khi cổ phần hóa thì chỉ số cổ phiếu tăng nhiều lần so với giá trị thực. Những doanh nghiệp này thường thuê đất, trả tiền thuế đất hàng năm nhưng khi niêm yết giá trị tài sản của mình lên sàn giao dịch chứng khoán lại liệt kê cả giá trị quyền sử dụng đất. Nếu có sự lẫn lộn giữa giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản của doanh nghiệp gắn liền với đất sẽ dẫn đến bất lợi là xuất hiện tranh chấp, chuyển nhượng, mua gom, khống chế cổ phần, thâu tóm và kiểm soát công ty sau CPH vì giá trị đất.

Ngược lại, lại có tình trạng không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi CPH bằng cách duy trì các hợp đồng thuê đất lâu dài sẵn có. Khi đã CPH, giá trị sử dụng đất có thể trở thành giá trị siêu lợi nhuận trong kinh doanh vốn của doanh nghiệp. Không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi CPH tức là Nhà nước đã từ bỏ quyền được nhận phần “địa tô chênh lệch” phát sinh từ quyền sử dụng đất. Tất yếu, phần ”địa tô” ấy sẽ rơi vào túi những nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp sau CPH.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG DẪN QUAN TRỌNG HƠN LUẬT?

GS.TS . NGUYỄN VÂN NAM

Hiện nay, các đạo luật của ta đều phải chờ nghị định, thông tư hướng dẫn của chính phủ hoặc các bộ mới có thể được áp dụng trong thực tế.

Trước hết, việc một đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành phải chờ quyết định của hành pháp (Chính phủ) mới có giá trị thực hiện là một hạn chế nghiêm trọng quyền lực của lập pháp, đồng thời mở ra các khả năng lạm dụng quyền lực hành pháp qua việc cơ quan này có thể kéo dài hoặc rút ngắn một cách có chủ đích hiệu lực trên thực tế của điều luật.

Thứ hai, các nghị định, thông tư hướng dẫn của chính phủ không chỉ là những hướng dẫn thi hành, mà còn là những qui định mang tính chất chuẩn mực pháp lý. Nghĩa là chúng sẽ là chuẩn mực, là cơ sở cho Tòa án xét xử. Như vậy, trên thực tế, thẩm quyền của Tư pháp cũng đã chuyển qua cơ quan hành pháp. Rõ ràng thực tế hoạt động xây dựng Nhà nước pháp quyền ở ta với thói quen ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật đã không củng cố được cơ chế cân bằng, kiểm soát và giới hạn quyền lực Nhà nước, mà còn mở ra nhiều khả năng lạm dụng quyền lực hơn.

Trên nguyên tắc, Chính phủ không có thẩm quyền và nhiệm vụ hướng dẫn thi hành luật. Tuy nhiên, cho nội bộ cơ quan hành pháp, chính phủ hoàn toàn có quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật theo quan điểm của mình. Nhưng phải nhấn mạnh rằng, những văn bản này chỉ có giá trị pháp lý đối nội trong nội bộ chính phủ và các cơ quan công quyền chứ không có giá trị chuẩn mực pháp lý chung. Nghĩa là, nếu một cơ quan công quyền bị khởi kiện trước tòa án thì các hướng dẫn thi hành của chính phủ cũng chỉ có gía trị như ý kiến riêng của một bên tham gia tranh tụng mà thôi, chứ không phải là cơ sở pháp lý để tòa án xem xét.

Continue reading

VĂN HÓA PHÁP LUẬT và những ảnh hưởng tới pháp luật ở Việt Nam

PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG – Trường Đại học Luật Hà Nội

1. Các đặc điểm cơ bản của văn hoá pháp luật Pháp

1.1. Ảnh hưởng từ văn hoá pháp luật La Mã

Các bộ luật lớn của Pháp như Bộ luật dân sự Napoleon 1804, Bộ luật Thương mại năm 1807 đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương và luật La Mã. Luật La Mã được nghiên cứu tại các trường đại học của Pháp và được coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn và tập quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh pháp luật. “Corpus juris civilis” được tiếp nhận rộng rãi ở Pháp cũng như ở các nước lục địa châu Âu.

1. 2. Nơi khởi nguồn của nhiều tư tưởng pháp luật tiến bộ

Nhiều tư tưởng pháp luật tiến bộ được xuất phát từ nước Pháp. Tư tưởng pháp luật tự nhiên về quyền công dân và quyền con người thể hiện rõ trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và công dân quyền của Pháp năm 1789; tư tưởng phân chia quyền lực và kiềm chế đối trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thể hiện rõ trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu, tư tưởng chủ quyền tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện rõ trong tác phẩm “Khế ước xã hội” của Jean Jaques Rousseau.

1.3. Hệ thống luật được phân chia thành công pháp và tư pháp

Do ảnh hưởng sâu sắc của luật La Mã, hệ thống pháp luật Pháp được phân chia thành Jus publicum (công pháp), Jus privatum (tư pháp). Công pháp bao gồm những ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, các quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với tư nhân. Công pháp là gồm các ngành luật như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Ngân hàng, Luật Tài chính… Tư pháp bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư nhân với tư nhân. Tư pháp bao gồm các ngành luật như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Thương mại.

Continue reading

VĂN HÓA PHÁP LUẬT PHÁP VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG

1. Các đặc điểm cơ bản của văn hoá pháp luật Pháp

1.1. Ảnh hưởng từ văn hoá pháp luật La Mã

Các bộ luật lớn của Pháp như Bộ luật dân sự Napoleon 1804, Bộ luật Thương mại năm 1807 đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương và luật La Mã. Luật La Mã được nghiên cứu tại các trường đại học của Pháp và được coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn và tập quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh pháp luật. “Corpus juris civilis” được tiếp nhận rộng rãi ở Pháp cũng như ở các nước lục địa châu Âu.

1. 2. Nơi khởi nguồn của nhiều tư tưởng pháp luật tiến bộ

Nhiều tư tưởng pháp luật tiến bộ được xuất phát từ nước Pháp. Tư tưởng pháp luật tự nhiên về quyền công dân và quyền con người thể hiện rõ trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và công dân quyền của Pháp năm 1789; tư tưởng phân chia quyền lực và kiềm chế đối trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thể hiện rõ trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu, tư tưởng chủ quyền tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện rõ trong tác phẩm “Khế ước xã hội” của Jean Jaques Rousseau.

1.3. Hệ thống luật được phân chia thành công pháp và tư pháp

Do ảnh hưởng sâu sắc của luật La Mã, hệ thống pháp luật Pháp được phân chia thành Jus publicum (công pháp), Jus privatum (tư pháp). Công pháp bao gồm những ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, các quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với tư nhân. Công pháp là gồm các ngành luật như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Ngân hàng, Luật Tài chính… Tư pháp bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư nhân với tư nhân. Tư pháp bao gồm các ngành luật như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Thương mại.

Continue reading

SỬ DỤNG LUẬT TỤC, HƯƠNG ƯỚC MỘT CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ RỪNG

HÀ CÔNG TUẤN

Luật tục, hương ước đã từng là công cụ quản lý đời sống cộng đồng trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, trước yêu cầu tăng cường tính tự quản và sự đồng thuận xã hội, thì luật tục, hương ước của cộng đồng đang có tác động to lớn trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng. Bài viết không chỉ có giá trị tham khảo về vấn đề sử dụng luật tục, hương ước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng mà còn có thể gợi mở việc sử dụng luật tục, hương ước trên mọi lĩnh vực quản lý đời sống xã hội khác.

1. Luật tục và hương ước với việc quản lý rừng

Luật tục

Luật tục là một hệ thống các quy tắc xử sự mang tính dân gian, quy định về mối quan hệ ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và con người với con người trong cộng đồng, thể hiện ý chí của toàn thể cộng đồng, được thực hiện một cách tự giác, theo thói quen, nhưng vẫn có tính bắt buộc trong phạm vi cộng đồng.

Luật tục có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực quan hệ xã hội như: lĩnh vực tổ chức và quản lý cộng đồng; lĩnh vực ổn định trật tự an ninh và đảm bảo lợi ích cộng đồng; lĩnh vực tôn trọng, tuân thủ, bảo vệ phong tục, tập quán, duy trì và giáo dục nếp sống văn hoá tín ngưỡng; lĩnh vực quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình; lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên rừng; bảo vệ sản xuất, môi trường. Luật tục của hầu hết các dân tộc ít người ở miền núi đều có những quy định chặt chẽ về bảo vệ rừng, có giá trị bổ trợ cho pháp luật của nhà nước, nó đã thấm sâu vào cộng đồng như những quy tắc xử sự tự nhiên, có thể đề cập một số điển hình sau:

Người H’mông có tục ăn ước. Trong lễ này, người ta xây dựng thêm hay nhắc lại các quy ước bảo vệ rừng, đồng thời quy định lại các hình thức xử phạt nếu có người vi phạm. Ai không tôn trọng quy ước bảo vệ rừng đều bị xử phạt giống như gia súc phá họai mùa màng, nghiêm cấm đốt nương làm rẫy. Ai tự tiện vào rừng cấm để chặt cây bị phạt một con lợn hoặc bị phạt từ 50.000 đến 100.000 đồng.

Continue reading

CHỦ QUAN VÀ KHÁCH QUAN TRONG NGÔN NGỮ THƯƠNG THUYẾT

GS. PHAN VĂN TRƯỜNG*

Tiếp sau bài báo “Biết người, biết ta và câu chuyện của thằng Bờm về nghệ thuật thương thuyết đăng trong mục Sổ tay quản trị của TBKTSG số ra ngày 25-6-2009, kỳ này chuyên mục giới thiệu bài viết của cùng tác giả, bàn đến khía cạnh ngôn ngữ trong thương thuyết.

Khi ngồi vào bàn đàm phán, không có gì nguy hiểm bằng đôi bên (hay đa bên) không hiểu rõ những gì phe bên kia phát biểu. Có thể bạn cho rằng làm gì có chuyện hiểu sai những câu đại loại như: giá cao quá, công ty không có kinh nghiệm xây dựng loại nhà máy này, phần bê tông không đủ dày… Hiểu lầm nhau không thể dễ đến thế vì thương thuyết bao giờ cũng là một cuộc đàm thoại với ít nhiều tính cách kỹ thuật. Thêm nữa, họp đến đâu đã có văn bản đến đó, đâu còn chỗ cho sự phân vân. Nói tóm lại, không dễ gì hiểu sai nghĩa trong quá trình đàm phán và vì thế ta dễ dàng yên tâm để tiếp tục đàm phán vô tư.

Hồi còn là chuyên viên trẻ tuổi, tôi thường có suy nghĩ như thế, nhất là vào thời điểm đó, những cuộc thương thuyết mà tôi được tham gia đều có quy mô nhỏ. Bán một nhà máy sản xuất sơn dầu, hoặc xây dựng một con đường ngắn đều là những dự án không to tát, và ít góc cạnh hóc búa. Sau vài hồi đàm phán, mỗi hồi khoảng chừng một tuần, là đã ký được hợp đồng, người xây, người tài trợ, giá mua, giá bán và những điều khoản cần thiết.

Thế rồi đến khi phải dẫn đầu phái đoàn đi thương thuyết dự án trên vài trăm triệu đô la Mỹ, tôi mới bắt đầu ý thức được rằng sự hiểu lầm, hiểu ngược ý, hiểu không thấu đáo, không đích xác vấn đề là chuyện rất thường xảy ra.

Continue reading

TRANH CHẤP TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: ĐI KIỆN 14 NĂM CHƯA XONG

THANH TÙNG

Qua 10 lần xét xử, vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại xuyên thế kỷ này vẫn chưa có hồi kết. TAND TP.HCM vừa tuyên hoãn xử sơ thẩm (lần năm) vụ hai ông Đặng Đạo và Võ Văn Vinh kiện Công an TP.HCM đòi bồi thường thiệt hại vì “giam xe oan”. Đây là một kỳ án đã kéo dài suốt 14 năm nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Giữ xe sai

Như Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh, tháng 2-1992, ông Đạo đại diện cho 10 chủ xe tải ký hợp đồng vận chuyển gỗ từ Campuchia về TP.HCM cho Công ty Vikamex (Bộ Thương mại). Trong một chuyến chở gỗ, một số xe tải đã đổ gỗ xuống Sông Bé theo lệnh riêng của vài cán bộ trong Vikamex. Ông Đạo báo lại sự việc cho Vikamex và rắc rối bắt đầu phát sinh.

Vikamex cho rằng ông Đạo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa nên yêu cầu Công an TP tạm giữ hai chiếc xe của ông Đạo, ông Vinh (không lập biên bản). Sau 19 tháng tạm giữ xe và điều tra không có kết quả, Công an TP đình chỉ vụ án, trả xe lại cho các khổ chủ.

Nhận hai chiếc xe trong tình trạng bị hư hỏng nặng, cho rằng Vikamex giữ xe trái phép gây thiệt hại nên ông Đạo, ông Vinh đã kiện Vikamex ra TAND quận 1 (TP.HCM) đòi bồi thường tổng cộng 359 triệu đồng.

Hủy lên hủy xuống

Năm 1995, TAND quận 1 xử sơ thẩm lần đầu, tuyên buộc Vikamex phải bồi thường cho hai chủ xe 196 triệu đồng. Xử phúc thẩm lần đầu, TAND TP đã tăng mức bồi thường lên gần 340 triệu đồng.

Continue reading