HÃY SỬA NGAY LUẬT CẠNH TRANH VÌ LỢI ÍCH NGƯỜI TIÊU DÙNG

GS. TS. NGUYỄN VÂN NAM

Ta có sẵn lòng mua hộp sữa với giá cao ngất trời, trong khi có thể mua hộp sữa khác với chất lượng tốt không kém với giá rẻ hơn không? Tất nhiên là không. Khi người tiêu dùng (NTD) được hoàn toàn tự do lựa chọn, họ sẽ chọn mua loại sữa tốt nhất, giá rẻ nhất. Bảo vệ quyền được tự do quyết định tiêu dùng- TDQĐTD- (mua hay không mua hàng hóa chỉ căn cứ vào chất lượng và giá cả ) là một mục tiêu chính của Luật cạnh tranh (LCT). Cuộc cạnh tranh hiệu quả (CTHQ)- cạnh tranh không ngừng nâng cao chất lượng, đồng thời hạ giá thành sản phẩm- là cuộc cạnh tranh bảo vệ tốt nhất quyền đó và là cuộc cạnh tranh duy nhất được WTO ủng hộ. Nhưng, cuộc CTHQ và quyền TDQĐTD hầu như không được LCT của ta để ý đến. Đó mới là nguyên nhân thực sự của giá sữa cao hiện nay.

Điểm đặc biệt- một nghịch lý mang đặc trưng Việt nam- trong hiện tượng giá sữa cao là NTD vẫn chấp nhận giá cao, không chỉ cao hơn nhiều so với các nước, mà còn vượt xa thu nhập thực tế của họ. Cái gì khiến họ chấp nhận giá cả bất hợp lý như vậy? Điều gì khiến các công ty sữa quốc tế đổ xô vào Việt nam?

Đã là kinh tế thị trường thì Nhà nước (NN) không thể kiểm soát giá cả, trừ một số ngoại lệ. Các tác nhân hoạt động trên thị trường-trong đó có NTD – tự xác định giá cả trong cơ chế hoạt động CTHQ. CTHQ cũng là cạnh tranh lành mạnh nhằm bảo vệ quyền TDQĐTD. Bất kỳ hoạt động CT nào khiến NTD quyết định mua không theo chất lượng và giá cả mặt hàng, đều là cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM).

Luật CT của ta chỉ cấm một vài hình thức hoạt động CT gây nhầm lẫn, hoàn toàn không cấm CT gây ngộ nhận (xác tín không đúng với sự thật). Trong khi gây ngộ nhận là một trong số các hoạt động CTKLM phổ biết nhất, thể hiện dưới rất nhiều hình thức. Các công ty kinh doanh sữa thường xuyên quảng cáo sản phẩm của họ có các vi chất tăng trí thông minh, sản xuất theo công thức đặc biệt làm tăng sức đề kháng của trẻ; sử dụng bác sĩ nhi khoa, chuyên gia dinh dưỡng nhận xét về sản phẩm v…v, khiến NTD tin (một cách ngộ nhận) rằng đó là sản phẩm tốt nhất, thích hợp nhất-thậm chí là duy nhất- cho bé yêu của họ. Vì tương lai con trẻ, họ sẵn sàng hạn chế những chi tiêu khác để có tiền mua bằng được sản phẩm tốt nhất ấy. Đó không phải tâm lý sính ngoại, mà là văn hóa tiêu dùng ngộ nhận.

Continue reading

CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Trong dự thảo văn kiện Đại hội Đảng X có yêu cầu: ”Xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp, định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật trong đời sống kinh tế – xã hội”.
Việc tham khảo kinh nghiệm trong việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp của một số nước để rút ra những kiến nghị phục vụ việc tiếp tục nghiên cứu, đề xuất hình thành một cơ chế bảo hiến có hiệu quả trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hết sức cần thiết.

I. Về khái niệm bảo vệ Hiến pháp

Ở các nước trên thế giới không có một khái niệm thống nhất về cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Thuật ngữ “bảo vệ Hiến pháp” – “правовая охрана конституция” được tích cực sử dụng ở Việt Nam, ở Liên bang Nga nhưng thuật ngữ này không được dùng nhiều ở các nước trên thế giới và ngay cả ở Nga khái niệm trên cũng chưa được đưa vào luật. Ở Anh và Mỹ có một khái niệm là “judical review” có thể tạm dịch là kiểm tra tư pháp. Bản chất của khái niệm này là dùng để chỉ việc kiểm tra của cơ quan tư pháp đối với tính hợp hiến của các đạo luật do cơ quan lập pháp đưa ra. Khái niệm này tương đương với khái niệm “bảo hiến” hay “kiểm hiến” mà một số sách trước đây về luật hiến pháp ở Việt nam hay dùng .
Bảo hiến (bảo vệ hiến pháp) về ý nghĩa cốt lõi được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật, là xem xét xem những đạo luật được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp hay không. Theo cách hiểu này, bảo hiến không nhằm vào các văn bản dưới luật. Sự bảo hiến chỉ nhằm vào những đạo luật do Quốc hội đưa ra bởi những văn kiện này đứng ở tột đỉnh của hệ cấp những hành vi pháp lý . Tuy nhiên cách hiểu bảo hiến chỉ là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật là một cách hiểu theo nghĩa hẹp. Thực tiễn của chế độ bảo hiến ở các nước cho thấy, các định chế bảo hiến được sinh ra không chỉ đơn thuần là kiểm soát tính hợp hiến của hành vi lập pháp. Toà án Hiến pháp ở nhiều quốc gia châu Âu bên cạnh việc kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật của Nghị viện còn thực hiện nhiều chức năng khác để bảo vệ nội dung và tinh thần của Hiến pháp như giải quyết tranh chấp giữa lập pháp và hành pháp, giữa liên bang và tiểu bang, giữa trung ương và địa phương; kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi của Tổng thống cũng như của các quan chức trong bộ máy hành pháp… Ở nghĩa rộng hơn, bảo hiến được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các hành vi của các định chế chính trị được quy định trong Hiến pháp.

Continue reading

NHẬN DIỆN NHỮNG YẾU TỐ GÓP PHẦN BẢO ĐẢM AN TOÀN CHO LOẠI HÌNH TỔ CHỨC TÍN DỤNG HỢP TÁC VƯỢT QUA CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

THS. DOÃN HỮU TUỆ

Đến nay, cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ra không biết bao hệ lụy cho nền kinh tế thế giới nói chung và khu vực tài chính – ngân hàng nói riêng. Trong lịch sử kinh tế thế giới hiện đại, chưa bao giờ hàng hoạt “đại gia” hàng đầu trong lĩnh vực tài chính phải gánh chịu những tổn thất nặng nề khiến Chính phủ các nước có nền kinh tế hùng mạnh như Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc,… phải bỏ ra những khoản tiền khổng lồ để giải cứu nền kinh tế.

Tuy nhiên, có một điều ít được để ý là trong khi hàng loạt những tập đoàn tài chính vốn được xem như những “chiến hạm khổng lồ” bị chao đảo, thậm chí biến mất trong “cơn bão” khủng hoảng thì các tổ chức tín dụng (TCTD) hợp tác – vốn được ví như những “chiếc thuyền nan mong manh” lại có thể vượt qua sóng gió một các bình an vô sự. Thật vậy, cho đến nay, khi cuộc khủng hoảng đã qua đỉnh điểm, chưa có một hệ thống TCTD hợp tác nào trên thế giới bị đổ vỡ. Ngay trong lòng nước Mỹ – nơi được xem là “tâm bão” và các quốc gia lân cận như Canađa hay Mêhicô, các TCTD hợp tác vẫn trụ vững, dù những khó khăn là không thể tránh khỏi.

Thực tế này đặt ra một câu hỏi: Tại sao các TCTD hợp tác với tiềm lực tài chính, năng lực quản lý và trình độ công nghệ hạn chế hơn nhiều so với các loại hình định chế tài chính khác lại có thể vượt qua khủng hoảng một cách ngoạn mục như vậy?

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả không có tham vọng lý giải một cách thấu đáo vấn đề đặt ra mà chỉ xin tập trung phân tích một số khía cạnh liên quan; qua đó, rút ra những bài học hữu ích đối với hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

I- Những yếu tố đặc trưng cơ bản góp phần đảm bảo an toàn cho loại hình TCTD hợp tác

– Các TCTD hợp tác thường không chịu áp lực phải đạt được lợi nhuận cao nhất bằng mọi giá

Continue reading

PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

THS. NGUYỄN LÊ THU – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, tranh chấp lao động trở thành vấn đề phức tạp đối với mọi nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trở nên phức tạp hơn rất nhiều một phần do sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài vốn quen với quan hệ lao động có nhiều khác biệt tại chính quốc gia họ, một phần từ ý thức ngày càng nâng cao của người lao động về các quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Thực tế chứng minh số lượng các cuộc đình công – hậu quả trực tiếp từ tranh chấp lao động – tăng lên nhiều và nhanh trong các năm qua (1). Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra là phải xây dựng một cơ chế pháp lý vừa bảo đảm tốt nhất quyền lợi của người lao động – những người được coi là bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động, vừa không phải là rào cản ngăn trở nguồn lực đầu tư từ bên ngoài. Bài viết giới thiệu một trong những bước cải cách của Trung Quốc về các biện pháp giải quyết tranh chấp lao động.

1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động: tập trung biện pháp trọng tài

Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp lao động được quy định cụ thể và rõ ràng trong Luật Hòa giải và trọng tài đối với các tranh chấp lao động (sau đây gọi là Luật HG và TT)(2), là: hợp pháp, công bằng, đúng thời hạn và theo hướng hòa giải (3). Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tên của Luật. Mặc dù là một luật bao quát điều chỉnh toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp lao động từ giai đoạn ban đầu (tham vấn, hòa giải) đến khi có được các bản án, phán quyết có giá trị pháp lý bắt buộc (xét xử tại Tòa án), tên của Luật HG và TT cũng chỉ bao gồm hai biện pháp được coi là chính yếu: hòa giải và trọng tài. Cơ cấu các điều khoản trong luật cũng cho thấy việc tập trung vào các biện pháp này của nhà lập pháp. Trong tổng số 54 điều luật, ngoài những điều khoản chung, có 7 điều khoản liên quan đến hoạt động hòa giải, còn lại các điều khoản đều tập trung vào việc thực hiện biện pháp trọng tài, bao gồm đầy đủ từ thẩm quyền, thành phần của Hội đồng, thủ tục tiến hành, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi bên và giá trị pháp lý của các phán quyết trọng tài. Tuy vẫn coi Tòa án là cơ quan cuối cùng giải quyết các tranh chấp trong trường hợp thủ tục giải quyết tại Hội đồng trọng tài có thiếu sót hoặc có hành vi vi phạm pháp luật của thành viên Hội đồng, nhưng trong những trường hợp thông thường, Tòa án chỉ còn được nhắc đến như một cơ quan bảo đảm giá trị pháp lý cho các phán quyết đó mà thôi.

Continue reading

GIÁM ĐỐC THẨM – “XÉT” CHỨ KHÔNG “XỬ”

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG – Trung tâm Luật So sánh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Sau khi đăng bài “Tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm dân sự” của tác giả Mai Ngọc Dương (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11 – tháng 6/2009), Tạp chí đã nhận được một số ý kiến phản hồi, trao đổi về bài viết này. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Thị Phượng và mong muốn sẽ tiếp tục nhận được các ý kiến trao đổi khác.

1. Luận điểm chủ đạo của tác giả Mai Ngọc Dương trong bài “Tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm dân sự” là phiên tòa giám đốc thẩm dân sự thiếu tính công khai. Tác giả đưa ra ba lý do cho luận điểm này như sau:.

Thứ nhất, tác giả cho rằng phiên tòa giám đốc thẩm được tổ chức như một phiên họp, không giống như một phiên tòa.

Thứ hai, tác giả nhận xét rằng sự tham gia của nguyên đơn, bị đơn dân sự còn hạn chế bởi sự tham gia của những người này, theo luật, là không bắt buộc.

Thứ ba, sự tham gia của người bào chữa trong phiên tòa giám đốc thẩm còn hạn chế bởi những người này cũng như các nguyên đơn, bị đơn, thuộc nhóm “những người tham gia tố tụng” chỉ được Tòa án triệu tập khi thấy cần thiết.

Cuối cùng, tác giả đề xuất bổ sung vào Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về hình thức của phiên tòa giám đốc thẩm như sau: “Phiên tòa giám đốc thẩm được mở công khai với sự tham gia của các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bào chữa” (1).

2. Chúng tôi xin trao đổi lại với tác giả Mai Ngọc Dương về luận điểm nêu trên. Theo chúng tôi, phiên tòa giám đốc thẩm dân sự không cần mở công khai, không cần quy định bắt buộc phải có sự tham gia của các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa. Lý do căn bản của điều này là giám đốc thẩm không phải là một hoạt động xét xử mà là một hoạt động tự kiểm tra trong nội bộ hệ thống tư pháp, nên không cần phải tiến hành công khai. Điều này được chứng minh bởi những lý do sau đây:

Continue reading