KỸ THUẬT LẬP PHÁP: Một luật sửa nhiều luật

NGÔ ĐỨC MẠNH

Ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật

Đặt vấn đề

Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật phục vụ cho quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước ta, trong phiên họp lần thứ 26 của ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 3 năm 2005, nhiều ý kiến phát biểu đề xuất về việc ban hành một luật chung để sửa đổi, bổ sung các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan. Điều này đặt ra vấn đề, cần nghiên cứu để xác định khả năng hiện thực của phương án khi số lượng văn bản cần phải sửa đổi để đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO là khá nhiều và trong điều kiện, khả năng hiện có. Chúng tôi cho rằng, vấn đề ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế (gia nhập WTO là một mục đích cụ thể), mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật.

Tổng quan về quy trình làm luật hiện nay

Hiến pháp năm 1992 quy định nhiều chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, bao gồm: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận… Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật và kiến nghị về dự án luật. Tuy vậy, quy trình làm luật của chúng ta hiện nay đã được luật hoá toàn bộ và tiến hành theo chương trình, kế hoạch. Vì thế, việc xây dựng dự án luật, pháp lệnh chỉ chính thức khởi động khi có Ban soạn thảo được Chính phủ, ủy ban Thường vụ Quốc hội hay chủ thể khác thành lập căn cứ vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Quốc hội xem xét, quyết định. Điều này cũng có nghĩa là, khi cần sửa đổi những điều khoản cụ thể của một văn bản nào đó thì nhất thiết phải khởi động ngay từ đầu quy trình đề xuất để đưa vấn đề vào Chương trình rồi mới thành lập Ban soạn thảo và tổ chức soạn thảo dự án.

Continue reading

KỸ THUẬT LẬP PHÁP: MỘT LUẬT SỬA NHIỀU LUẬT

NGÔ ĐỨC MẠNH

Ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật

Đặt vấn đề

Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật phục vụ cho quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước ta, trong phiên họp lần thứ 26 của ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 3 năm 2005, nhiều ý kiến phát biểu đề xuất về việc ban hành một luật chung để sửa đổi, bổ sung các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan. Điều này đặt ra vấn đề, cần nghiên cứu để xác định khả năng hiện thực của phương án khi số lượng văn bản cần phải sửa đổi để đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO là khá nhiều và trong điều kiện, khả năng hiện có. Chúng tôi cho rằng, vấn đề ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế (gia nhập WTO là một mục đích cụ thể), mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật.

Tổng quan về quy trình làm luật hiện nay

Hiến pháp năm 1992 quy định nhiều chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, bao gồm: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận… Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật và kiến nghị về dự án luật. Tuy vậy, quy trình làm luật của chúng ta hiện nay đã được luật hoá toàn bộ và tiến hành theo chương trình, kế hoạch. Vì thế, việc xây dựng dự án luật, pháp lệnh chỉ chính thức khởi động khi có Ban soạn thảo được Chính phủ, ủy ban Thường vụ Quốc hội hay chủ thể khác thành lập căn cứ vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Quốc hội xem xét, quyết định. Điều này cũng có nghĩa là, khi cần sửa đổi những điều khoản cụ thể của một văn bản nào đó thì nhất thiết phải khởi động ngay từ đầu quy trình đề xuất để đưa vấn đề vào Chương trình rồi mới thành lập Ban soạn thảo và tổ chức soạn thảo dự án.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA PHONG TỤC, TẬP QUÁN ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI – TỪ GÓC NHÌN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

TS. NGUYỄN THỊ BÁO – Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ là mục tiêu thứ 3 trong các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ đang được nước ta nỗ lực thực hiện. Bên cạnh những kết quả rất đáng ghi nhận, chúng ta đang phải tiếp tục khắc phục những định kiến trọng nam, xem thường nữ, xuất phát từ quan niệm phong kiến, lạc hậu vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận người dân, trên con đường chinh phục mục tiêu này.

Là một nước phong kiến, nửa thuộc địa, kinh tế kém phát triển, kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, chúng ta đã đi được một chặng đường dài trên con đường tiến tới thực hiện mục tiêu bình đẳng nam nữ: cách biệt về giới ở các cấp học sẽ được xóa bỏ trước năm 2015; phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở các ngành các cấp; cơ hội việc làm được mở ra cho cả nam và nữ; lao động nữ đã có nhiếu đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; phụ nữ được tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận các nguồn lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần giảm nghèo và nâng cao vị thế của người phụ nữ; phụ nữ ngày càng được thụ hưởng bình đẳng với nam giới trong các dịch vụ công về y tế, văn hóa, xã hội…

Để nâng cao các quyền về kinh tế cho nữ giới, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Sửa đổi đất đai năm 2003, trong đó có ghi rõ tất cả các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất đều phải được cấp bao gồm tên của cả vợ và chồng.

Các giấy tờ về quyền sử dụng đất giúp bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người phụ nữ đối với tài sản đất đai đó.

Những giấy tờ này cũng giúp nữ giới có thể vay vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng nhằm bảo vệ quyền lợi hco phụ nữ trong trường hợp ly dị và phân chia tài sản.

Continue reading

KỸ NĂNG ĐÀM PHÁN TRONG GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN

* Khái niệm đàm phán :

Đó là một khía cạnh của cuộc sống mà không có quy tắc thống trị. Nói dối không những được cho phép mà còn được sử dụng thường xuyên.

– Đó là việc chấp nhận một nhượng bộ như là sự thay thế cho điều mà bạn thực sự nghĩ bạn mong muốn.

– Đó là chuyến đi tới một vùng đất tưởng tượng mà không có bản đồ dẫn đường, trong đó tất cả các biển báo và chỉ dẫn đều bị sai lệch có chú ý.

Mục đích cuối cùng của một cuộc đàm phán, nhất là đàm phán bất động sản là kiếm được lợi nhuận. Tuy nhiên, lợi nhuận cũng có nhiều dạng. Tất nhiên dạng đầu tiên của lợi nhuận là tỷ lệ lãi suất cao hơn hay mức giá hời hơn. Nhưng đàm phán cũng có thể đưa lại kết quả khác cũng có giá trị ví dụ như việc hiểu kỹ hơn về một tài sản. Thường thường các bên tham gia đàm phán có mục đích tự nhiên là đạt được sự thoả mãn sau cuộc đàm phán và cảm thấy hài lòng về kết quả thu được. Đây là một dạng khác của " lợi nhuận" mà bạn muốn phía đối tác cảm thấy họ đã đạt được.

* Mục tiêu đàm phán :

Khi bắt đầu đàm phán các nhà đầu tư bất động sản đều tập trung vào các mục tiêu trước mắt sau đây :

Tìm hiểu vị thế của đối tác đàm phán. Nếu chúng ta biết được những gì đối tác muốn, chúng ta có thể tiến hành giao dịch để đáp ứng được nhu cầu của họ. Luôn có lý do này hay lý do khác để bên kia sẵn sàng xem xét thương lượng. Nếu bạn tìm được " câu chuyện bên trong" ẩn dấu những gì họ muốn và thực sự coi trọng, bạn có thể nêu ra vấn đề mà họ đang quan tâm.

Continue reading

NHẬN DẠNG CARTEL THEO LUẬT CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Bộ Tư pháp

Thuật ngữ "cartel" bắt nguồn gốc từ tiếng Đức ("Kartell"), có nội hàm dùng để chỉ hình thức hợp tác giữa các doanh nghiệp có vị trí độc lập với nhau (hợp tác theo chiều ngang) nhằm nâng cao sức mạnh của các bên trên thị trường. Cartel được sử dụng rộng rãi tại các nước Anh-Mỹ, tuy nhiên tại Pháp nó lại được thể hiện bằng thuật ngữ "entente", nhưng nội hàm hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau, theo đó entente thể hiện mọi thoả thuận ý chí (minh thị hoặc mặc thị) và mọi dạng hành vi tập thể giữa các doanh nghiệp có tính chất làm mất đi tính độc lập trong hành vi của mỗi bên tương ứng trên thị trường.

Cartel hay entente bị coi là bất hợp pháp khi nó có mục đích nhằm ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh bình thường trên thị trường.

Về mặt kinh thế, cartel là một tình trạng độc quyền do các doanh nghiệp đạt được bằng cách liên kết với nhau để kiểm soát thị trường. Loại hình liên kết cổ điển và cũng là phổ biến nhất chính là các bên cùng nhau ấn định giá và các yếu tố hình thành giá với mục đích ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới. Hậu quả tiêu cực nhất của liên kết này thể hiện ở chỗ người tiêu dùng không được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh về giá cả trên thị trường mà đáng lẽ ra họ phải được hưởng nếu có "cuộc chiến tranh" về giá diễn ra.

Không phải cartel nào cũng bị coi là bất hợp pháp. Thậm chí một số cartel còn được thiết chế hoá thành các tổ chức xuyên quốc gia như OPEP (tổ chức các nhà xuất khẩu dầu) hoặc De Beers (tổ chức các nhà xuất khẩu kim cương), theo đó việc thoả thuận ấn định giá được coi là một điều hoàn toàn bình thường và cần thiết. Khẩu hiệu mà các doanh nghiệp tham gia cartel thường sùng bái là "Đối thủ cạnh tranh là bạn của chúng ta; chỉ có khách hàng mới là kẻ thù của chúng ta"[1].

Continue reading

NHÀ NƯỚC PHÁP TRỊ TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT

TS. NGUYỄN SỸ PHƯƠNG (CHLB ĐỨC)

Thượng tôn pháp luật là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Một trong những dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước pháp trị đó là tuân thủ luật pháp và được Nhà nước bảo đảm thực thi bằng Toà án độc lập.

Chuyện người, chuyện mình

Gần 8 triệu ngoại kiều trên tổng số hơn 80 triệu dân Đức muốn nhập quốc tịch phải vượt qua kỳ thi trắc nghiệm kiến thức xã hội nước Đức, trong đó có một câu hỏi, nhà nước pháp trị là gì, với 4 câu trả lời sẵn sơ đẳng: 1- Nhà nước có quyền, 2- Đảng có quyền, 3- Công dân quyết định luật pháp và 4- Nhà nước phải tuân thủ pháp luật.

Những ngoại kiều nhìn Nhà nước bằng con mắt của kẻ nô lệ bao giờ cũng trả lời sai, đánh vào câu số 1, trong khi chỉ mỗi câu số 4 đúng – chính là dấu hiệu đặc trưng của một nhà nước pháp trị, đòi bất cứ hoạt động nào của bất kỳ cơ quan nhà Nước nào đều phải viện dẫn chuẩn mực pháp lý của những điều khoản luật pháp điều chỉnh nó; cũng xuất phát từ đó, mọi vấn đề xã hội nảy sinh, họ không thể không mổ xẻ văn bản luật liên quan, để cải cách nó.

Xã hội họ phát triển, hoàn thiện liên tục chính là kết quả tổng hợp từ những cải cách luật thường nhật như vậy; thiếu nó, mọi chủ trương, chính sách dù thần kỳ mấy cũng không thể trở thành hiện thực.

Cách đây mấy tháng, tại Sachsen, một người đàn ông gọi tới số điện khẩn cảnh sát báo sẽ giết vợ, tự sát. Cảnh sát tức tốc tới nơi, không thấy động tĩnh gì, bèn cẩn thận cho xe chạy lòng vòng quan sát, thì phát hiện được đương sự từ xa đang dí khẩu súng vào thái dương chực bóp cò.

Continue reading

THỰC TIỄN ĐĂNG KÝ KẾT HÔN: MẤT QUYỀN LÀM VỢ

ĐỨC MINH

Viện lẽ hồ sơ trước đây chưa đầy đủ, UBND huyện đã hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn của đương sự. Chị D. (ngụ Hà Nội) yêu người thầy lớn hơn mình 37 tuổi. Người thầy tên T., góa vợ đã lâu. Cuối tháng 1-2007, hai người đi đăng ký kết hôn và được UBND xã Phù Lưu Tế (huyện Mỹ Đức) cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Cuộc hôn nhân ngắn ngủi

Sau ngày cưới, vợ chồng chị D. vào Đà Nẵng để ra mắt họ hàng và làm giỗ cho người vợ đầu của ông T. Không may, ông T. bị đột tử do mang sẵn căn bệnh huyết áp cao và tiểu đường. Tính ra, hôn nhân của họ kéo dài chưa đầy tuần lễ. Khi mất, ông T. có để lại một căn hộ và một biệt thự.

Hai năm sau đó, chị D. đi bước nữa. Tháng 2-2009, chị D. được UBND xã Phù Lưu Tế xác nhận “đã đăng ký kết hôn một lần, chồng chết, hiện độc thân”. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau khi có xác nhận này, UBND xã Phù Lưu Tế đã mời chị đến hòa giải với… con gái ông T. về hôn nhân trước. Tại đây, chị hết sức bất ngờ khi được biết vào tháng 10-2007, từ phản ánh của con gái ông T., UBND xã Phù Lưu Tế đã ra quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa chị với ông T. Lý do: hai người vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn. Cụ thể, hồ sơ kết hôn của chị D. và ông T. thiếu tờ khai đăng ký kết hôn của cả hai; giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của ông T. đã hết hạn sử dụng do được cấp từ năm 2005. Khi ra quyết định thu hồi này, UBND xã Phù Lưu Tế đã không thông báo cho chị D.

Theo Nghị định 158 ngày 27-12-2005 của Chính phủ (về đăng ký và quản lý hộ tịch) thì UBND cấp xã không có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ các giấy tờ hộ tịch do mình cấp sai, thẩm quyền này thuộc về UBND huyện. Vì lẽ này, tháng 4-2009, UBND huyện Mỹ Đức đã ra quyết định hủy bỏ quyết định trái thẩm quyền nói trên của UBND xã Phù Lưu Tế, đồng thời thu hồi, hủy bỏ, xóa đăng ký kết hôn của chị D. và ông T.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO

HOÀNG THỊ BÍCH LOAN

Gia nhập WTO là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Đây là thời cơ lớn cho nước ta trong hoạt động ngoại thương, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá đã có bước phát triển mạnh mẽ. Bởi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động ngoại thương ở các nước nói chung và Việt Nam nói riêng.

Sự phát triển của ngoại thương đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới; góp phần tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế nhờ sử dụng hiệu quả lợi thế so sánh trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nâng cao trình độ công nghệ và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động… Bài viết này sẽ tập trung làm rõ thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO để có thể thấy được những cơ hội và thách thức đối với hoạt động ngoại thương Việt Nam nói chung và xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam nói riêng, từ đó có giải pháp hữu hiệu thúc đẩy hoạt động ngoại thương thời gian tới.

Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

Sau 2 năm gia nhập WTO, hoạt động ngoại thương nói chung, đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam nói riêng có nhiều thuận lợi để phát triển. Các nhà xuất khẩu Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường thế giới dễ dàng hơn, những hạn chế và rào cản thuế đối với hàng hoá Việt Nam được cắt giảm. Chúng ta có thị trường xuất khẩu rộng lớn đã và sẽ được cắt giảm cùng các biện pháp phi quan thuế cũng sẽ được loại bỏ theo Nghị định thư gia nhập của các thành viên này mà không bị phân biệt đối xử; tăng cơ hội thâm nhập thị trường nước ngoài cho các sản phẩm của nước ta.

Continue reading