HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THÁI LAN VỀ HỢP TÁC SONG PHƯƠNG NHẰM LOẠI TRỪ NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI, ĐẶC BIỆT LÀ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM VÀ GIÚP ĐỠ NẠN NHÂN BỊ BUÔN BÁN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan (dưới  đây được gọi là “hai Bên”);

Nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước và thúc đẩy hợp tác song phương để trấn áp nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em;

Nhận thức rằng nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em là sự vi phạm thô bạo nhân quyền và chà đạp trắng trợn phẩm giá con người;

Lo ngại sâu sắc rằng nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về thể chất, tinh thần, tình cảm, đạo đức của con người và làm phương hại đến nền tảng và các giá trị của xã hội;

Lưu ý rằng các băng nhóm và tổ chức tội phạm xuyên quốc gia đang tích cực tham gia vào việc buôn bán phụ nữ và trẻ em và loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia này không chỉ ảnh hưởng đến Việt Nam và Thái Lan mà còn ảnh hướng đến toàn khu vực và cộng đồng thế giới;

Khẳng định rằng hai Bên cùng quan tâm đấu tranh chống nạn buôn bán người có tính chất xuyên quốc gia như đã trình bày trong Tuyên bố Bangkok về Di cư bất hợp pháp đã được thảo luận tại Hội nghị chuyên đề quốc tế về di cư “Tiến tới hợp tác khu vực chống di cư bất hợp pháp/di cư lén lút” được tổ chức từ ngày 21 – 23/4/1999 tại Bangkok và “Hội nghị Bali về chống buôn người và vận chuyển người bất hợp pháp” tổ chức tại Bali từ ngày 26 – 28/02/2002; Bản Ghi nhớ về Hợp tác chống buôn bán người Khu vực tiểu vùng sông Mêkông ký tại Yangoon, Myanmar ngày 29/02/2004 và các hoạt động liên quan tiếp theo;

Tin tưởng rằng việc trấn áp tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em thông qua hợp tác song phương trong thực thi pháp luật và tố tụng hình sự là biện pháp hữu hiệu nhằm đảm bảo công lý chống nạn buôn người; và

Cam kết rằng hai Bên sẽ hợp tác thật sự để loại trừ nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, và để bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán;

Đã thỏa thuận như sau:

Continue reading

THU NHẬP THỰC TẾ CỦA LAO ĐỘNG KHU VỰC NHÀ NƯỚC VẪN TĂNG

DƯƠNG NGỌC

Từ 1/5/2009, mức lương tối thiểu của người lao động tăng từ 540 nghìn đồng/tháng lên 650 nghìn đồng/tháng, tức là tăng 20%. Những đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp lương hàng tháng năm 2008 đã tăng 15%, từ 1/5/2009 được tăng thêm 5%. Cũng trong 4 tháng đầu năm nay, cán bộ, công chức, viên chức lương thấp (có hệ số lương từ 3,0 lần mức lương tối thiểu trở xuống) đã được nhà nước phụ cấp thêm 90 nghìn đồng/tháng…

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân một tháng của lao động khu vực Nhà nước trong 6 tháng đầu năm nay đạt 2.795,8 nghìn đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng này đã cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân 6 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước (10,27%), nên thu nhập thực tế đã tăng lên (khoảng gần 1,7%).

Nếu phân theo ngành và phân theo cấp quản lý thì có sự khác biệt đáng quan tâm. Xếp từ cao xuống thấp, ngành tài chính tín dụng có thu nhập gần 6 triệu đồng, khối đảng, đoàn thể, hiệp hội gần 2 triệu đồng.

Hai là, thu nhập của ngành cao nhất cao gấp 2,1 lần mức bình quân chung và gấp 3,1 lần ngành thấp nhất.

Ba là, ngành khoa học và công nghệ cả năm trước đứng thứ 6, nay vượt lên đứng thứ 5 nhờ “khoán 10” trong khoa học.

Bốn là, ngành thương nghiệp mặc dù bị tác động của khủng hoảng về lĩnh vực xuất khẩu, nhưng thương mại trong nước tăng trưởng cao (nếu loại trừ tốc độ tăng giá bình quân so với cùng kỳ đã tăng 8,8%, cao hơn tốc độ tăng 8% của cùng kỳ và cao hơn gấp đôi tốc độ tăng 3,9% của GDP.

Continue reading

KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

Khả năng môi giới là chìa khoá để hoàn thành bất cứ một thương vụ về bất động sản thành công nào, dù lớn hay nhỏ. Vấn đề ở đây là nghệ thuật môi giới phức tạp hơn nhiều việc mặc cả giá bán. Đó là sự chuẩn bị tinh thông, kiến thức về bản tính của con người, là cách thức tìm hiểu làm thế nào để phát hiện và khai thác được những điểm yếu của đối phương, học những kỹ năng đặc biệt và nhiều điều phức tạp khác. Theo Donald Trump thì trong môi giới về bất động sản nên áp dụng các thủ thuật sau :

1. Tạo nên tính độc nhất cho bất động sản

Một trong những quy luật cơ bản nhất của bản chất con người là chung ta ai cũng muốn có thứ mà người khác muốn có hoặc không ai khác có được. Nếu bạn nói với ai đó rằng bạn không muốn bán một khu bất động sản của mình, có thể họ sẽ muốn có được khu bất động sản đó hơn. Thậm chí, có thể họ sẽ bám lấy bạn cho đến khi bạn phải đưa ra một mức giá. Điều đơn giản là một thứ gì đó với số lượng có giới hạn sẽ tạo sẽ tạo ra một mong muốn sở hữu nó.

2. Đừng để cảm giác hợp lý đánh lừa

"Cảm giác hợp lý" đánh lừa tất cả những ai không chú ý đến nguy hiểm mà nó tạo ra. Đó là sự nhẹ dạ của những ai tin vào những gi mà họ độc được từ các văn bản hoặc nghe được từ các phương tiện thông tin đại chúng hay một vài nguồn thôn tin xác đáng từ chính quyền. Nó âm ỉ ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định của tất cả mọi người trong cách biểu hiện của nó.

Continue reading

BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

TRẦN TRUNG KIÊN

Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 07/11/2006. Tại thời điểm này, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chúng ta đã có nhiều điểm tương thích với Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ – TRIPS. Theo đó, một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong hiệp định TRIPS – giống cây trồng mới – lần đầu tiên được điều chỉnh trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Đây là vấn đề còn mới mẻ ở nước ta cả về lý luận lẫn thực tiễn. Vì vậy, để các quy định về bảo hộ giống cây trồng mới có thể được thi hành trong thực tiễn, chúng ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

1. Xu hướng chung của thế giới

Xét trên phương diện lịch sử hình thành và phát triển, giống cây trồng mới có thể được coi là thế hệ “sinh sau đẻ muộn” trong gia đình các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Phải mãi đến những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, cùng với việc thông qua Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng (UPOV) vào tháng 12/1961, quyền sở hữu trí tuệ của những người sáng tạo giống cây trồng lần đầu tiên được cộng đồng quốc tế thừa nhận và bảo hộ. Các quốc gia đã nhanh chóng nhận ra rằng, hoạt động sáng tạo giống cây trồng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn cả trong bảo vệ môi trường. Do vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng đã trở thành một cam kết bắt buộc mà tất cả các nước cần phải thực hiện trước khi tiến hành gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Khoản 3 Điều 27, Hiệp định TRIPS quy định: “các thành viên phải bảo hộ giống cây trồng bằng hệ thống patent hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào”.

Continue reading

CƠ SỞ HIẾN ĐỊNH VỀ THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH CÔNG CỘNG Ở VIỆT NAM

TS. PHAN TRUNG HIỀN

Để phục vụ cho mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế -xã hội, thời gian qua, Nhà nước ta đã tiến hành thu hồi có đền bù một số tài sản của cá nhân, tổ chức, trong đó có đất đai. Việc thu hồi này dựa trên cơ sở pháp lý cao nhất là quy định tại Điều 23 của Hiến pháp năm 1992 về trưng mua, trưng dụng tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Riêng đối với tài sản là đất đai, thì những nguyên tắc hiến định về sở hữu và quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân tại Điều 17, Điều 18 của Hiến pháp năm 1992 phải được nhắc tới. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ kỹ thuật lập hiến và lập pháp, tác giả cho rằng, có một số vấn đề cần bàn thêm về các quy định này cũng như về việc giải thích, hướng dẫn và vận dụng trong thực tế nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác thu hồi đất vì mục đích công cộng[1].

1. Nguyên tắc hiến định cơ bản và các quy phạm hiến định chi tiết

Thông qua việc tìm hiểu các quy định trong Hiến pháp 1992, ta nhận thấy các quy phạm trong Hiến pháp không hoàn toàn giống nhau. Một số quy phạm chứa đựng nguyên tắc; còn các quy phạm khác (quy phạm hiến định chi tiết) chỉ làm công việc quy định chi tiết các nguyên tắc đó để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cụ thể hóa và áp dụng trong các ngành luật.

Quy phạm chứa đựng nguyên tắc (nguyên tắc hiến định cơ bản) là các quy phạm thể hiện bản chất chế độ và tạo cơ sở nền tảng để quy định chi tiết các điều khác. Các điều chứa đựng quy phạm nguyên tắc thường tập trung ở những điều đầu tiên của Hiến pháp, nhưng cũng có thể nằm rải rác trong toàn bộ nội dung Hiến pháp. Ví dụ, ở nước ta, trong Hiến pháp năm 1992: nguyên tắc nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 2); nguyên tắc Đảng lãnh đạo và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật (Điều 4); nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý (Điều 17, 18) v.v.. là các nguyên tắc cơ bản. Còn lại, nhiều điều lại quy định chi tiết các nguyên tắc cơ bản nên phải tuân thủ các điều có tính nguyên tắc.

Continue reading

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VND NHẰM CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

PGS.,TS. NGUYỄN VĂN TIẾN

Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 là sự phát triển và lan tỏa của cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và còn tiếp tục diễn ra trong năm 2009. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại. Mặc dù Việt Nam đã chuyển hướng chính sách để đối phó với khủng hoảng, tuy độ mở của nền kinh tế Việt Nam khá cao nhưng còn chịu tác động bất lợi trên cả 3 bình diện: thương mại, đầu tư và tài chính nên sẽ đứng trước nhiều thách thức.

Năm 2008, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam chiếm 30% tổng đầu tư, đầu tư gián tiếp qua các kênh trái phiếu chính phủ, thị trường chứng khoán chiếm tỉ trọng khá cao (39% trái phiếu và 25% tổng mức vốn hoá của thị trường), nhưng đã có dấu hiệu suy giảm do khủng hoảng. Báo động đối với Việt Nam là thâm hụt cán cân thương mại đã ở mức đỉnh điểm, đặc biệt là thâm hụt thương mại với quốc gia láng giềng Trung Quốc. Trong tổng mức thâm hụt 17 tỉ USD hàng hoá của Việt Nam với thế giới thì riêng thâm hụt với Trung Quốc đã lên tới 12 tỉ USD, tiếp đến là thâm hụt thương mại với các đối thủ cạnh tranh là các nước ASEAN và Hàn Quốc, chỉ thặng dư với Hoa Kỳ và EU. Như vậy, muốn duy trì tăng trưởng, Việt Nam cần kiểm soát các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát huy hiệu quả của các chính sách này đến các chỉ tiêu kinh tế, đối phó với cuộc khủng hoảng. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại với mục đích đưa ra các giải pháp cho chính sách tỷ giá VND nhằm cải thiện cán cân thương mại trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Trước tiên, bài viết nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng chính sách tỷ giá nhằm cải thiện cán cân thương mại để rút ra được những bài học kinh nghiệm và từ đó đề xuất được các giải pháp khả thi cho Việt Nam.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: MẠNH AI NẤY XỬ, KHÓ THI HÀNH

VĂN ĐOÀN

Do hai bản án liên quan tuyên hai nội dung khác nhau nên việc thi hành án bị khựng khá lâu.Thi hành án TP Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đang lúng túng chưa biết phải thi hành như thế nào đối với hai bản án của tỉnh này vì hai bản án có nội dung mâu thuẫn nhau.

Năm 1997, ông R. khởi kiện ông L. (ngụ thị xã Vĩnh Long) ra tòa để đòi lại tiền bán máy cày. Ông R. trình bày từ năm 1996, ông có bán cho ông L. một số máy cày. Theo thỏa thuận thì trong thời hạn một tháng, ông L. phải thanh toán hơn 120 triệu đồng. Nhưng rồi ông L. đã không thực hiện đúng cam kết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L. cũng thừa nhận có mua máy cày của ông R. và còn thiếu ông R. số tiền nêu trên. Sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ, Tòa án thị xã Vĩnh Long đã xử cho ông R. thắng kiện. Ông L. có trách nhiệm trả cho ông R. hơn 120 triệu đồng. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật.

Tưởng chỉ có thế, nào ngờ giữa ông R. và người bạn là ông H. xảy ra mâu thuẫn. Ông H. cho rằng vào năm 1995, ông H. có mở cơ sở bán máy cày. Do quen biết nên ông H. thuê ông R. trông coi cửa hàng. Năm 1996, ông L. đến cửa hàng của ông H. mua máy cày và thiếu nợ hơn 120 triệu đồng. Lúc đó, ông H. giao cho ông R. khởi kiện ông L. để đòi tiền giúp. Như vậy, số tiền mà bản án của TAND thị xã Vĩnh Long yêu cầu ông L. phải trả cho ông R. thực chất là của ông chứ không phải của ông R.

Năm 2005, do thương lượng không được nên ông H. đã kiện ông R. ra TAND huyện Long Hồ (nơi ông R. cư ngụ) với yêu cầu được xác định số tiền mà bản án năm 1997 của TAND thị xã Vĩnh Long xử buộc ông L. phải trả cho ông R. là của ông.

Continue reading

QUI ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008 VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN NGHĨA – Bộ Tư pháp

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung, giải quyết tố cáo nói riêng trong lĩnh vực thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong việc kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật (nếu có) của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Do đó, công tác giải quyết tố cáo luôn được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Nhờ có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về thi hành án dân sự ở Trung ương, các cấp uỷ, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan khác có liên quan mà công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích chính đáng của các bên đương sự, công dân, cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự trong thời gian qua đã gặp phải không ít những khó khăn, vướng mắc nhất định, trong số các nguyên nhân đó có nguyên nhân cơ bản về mặt thể chế. Cụ thể Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 mới chỉ quy định một điều về tố cáo và giải quyết tố cáo, đó là: “Việc tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo” (Điều 63). Đây là quy định mang tính chất dẫn chiếu đến pháp luật chung về giải quyết khiếu nại, tố cáo mà chưa có những quy định cụ thể mang tính đặc thù về giải quyết tố cáo riêng trong lĩnh vực thi hành án dân sự tại pháp lệnh, ví dụ về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, thẩm quyền, thời hạn, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tố cáo về thi hành án dân sự, v.v…

Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THUỘC HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ HỢP TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN GIỮA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

Chính phủ các nước Brunei Darussanlam, Vương quốc Campuchia, Cộng hòa Indonesia, Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào, (“Lao PDR”), Malaysia, Liên bang Myanmar, Cộng hòa Philippines, Cộng hòa Singapore, Vương quốc Thái Lan và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (“ASEAN”) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (“Trung Quốc”) được gọi chung là “các nước ký kết”, hoặc “nước ký kết” nếu chỉ nhắc tới một thành viên ASEAN hoặc Trung Quốc);

Nhắc lại Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện (“Hiệp định khung”) giữa ASEAN và Trung Quốc do các vị lãnh đạo Chính phủ/Nhà nước của các quốc gia ASEAN và Trung Quốc ký tại Phnom Penh ngày 04 tháng 11 năm 2002;

Nhắc lại khoản 1 Điều 11 của Hiệp định khung về việc xây dựng các thủ tục và cơ chế giải quyết tranh chấp chính thức phù hợp phục vụ các mục tiêu của Hiệp định khung trong vòng 1 năm kể từ ngày Hiệp định khung có hiệu lực;

Đã nhất trí như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục tiêu của Hiệp định này, các định nghĩa sau đây sẽ được áp dụng trừ phi có quy định khác:

(a) Tất cả các định nghĩa trong Hiệp định khung sẽ được áp dụng trong Hiệp định này;

(b) “ngày” nghĩa là ngày theo lịch, gồm cả ngày cuối tuần và ngày nghỉ khác;

(c) “các bên trong tranh chấp”, “các bên tranh chấp” hoặc “các bên liên quan” nghĩa là bên khiếu nại và bên bị khiếu nại;

Continue reading

KỸ THUẬT LẬP PHÁP: Một luật sửa nhiều luật

NGÔ ĐỨC MẠNH

Ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật

Đặt vấn đề

Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật phục vụ cho quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước ta, trong phiên họp lần thứ 26 của ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 3 năm 2005, nhiều ý kiến phát biểu đề xuất về việc ban hành một luật chung để sửa đổi, bổ sung các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan. Điều này đặt ra vấn đề, cần nghiên cứu để xác định khả năng hiện thực của phương án khi số lượng văn bản cần phải sửa đổi để đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO là khá nhiều và trong điều kiện, khả năng hiện có. Chúng tôi cho rằng, vấn đề ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế (gia nhập WTO là một mục đích cụ thể), mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật.

Tổng quan về quy trình làm luật hiện nay

Hiến pháp năm 1992 quy định nhiều chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, bao gồm: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận… Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật và kiến nghị về dự án luật. Tuy vậy, quy trình làm luật của chúng ta hiện nay đã được luật hoá toàn bộ và tiến hành theo chương trình, kế hoạch. Vì thế, việc xây dựng dự án luật, pháp lệnh chỉ chính thức khởi động khi có Ban soạn thảo được Chính phủ, ủy ban Thường vụ Quốc hội hay chủ thể khác thành lập căn cứ vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Quốc hội xem xét, quyết định. Điều này cũng có nghĩa là, khi cần sửa đổi những điều khoản cụ thể của một văn bản nào đó thì nhất thiết phải khởi động ngay từ đầu quy trình đề xuất để đưa vấn đề vào Chương trình rồi mới thành lập Ban soạn thảo và tổ chức soạn thảo dự án.

Continue reading

KỸ THUẬT LẬP PHÁP: MỘT LUẬT SỬA NHIỀU LUẬT

NGÔ ĐỨC MẠNH

Ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật

Đặt vấn đề

Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật phục vụ cho quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước ta, trong phiên họp lần thứ 26 của ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 3 năm 2005, nhiều ý kiến phát biểu đề xuất về việc ban hành một luật chung để sửa đổi, bổ sung các văn bản luật, pháp lệnh có liên quan. Điều này đặt ra vấn đề, cần nghiên cứu để xác định khả năng hiện thực của phương án khi số lượng văn bản cần phải sửa đổi để đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO là khá nhiều và trong điều kiện, khả năng hiện có. Chúng tôi cho rằng, vấn đề ban hành một luật chung hay một luật sửa đổi nhiều luật không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế (gia nhập WTO là một mục đích cụ thể), mà cần tính đến khả năng này như một giải pháp có tính lâu dài trong quá trình tìm tòi và đổi mới quy trình lập pháp của nước ta vì mục đích đẩy nhanh tiến độ làm luật và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật.

Tổng quan về quy trình làm luật hiện nay

Hiến pháp năm 1992 quy định nhiều chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, bao gồm: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận… Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật và kiến nghị về dự án luật. Tuy vậy, quy trình làm luật của chúng ta hiện nay đã được luật hoá toàn bộ và tiến hành theo chương trình, kế hoạch. Vì thế, việc xây dựng dự án luật, pháp lệnh chỉ chính thức khởi động khi có Ban soạn thảo được Chính phủ, ủy ban Thường vụ Quốc hội hay chủ thể khác thành lập căn cứ vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Quốc hội xem xét, quyết định. Điều này cũng có nghĩa là, khi cần sửa đổi những điều khoản cụ thể của một văn bản nào đó thì nhất thiết phải khởi động ngay từ đầu quy trình đề xuất để đưa vấn đề vào Chương trình rồi mới thành lập Ban soạn thảo và tổ chức soạn thảo dự án.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA PHONG TỤC, TẬP QUÁN ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI – TỪ GÓC NHÌN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

TS. NGUYỄN THỊ BÁO – Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ là mục tiêu thứ 3 trong các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ đang được nước ta nỗ lực thực hiện. Bên cạnh những kết quả rất đáng ghi nhận, chúng ta đang phải tiếp tục khắc phục những định kiến trọng nam, xem thường nữ, xuất phát từ quan niệm phong kiến, lạc hậu vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận người dân, trên con đường chinh phục mục tiêu này.

Là một nước phong kiến, nửa thuộc địa, kinh tế kém phát triển, kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, chúng ta đã đi được một chặng đường dài trên con đường tiến tới thực hiện mục tiêu bình đẳng nam nữ: cách biệt về giới ở các cấp học sẽ được xóa bỏ trước năm 2015; phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở các ngành các cấp; cơ hội việc làm được mở ra cho cả nam và nữ; lao động nữ đã có nhiếu đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; phụ nữ được tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận các nguồn lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần giảm nghèo và nâng cao vị thế của người phụ nữ; phụ nữ ngày càng được thụ hưởng bình đẳng với nam giới trong các dịch vụ công về y tế, văn hóa, xã hội…

Để nâng cao các quyền về kinh tế cho nữ giới, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Sửa đổi đất đai năm 2003, trong đó có ghi rõ tất cả các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất đều phải được cấp bao gồm tên của cả vợ và chồng.

Các giấy tờ về quyền sử dụng đất giúp bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người phụ nữ đối với tài sản đất đai đó.

Những giấy tờ này cũng giúp nữ giới có thể vay vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng nhằm bảo vệ quyền lợi hco phụ nữ trong trường hợp ly dị và phân chia tài sản.

Continue reading

KỸ NĂNG ĐÀM PHÁN TRONG GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN

* Khái niệm đàm phán :

Đó là một khía cạnh của cuộc sống mà không có quy tắc thống trị. Nói dối không những được cho phép mà còn được sử dụng thường xuyên.

– Đó là việc chấp nhận một nhượng bộ như là sự thay thế cho điều mà bạn thực sự nghĩ bạn mong muốn.

– Đó là chuyến đi tới một vùng đất tưởng tượng mà không có bản đồ dẫn đường, trong đó tất cả các biển báo và chỉ dẫn đều bị sai lệch có chú ý.

Mục đích cuối cùng của một cuộc đàm phán, nhất là đàm phán bất động sản là kiếm được lợi nhuận. Tuy nhiên, lợi nhuận cũng có nhiều dạng. Tất nhiên dạng đầu tiên của lợi nhuận là tỷ lệ lãi suất cao hơn hay mức giá hời hơn. Nhưng đàm phán cũng có thể đưa lại kết quả khác cũng có giá trị ví dụ như việc hiểu kỹ hơn về một tài sản. Thường thường các bên tham gia đàm phán có mục đích tự nhiên là đạt được sự thoả mãn sau cuộc đàm phán và cảm thấy hài lòng về kết quả thu được. Đây là một dạng khác của " lợi nhuận" mà bạn muốn phía đối tác cảm thấy họ đã đạt được.

* Mục tiêu đàm phán :

Khi bắt đầu đàm phán các nhà đầu tư bất động sản đều tập trung vào các mục tiêu trước mắt sau đây :

Tìm hiểu vị thế của đối tác đàm phán. Nếu chúng ta biết được những gì đối tác muốn, chúng ta có thể tiến hành giao dịch để đáp ứng được nhu cầu của họ. Luôn có lý do này hay lý do khác để bên kia sẵn sàng xem xét thương lượng. Nếu bạn tìm được " câu chuyện bên trong" ẩn dấu những gì họ muốn và thực sự coi trọng, bạn có thể nêu ra vấn đề mà họ đang quan tâm.

Continue reading

NHẬN DẠNG CARTEL THEO LUẬT CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Bộ Tư pháp

Thuật ngữ "cartel" bắt nguồn gốc từ tiếng Đức ("Kartell"), có nội hàm dùng để chỉ hình thức hợp tác giữa các doanh nghiệp có vị trí độc lập với nhau (hợp tác theo chiều ngang) nhằm nâng cao sức mạnh của các bên trên thị trường. Cartel được sử dụng rộng rãi tại các nước Anh-Mỹ, tuy nhiên tại Pháp nó lại được thể hiện bằng thuật ngữ "entente", nhưng nội hàm hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau, theo đó entente thể hiện mọi thoả thuận ý chí (minh thị hoặc mặc thị) và mọi dạng hành vi tập thể giữa các doanh nghiệp có tính chất làm mất đi tính độc lập trong hành vi của mỗi bên tương ứng trên thị trường.

Cartel hay entente bị coi là bất hợp pháp khi nó có mục đích nhằm ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh bình thường trên thị trường.

Về mặt kinh thế, cartel là một tình trạng độc quyền do các doanh nghiệp đạt được bằng cách liên kết với nhau để kiểm soát thị trường. Loại hình liên kết cổ điển và cũng là phổ biến nhất chính là các bên cùng nhau ấn định giá và các yếu tố hình thành giá với mục đích ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới. Hậu quả tiêu cực nhất của liên kết này thể hiện ở chỗ người tiêu dùng không được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh về giá cả trên thị trường mà đáng lẽ ra họ phải được hưởng nếu có "cuộc chiến tranh" về giá diễn ra.

Không phải cartel nào cũng bị coi là bất hợp pháp. Thậm chí một số cartel còn được thiết chế hoá thành các tổ chức xuyên quốc gia như OPEP (tổ chức các nhà xuất khẩu dầu) hoặc De Beers (tổ chức các nhà xuất khẩu kim cương), theo đó việc thoả thuận ấn định giá được coi là một điều hoàn toàn bình thường và cần thiết. Khẩu hiệu mà các doanh nghiệp tham gia cartel thường sùng bái là "Đối thủ cạnh tranh là bạn của chúng ta; chỉ có khách hàng mới là kẻ thù của chúng ta"[1].

Continue reading

NHÀ NƯỚC PHÁP TRỊ TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT

TS. NGUYỄN SỸ PHƯƠNG (CHLB ĐỨC)

Thượng tôn pháp luật là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Một trong những dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước pháp trị đó là tuân thủ luật pháp và được Nhà nước bảo đảm thực thi bằng Toà án độc lập.

Chuyện người, chuyện mình

Gần 8 triệu ngoại kiều trên tổng số hơn 80 triệu dân Đức muốn nhập quốc tịch phải vượt qua kỳ thi trắc nghiệm kiến thức xã hội nước Đức, trong đó có một câu hỏi, nhà nước pháp trị là gì, với 4 câu trả lời sẵn sơ đẳng: 1- Nhà nước có quyền, 2- Đảng có quyền, 3- Công dân quyết định luật pháp và 4- Nhà nước phải tuân thủ pháp luật.

Những ngoại kiều nhìn Nhà nước bằng con mắt của kẻ nô lệ bao giờ cũng trả lời sai, đánh vào câu số 1, trong khi chỉ mỗi câu số 4 đúng – chính là dấu hiệu đặc trưng của một nhà nước pháp trị, đòi bất cứ hoạt động nào của bất kỳ cơ quan nhà Nước nào đều phải viện dẫn chuẩn mực pháp lý của những điều khoản luật pháp điều chỉnh nó; cũng xuất phát từ đó, mọi vấn đề xã hội nảy sinh, họ không thể không mổ xẻ văn bản luật liên quan, để cải cách nó.

Xã hội họ phát triển, hoàn thiện liên tục chính là kết quả tổng hợp từ những cải cách luật thường nhật như vậy; thiếu nó, mọi chủ trương, chính sách dù thần kỳ mấy cũng không thể trở thành hiện thực.

Cách đây mấy tháng, tại Sachsen, một người đàn ông gọi tới số điện khẩn cảnh sát báo sẽ giết vợ, tự sát. Cảnh sát tức tốc tới nơi, không thấy động tĩnh gì, bèn cẩn thận cho xe chạy lòng vòng quan sát, thì phát hiện được đương sự từ xa đang dí khẩu súng vào thái dương chực bóp cò.

Continue reading

THỰC TIỄN ĐĂNG KÝ KẾT HÔN: MẤT QUYỀN LÀM VỢ

ĐỨC MINH

Viện lẽ hồ sơ trước đây chưa đầy đủ, UBND huyện đã hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn của đương sự. Chị D. (ngụ Hà Nội) yêu người thầy lớn hơn mình 37 tuổi. Người thầy tên T., góa vợ đã lâu. Cuối tháng 1-2007, hai người đi đăng ký kết hôn và được UBND xã Phù Lưu Tế (huyện Mỹ Đức) cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Cuộc hôn nhân ngắn ngủi

Sau ngày cưới, vợ chồng chị D. vào Đà Nẵng để ra mắt họ hàng và làm giỗ cho người vợ đầu của ông T. Không may, ông T. bị đột tử do mang sẵn căn bệnh huyết áp cao và tiểu đường. Tính ra, hôn nhân của họ kéo dài chưa đầy tuần lễ. Khi mất, ông T. có để lại một căn hộ và một biệt thự.

Hai năm sau đó, chị D. đi bước nữa. Tháng 2-2009, chị D. được UBND xã Phù Lưu Tế xác nhận “đã đăng ký kết hôn một lần, chồng chết, hiện độc thân”. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau khi có xác nhận này, UBND xã Phù Lưu Tế đã mời chị đến hòa giải với… con gái ông T. về hôn nhân trước. Tại đây, chị hết sức bất ngờ khi được biết vào tháng 10-2007, từ phản ánh của con gái ông T., UBND xã Phù Lưu Tế đã ra quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa chị với ông T. Lý do: hai người vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn. Cụ thể, hồ sơ kết hôn của chị D. và ông T. thiếu tờ khai đăng ký kết hôn của cả hai; giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của ông T. đã hết hạn sử dụng do được cấp từ năm 2005. Khi ra quyết định thu hồi này, UBND xã Phù Lưu Tế đã không thông báo cho chị D.

Theo Nghị định 158 ngày 27-12-2005 của Chính phủ (về đăng ký và quản lý hộ tịch) thì UBND cấp xã không có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ các giấy tờ hộ tịch do mình cấp sai, thẩm quyền này thuộc về UBND huyện. Vì lẽ này, tháng 4-2009, UBND huyện Mỹ Đức đã ra quyết định hủy bỏ quyết định trái thẩm quyền nói trên của UBND xã Phù Lưu Tế, đồng thời thu hồi, hủy bỏ, xóa đăng ký kết hôn của chị D. và ông T.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO

HOÀNG THỊ BÍCH LOAN

Gia nhập WTO là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Đây là thời cơ lớn cho nước ta trong hoạt động ngoại thương, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá đã có bước phát triển mạnh mẽ. Bởi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động ngoại thương ở các nước nói chung và Việt Nam nói riêng.

Sự phát triển của ngoại thương đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới; góp phần tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế nhờ sử dụng hiệu quả lợi thế so sánh trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nâng cao trình độ công nghệ và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động… Bài viết này sẽ tập trung làm rõ thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO để có thể thấy được những cơ hội và thách thức đối với hoạt động ngoại thương Việt Nam nói chung và xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam nói riêng, từ đó có giải pháp hữu hiệu thúc đẩy hoạt động ngoại thương thời gian tới.

Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

Sau 2 năm gia nhập WTO, hoạt động ngoại thương nói chung, đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam nói riêng có nhiều thuận lợi để phát triển. Các nhà xuất khẩu Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường thế giới dễ dàng hơn, những hạn chế và rào cản thuế đối với hàng hoá Việt Nam được cắt giảm. Chúng ta có thị trường xuất khẩu rộng lớn đã và sẽ được cắt giảm cùng các biện pháp phi quan thuế cũng sẽ được loại bỏ theo Nghị định thư gia nhập của các thành viên này mà không bị phân biệt đối xử; tăng cơ hội thâm nhập thị trường nước ngoài cho các sản phẩm của nước ta.

Continue reading

LUẬT SỐ 34/2009/QH12 NGÀY 18 THÁNG 6 CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 5 VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 126 CỦA LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở số 56/2005/QH11 và Điều 121 của Luật đất đai số 13/2003/QH11.

Điều 1. Điều 126 của Luật nhà ở được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 126. Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:

a) Người có quốc tịch Việt Nam;

b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”

Continue reading

PHÂN TÍCH SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT, XÉT XỬ CÁC LOẠI VỤ ÁN CỦA NGÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN

THS. NGUYỄN QUANG LỘC – Thẩm phán – Vụ trưởng Vụ tổng hợp Toà án nhân dân tối cao

Số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án của ngành Tòa án nhân dân nói chung và của các cấp Tòa án nói riêng chính là thước đo quan trọng bậc nhất để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành và của từng Tòa án, từng cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án.

Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của năm trước, dự báo tình hình, nhiệm vụ của năm tiếp theo và các điều kiện đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, hàng năm Hội nghị tổng kết và triển khai công tác của ngành đều bàn bạc và thống nhất đưa ra các chỉ tiêu công tác, trong đó có chỉ tiêu về công tác xét xử, giải quyết các loại vụ án. Chỉ tiêu về số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của các vụ án đã giải quyết trên tổng số các vụ án phải giải quyết. Trên cơ sở các chỉ tiêu công tác do Tòa án nhân dân tối cao ban hành, các Tòa án đều phải quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện trong toàn đơn vị. Kết quả thực hiện trong từng thời điểm thống kê, báo cáo được tổng hợp từ Tòa án nhân dân cấp huyện đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh và thống kê, tổng hợp chung của toàn ngành tại Tòa án nhân dân tối cao.

Các số liệu thống kê được phân tích, đánh giá để có thể vẽ ra một bức tranh toàn cảnh về công tác giải quyết, xét xử của toàn ngành Tòa án nhân dân trong quý, 9 tháng, một năm. Từ những số liệu này có thể nhận biết được những điểm mạnh, những điểm yếu kém, tồn tại trong công tác giải quyết, xét xử chung của toàn ngành, hơn thế còn có thể đánh giá được việc giải quyết, xét xử từng loại vụ án, từng loại tội, từng loại tranh chấp hay việc dân sự. Trên cơ sở các số liệu đó, lãnh đạo ngành Tòa án nhân dân, lãnh đạo các Tòa án nhân dân địa phương có thể rút ra những bài học về chất lượng và quản lý, điều hành hoạt động xét xử, giải quyết các vụ án. Cũng căn cứ vào các số liệu của ngành Tòa án nhân dân, của Viện kiểm sát nhân dân, Công an nhân dân, Bộ Tư pháp, Nhà nước có thể hoạch định những chính sách, đề ra những chủ trương thích hợp nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực tư pháp nói riêng và toàn xã hội nói chung tốt hơn.

Continue reading