GIẢNG DẠY LUẬT SO SÁNH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Việc giảng dạy Luật So sánh ở các nước trên thế giới đã có hơn 150 năm lịch sử: từ nửa sau của Thế kỷ 19 ở một loạt các nước châu Âu, Luật So sánh đã được hình thành như một khoa học pháp lý và như một môn học. Năm 1861 ở Trường Đại học tổng hợp Okxford đã có Bộ môn Luật So sánh với Trưởng bộ môn là Giáo sư G. Men. Ở Mỹ, việc nghiên cứu và giảng dạy Luật So sánh được thực hiện trong ở các Bộ môn Pháp luật La Mã ở Trường Đại học tổng hợp Jelexk (1876) và Trường Đại học tổng hợp Columbia (1880) .

Giảng dạy Luật So sánh là một chủ đề nóng bỏng trong giáo dục pháp luật những năm gần đây và nhiều người cho rằng phải đổi mới cách giảng dạy cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Do sự toàn cầu hoá mà các trường luật phải dạy không chỉ pháp luật của quốc gia mình mà phải dạy nhiều hơn về luật quốc tế, luật của các nước trên thế giới. Thực tiễn pháp lý cho thấy pháp luật ngày càng mang tính quốc tế hơn, ví dụ như Luật Trọng tài, Luật Đầu tư và các trường luật phải bổ sung các vấn đề mới này vào chương trình giảng dạy để sinh viên được chuẩn bị tốt hơn và điều này cũng liên quan đến giảng dạy Luật So sánh.

Ở Việt Nam, Luật So sánh chỉ mới được đưa vào giảng dạy ở trường đại học vài năm nay và việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong lĩnh vực này theo chúng tôi là việc làm cần thiết. Bài viết này nhằm cung cấp một số thông tin về nội dung chương trình, giảng dạy Luật So sánh ở các nước trên thế giới, qua đây đưa ra những yêu cầu và triển vọng của giảng dạy Luật So sánh trong tương lai trên thế giới nói chung và ở Việt nam nói riêng.

1. Giảng dạy Luật So sánh ở Liên bang Nga

Ở Liên bang Nga, sự phát triển của Luật So sánh chỉ mới bắt đầu vào cuối thế kỷ 20 cùng với việc thoát khỏi những quan điểm cũ và sự phổ biến của những nghiên cứu luật so sánh. Năm 1996, xuất bản cuốn sách giáo khoa Luật So sánh đầu tiên ở Nga do Giáo sư Tikhomirov Iu.A. viết. Tuy nhiên, những công trình lớn trong lĩnh vực Luật So sánh hoặc nghiên cứu các hệ thống pháp luật được tiến hành chủ yếu ở góc độ lý thuyết hoặc nghiên cứu so sánh theo chuyên ngành hẹp. Nghiên cứu tổng thể các hệ thống pháp luật vẫn chưa có nhiều, chủ yếu do các nhà nghiên cứu luật so sánh Nga vẫn chưa mở rộng nghiên cứu ra ngoài chuyên ngành hẹp của mình.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 58/2009/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 07 NĂM 2009 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết các Điều 46, 60, 65, 73, 85, 86, 98 và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự.

Điều 2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Đương sự có quyền yêu cầu thi hành án trong thời hiệu yêu cầu thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc không thể gửi đơn yêu cầu thi hành án đúng hạn theo quy định tại khoản 1 Điều này thì đương sự có quyền gửi đơn đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án xem xét. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc xảy ra trở ngại khách quan nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 98/2009/TANDTC – KHXX NGÀY 30 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI THI HÀNH PHÁP LỆNH ÁN PHÍ, LỆ PHÍ TÒA ÁN

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

– Các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao;

– Các Toà hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Toà án nhân dân tối cao;

– Ban thanh tra Toà án nhân dân tối cao.

Ngày 27-02-2009, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XII đã thông qua Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án; Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2009. Để triển khai thi hành Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án, các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp, các đơn vị trực thuộc Toà án nhân dân tối cao cần thực hiện đúng một số vấn đề sau đây:

1. Kể từ ngày 01-7-2009, khi thụ lý các vụ việc dân sự, hình sự, hành chính để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm, các vấn đề về tạm ứng án phí, lệ phí; án phí, lệ phí Toà án phải được xem xét và quyết định theo đúng các quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

2. Đối với các vụ việc đã được Toà án thụ lý để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hoặc theo thủ tục phúc thẩm trước ngày Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án có hiệu lực pháp luật (ngày 01-7-2009), nhưng sau ngày 01-7-2009 Toà án mới giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, thì các quyết định về án phí, lệ phí Toà án được thực hiện theo quy định của Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ “Về án phí, lệ phí Toà án” và các văn bản trước đây về án phí, lệ phí Toà án; trường hợp theo quy định của Nghị định số 70/CP mà đương sự phải chịu án phí, lệ phí Toà án, nhưng theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án thì đương sự không phải chịu hoặc được miễn, giảm án phí, lệ phí Toà án, thì áp dụng quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án đối với họ.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

THS. CAO NHẤT LINH – Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Theo pháp luật Việt Nam, người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam. Do đó, người lao động nước ngoài tại Việt Nam được hiểu là người lao động trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có quốc tịch Việt Nam (1). Về mặt pháp lý, người nước ngoài làm việc cho các doanh nghiệp Việt Nam được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân trong quan hệ pháp luật về lao động. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến hoạt động nghề nghiệp như công đoàn, bảo hiểm xã hội… thì quyền tham gia của họ còn chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận.

Nếu căn cứ vào quy chế pháp lý thì người nước ngoài lao động tại Việt Nam có thể được chia thành hai loại cơ bản, đó là người nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động nước ngoài và người nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động Việt Nam.

Đối với người nước ngoài làm việc cho các hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam (người sử dụng lao động nước ngoài) thì thông thường, quyền và nghĩa vụ của họ sẽ được xác định theo pháp luật của quốc gia mà doanh nghiệp đó mang quốc tịch, nếu hai bên không có thỏa thuận luật áp dụng trong hợp đồng lao động. Đây là những người đã ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp ở nước ngoài, theo luật nước ngoài. Sau đó, họ chỉ đến Việt Nam làm việc theo hình thức di chuyển nội bộ trong doanh nghiệp. Do đó, các quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam, về nguyên tắc, sẽ không được áp dụng cho những đối tượng lao động này. Đồng thời, trong một số lĩnh vực khác liên quan như bảo hiểm xã hội, công đoàn… thì họ đương nhiên có quyền tham gia bảo hiểm ở nước ngoài và là thành viên của công đoàn ở quốc gia mà doanh nghiệp nước ngoài đó mang quốc tịch, mặc dù họ đang lao động trên lãnh thổ Việt Nam.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU: THAY ĐỔI QUYẾT ĐỊNH SAU 11 NĂM LÀ SAI?

BÌNH NGUYÊN

Lúc đầu tỉnh cho chủ đất nhận trọn thửa đất cho ở nhờ nhưng sau đó lại giảm xuống một nửa. Năm 1958, bà Nguyễn Thị Nương (ấp Long Thuận, xã Long Phước, huyện Long Hồ, Vĩnh Long) cho người quen sử dụng tạm 1.000 m2 đất hương hỏa để cất nhà, xây trại mộc. Lúc đó, người quen và con dâu là bà Nguyễn Thị Cúc cùng sống ở đây. Thời gian sau, người quen trả lại đất cho bà Nương và đi nơi khác sinh sống, còn trại mộc thì bỏ trống.

Sau giải phóng, bà Cúc quay về ấp Long Thuận sinh sống. Thấy hoàn cảnh bà Cúc khó khăn, UBND xã đã thỏa thuận với bà Nương cho bà Cúc sống tạm ở trại mộc ngày trước.

Năm 1991, bà Cúc đứng tên kê khai phần đất trên để được sử dụng hẳn. Không đồng ý, bà Nương đã khởi kiện. Năm 1992, tòa án huyện đã ra quyết định buộc bà Cúc trả lại 1.000 m2 đất cho bà Nương. Sau đó, quyết định này bị tòa án tỉnh hủy bỏ vì được ban hành không đúng thẩm quyền. Vụ tranh chấp này được chuyển đến UBND huyện giải quyết.

Năm 1995, UBND huyện Long Hồ đã ra quyết định buộc bà Cúc trả đất cho bà Nương, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của bà Nương cho bà Cúc 105 m2 đất nơi khác và một triệu đồng di dời. Lần này, bà Cúc đã khiếu nại.

Năm 1998, UBND tỉnh Vĩnh Long đã ra quyết định bác đơn khiếu nại của bà Cúc và công nhận cách giải quyết của UBND huyện. Tiếp sau đó, khi thanh tra lại vụ việc, UBND tỉnh đã ra công văn khẳng định: “Sự vụ không có tình tiết mới để làm thay đổi kết quả giải quyết của UBND tỉnh nên quyết định trên của UBND tỉnh là đúng pháp luật. Từ nay về sau, tỉnh không xem xét bất kỳ đơn khiếu nại nào liên quan đến vụ tranh chấp trên vì đã hết thẩm quyền”. Đến năm 2002, bà Nương được huyện cấp giấy đỏ cho số đất trên.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ SAO CHỤP HÌNH ẢNH ĐỒNG TIỀN

HỒNG HẠNH – Cục PH&KQ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Vừa qua, tại một số địa phương xuất hiện “Tiền giấy đồ chơi” là các ấn phẩm có in hình ảnh đồng tiền Việt Nam trên giấy cứng hoặc nền nhựa, được bày bán với tính chất như “đồ chơi”. Trước hiện tượng này, các cơ quan chức năng (công an, quản lý thị trường và cả Ngân hàng Nhà nước) đã vào cuộc để xem xét việc sao chụp hình ảnh đồng tiền Việt Nam có phải là hành vi vi phạm pháp luật hay không, nếu có thì xử lý đối với hành vi này như thế nào, chế tài xử phạt ra sao. Bài viết này xin trao đổi một số vấn đề về quy định sao chụp đồng tiền nhằm quản lý được một cách chặt chẽ hành vi sao chụp đồng tiền Việt Nam, góp phần vào hoạt động phòng, chống tiền giả.

1. Kinh nghiệm của các nước

– Làm tiền giả là hành vi phạm tội bị pháp luật nghiêm cấm, mặc dù những quy định nhằm ngăn chặn việc làm tiền giả ở mỗi nước có khác nhau, nhưng mỗi quốc gia đều có những quy định pháp lý nhằm hạn chế về việc sao chụp hay tái tạo (reproduction) hình ảnh đồng tiền của nước họ rất nghiêm ngặt, có nước thì cho phép sao chụp trong khuôn khổ quy định của Ngân hàng Trung ương, chính phủ; nhưng có nước quy định bất cứ hành vi sao chụp hình ảnh đồng tiền – thậm chí với mục đích nghệ thuật hoặc quảng cáo – là hành vi bị nghiêm cấm. Bên cạnh đó, các nước cũng rất chú trọng đến việc vận dụng các kỹ thuật để chống sao chụp đồng tiền.

– Nhóm Chống giả của Ngân hàng Trung ương (CBCDG – gồm 10 cơ quan phát hành tiền lớn trên thế giới) đã phát triển Hệ thống Ngăn chặn Tiền giả (CDS) nhằm ngăn chặn việc làm tiền giả bằng máy tính cá nhân, thiết bị xử lý hình ảnh kỹ thuật số và các phần mềm khác. Hệ thống này đã được các nhà sản xuất phần cứng và phần mềm các thiết bị sao chụp kỹ thuật số và xử lý hình ảnh tự nguyện ứng dụng. Hệ thống Ngăn chặn Tiền giả bao gồm kỹ thuật ngăn ngừa máy tính cá nhân và các công cụ kỹ thuật số sao chụp hình ảnh của đồng tiền đã được bảo vệ. Chẳng hạn, khi đưa một đồng EURO, đồng USD hay đồng Yên vào máy photocopy màu để sao chụp thì máy sẽ tự động dừng lại và/hoặc đưa ra lời cảnh báo về hành vi bị cấm.

Continue reading

TỔNG HỢP CÁC QUI ĐỊNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ, DÂN SỰ, HÀNH CHÍNH VỀ QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG BẰNG

TS. NGUYỄN VĂN THẢNH – THS. NGUYỄN THỊ HẠNH

I. Khái niệm quyền tiếp cận công bằng

1. Khái niệm

Quyền tiếp cận công bằng hay quyền tiếp cận công lý được dịch từ cụm từ tiếng Anh "access to justice"[1]. Đây cũng có thể coi là một khái niệm mới trong giới luật học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Coi đó là khái niệm mới bởi nội dung, ý nghĩa của nó vẫn còn được thảo luận sôi nổi tại các diễn đàn khoa học và kết quả cho thấy, có thể hiểu và nên hiểu một cách linh hoạt ý nghĩa, nội dung của cụm từ này trong mỗi lĩnh vực, phạm vi, hoàn cảnh, thời điểm, địa điểm và mục đích nghiên cứu. Ví dụ, tại Hội nghị Diễn đàn toàn cầu về tiếp cận công bằng tổ chức tại New York từ ngày 6/4 đến ngày 8/4/2000, các tham luận và thảo luận được trình bày toát lên ý nghĩa của cụm từ tiếp cận công bằng có thể sử dụng trong các khái niệm và ý nghĩa mà theo đó, có thể bao hàm cả việc được bảo đảm có đại diện pháp luật cho người nghèo tới việc cải cách pháp luật một cách toàn diện và liên quan tới vấn đề toàn cầu hoá. Các luật sư từ Mỹ nhấn mạnh đến quyền được bảo đảm có luật sư về dân sự cho tất cả các cá nhân; cũng có luật sư kêu gọi việc cần phải có nguồn lực để ổn định nền tư pháp và cung cấp các chương trình đào tạo pháp lý. Trong khi đó, các luật sư thuộc Nam Phi lại nhắc tới hiệu quả của các án lệ trong việc bảo vệ quyền của các công dân hạng thấp của xã hội.

Như vậy, có nhiều cách hiểu, nhiều con đường khác nhau để đi tới khái niệm tiếp cận công lý, công bằng. Ví dụ, trong bối cảnh thiếu hụt các dịch vụ pháp lý cho người nghèo thì các nhà nghiên cứu có thể đánh giá khía cạnh vai trò của các luật sư trong việc tiếp cận công bằng đối với người nghèo.

2. Phạm vi nghiên cứu

ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến khía cạnh bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền của tổ chức, công dân bằng con đường tố tụng (gồm tố tụng dân sự, hình sự và hành chính).

Continue reading

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ SAU CỔ PHẦN HÓA

PHẠM NGỌC LINH

Cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước là một biện pháp hữu hiệu được tiến hành phổ biến ở nhiều nền kinh tế trên thế giới. Ngay cả những quốc gia có nền kinh tế phát triển, phương thức quản lý doanh nghiệp tiên tiến như Anh, Pháp, Mỹ cũng đã áp dụng. ở nước ta, CPH đã bắt đầu được triển khai cách đây 19 năm với những bước đi thử nghiệm và sau đó là sự triển khai rộng khắp trên cả nước. Tuy nhiên do nhiều lí do khác nhau, CPH vẫn chưa mang lại những kết quả mong muốn. Mặc dù hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được CPH đã chứng tỏ tác dụng to lớn của nó, song thực tế các DNNN đã được CPH đang phải đối mặt với không ít vấn đề khó khăn, chưa có hướng giải quyết.

Một số vấn đề sau cổ phần hóa

Đất đai và quyền sở hữu tài sản. Trên thị trường chứng khoán hiện nay đôi lúc xảy ra trường hợp có những doanh nghiệp tiềm lực kinh tế cỡ trung bình, nhưng khi cổ phần hóa thì chỉ số cổ phiếu tăng nhiều lần so với giá trị thực. Những doanh nghiệp này thường thuê đất, trả tiền thuế đất hàng năm nhưng khi niêm yết giá trị tài sản của mình lên sàn giao dịch chứng khoán lại liệt kê cả giá trị quyền sử dụng đất. Nếu có sự lẫn lộn giữa giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản của doanh nghiệp gắn liền với đất sẽ dẫn đến bất lợi là xuất hiện tranh chấp, chuyển nhượng, mua gom, khống chế cổ phần, thâu tóm và kiểm soát công ty sau CPH vì giá trị đất.

Ngược lại, lại có tình trạng không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi CPH bằng cách duy trì các hợp đồng thuê đất lâu dài sẵn có. Khi đã CPH, giá trị sử dụng đất có thể trở thành giá trị siêu lợi nhuận trong kinh doanh vốn của doanh nghiệp. Không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi CPH tức là Nhà nước đã từ bỏ quyền được nhận phần “địa tô chênh lệch” phát sinh từ quyền sử dụng đất. Tất yếu, phần ”địa tô” ấy sẽ rơi vào túi những nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp sau CPH.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG DẪN QUAN TRỌNG HƠN LUẬT?

GS.TS . NGUYỄN VÂN NAM

Hiện nay, các đạo luật của ta đều phải chờ nghị định, thông tư hướng dẫn của chính phủ hoặc các bộ mới có thể được áp dụng trong thực tế.

Trước hết, việc một đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành phải chờ quyết định của hành pháp (Chính phủ) mới có giá trị thực hiện là một hạn chế nghiêm trọng quyền lực của lập pháp, đồng thời mở ra các khả năng lạm dụng quyền lực hành pháp qua việc cơ quan này có thể kéo dài hoặc rút ngắn một cách có chủ đích hiệu lực trên thực tế của điều luật.

Thứ hai, các nghị định, thông tư hướng dẫn của chính phủ không chỉ là những hướng dẫn thi hành, mà còn là những qui định mang tính chất chuẩn mực pháp lý. Nghĩa là chúng sẽ là chuẩn mực, là cơ sở cho Tòa án xét xử. Như vậy, trên thực tế, thẩm quyền của Tư pháp cũng đã chuyển qua cơ quan hành pháp. Rõ ràng thực tế hoạt động xây dựng Nhà nước pháp quyền ở ta với thói quen ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật đã không củng cố được cơ chế cân bằng, kiểm soát và giới hạn quyền lực Nhà nước, mà còn mở ra nhiều khả năng lạm dụng quyền lực hơn.

Trên nguyên tắc, Chính phủ không có thẩm quyền và nhiệm vụ hướng dẫn thi hành luật. Tuy nhiên, cho nội bộ cơ quan hành pháp, chính phủ hoàn toàn có quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật theo quan điểm của mình. Nhưng phải nhấn mạnh rằng, những văn bản này chỉ có giá trị pháp lý đối nội trong nội bộ chính phủ và các cơ quan công quyền chứ không có giá trị chuẩn mực pháp lý chung. Nghĩa là, nếu một cơ quan công quyền bị khởi kiện trước tòa án thì các hướng dẫn thi hành của chính phủ cũng chỉ có gía trị như ý kiến riêng của một bên tham gia tranh tụng mà thôi, chứ không phải là cơ sở pháp lý để tòa án xem xét.

Continue reading

VĂN HÓA PHÁP LUẬT và những ảnh hưởng tới pháp luật ở Việt Nam

PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG – Trường Đại học Luật Hà Nội

1. Các đặc điểm cơ bản của văn hoá pháp luật Pháp

1.1. Ảnh hưởng từ văn hoá pháp luật La Mã

Các bộ luật lớn của Pháp như Bộ luật dân sự Napoleon 1804, Bộ luật Thương mại năm 1807 đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương và luật La Mã. Luật La Mã được nghiên cứu tại các trường đại học của Pháp và được coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn và tập quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh pháp luật. “Corpus juris civilis” được tiếp nhận rộng rãi ở Pháp cũng như ở các nước lục địa châu Âu.

1. 2. Nơi khởi nguồn của nhiều tư tưởng pháp luật tiến bộ

Nhiều tư tưởng pháp luật tiến bộ được xuất phát từ nước Pháp. Tư tưởng pháp luật tự nhiên về quyền công dân và quyền con người thể hiện rõ trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và công dân quyền của Pháp năm 1789; tư tưởng phân chia quyền lực và kiềm chế đối trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thể hiện rõ trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu, tư tưởng chủ quyền tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện rõ trong tác phẩm “Khế ước xã hội” của Jean Jaques Rousseau.

1.3. Hệ thống luật được phân chia thành công pháp và tư pháp

Do ảnh hưởng sâu sắc của luật La Mã, hệ thống pháp luật Pháp được phân chia thành Jus publicum (công pháp), Jus privatum (tư pháp). Công pháp bao gồm những ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, các quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với tư nhân. Công pháp là gồm các ngành luật như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Ngân hàng, Luật Tài chính… Tư pháp bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư nhân với tư nhân. Tư pháp bao gồm các ngành luật như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Thương mại.

Continue reading

VĂN HÓA PHÁP LUẬT PHÁP VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG

1. Các đặc điểm cơ bản của văn hoá pháp luật Pháp

1.1. Ảnh hưởng từ văn hoá pháp luật La Mã

Các bộ luật lớn của Pháp như Bộ luật dân sự Napoleon 1804, Bộ luật Thương mại năm 1807 đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương và luật La Mã. Luật La Mã được nghiên cứu tại các trường đại học của Pháp và được coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn và tập quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh pháp luật. “Corpus juris civilis” được tiếp nhận rộng rãi ở Pháp cũng như ở các nước lục địa châu Âu.

1. 2. Nơi khởi nguồn của nhiều tư tưởng pháp luật tiến bộ

Nhiều tư tưởng pháp luật tiến bộ được xuất phát từ nước Pháp. Tư tưởng pháp luật tự nhiên về quyền công dân và quyền con người thể hiện rõ trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và công dân quyền của Pháp năm 1789; tư tưởng phân chia quyền lực và kiềm chế đối trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thể hiện rõ trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu, tư tưởng chủ quyền tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện rõ trong tác phẩm “Khế ước xã hội” của Jean Jaques Rousseau.

1.3. Hệ thống luật được phân chia thành công pháp và tư pháp

Do ảnh hưởng sâu sắc của luật La Mã, hệ thống pháp luật Pháp được phân chia thành Jus publicum (công pháp), Jus privatum (tư pháp). Công pháp bao gồm những ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, các quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với tư nhân. Công pháp là gồm các ngành luật như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Ngân hàng, Luật Tài chính… Tư pháp bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư nhân với tư nhân. Tư pháp bao gồm các ngành luật như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Thương mại.

Continue reading

SỬ DỤNG LUẬT TỤC, HƯƠNG ƯỚC MỘT CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ RỪNG

HÀ CÔNG TUẤN

Luật tục, hương ước đã từng là công cụ quản lý đời sống cộng đồng trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, trước yêu cầu tăng cường tính tự quản và sự đồng thuận xã hội, thì luật tục, hương ước của cộng đồng đang có tác động to lớn trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng. Bài viết không chỉ có giá trị tham khảo về vấn đề sử dụng luật tục, hương ước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng mà còn có thể gợi mở việc sử dụng luật tục, hương ước trên mọi lĩnh vực quản lý đời sống xã hội khác.

1. Luật tục và hương ước với việc quản lý rừng

Luật tục

Luật tục là một hệ thống các quy tắc xử sự mang tính dân gian, quy định về mối quan hệ ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và con người với con người trong cộng đồng, thể hiện ý chí của toàn thể cộng đồng, được thực hiện một cách tự giác, theo thói quen, nhưng vẫn có tính bắt buộc trong phạm vi cộng đồng.

Luật tục có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực quan hệ xã hội như: lĩnh vực tổ chức và quản lý cộng đồng; lĩnh vực ổn định trật tự an ninh và đảm bảo lợi ích cộng đồng; lĩnh vực tôn trọng, tuân thủ, bảo vệ phong tục, tập quán, duy trì và giáo dục nếp sống văn hoá tín ngưỡng; lĩnh vực quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình; lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên rừng; bảo vệ sản xuất, môi trường. Luật tục của hầu hết các dân tộc ít người ở miền núi đều có những quy định chặt chẽ về bảo vệ rừng, có giá trị bổ trợ cho pháp luật của nhà nước, nó đã thấm sâu vào cộng đồng như những quy tắc xử sự tự nhiên, có thể đề cập một số điển hình sau:

Người H’mông có tục ăn ước. Trong lễ này, người ta xây dựng thêm hay nhắc lại các quy ước bảo vệ rừng, đồng thời quy định lại các hình thức xử phạt nếu có người vi phạm. Ai không tôn trọng quy ước bảo vệ rừng đều bị xử phạt giống như gia súc phá họai mùa màng, nghiêm cấm đốt nương làm rẫy. Ai tự tiện vào rừng cấm để chặt cây bị phạt một con lợn hoặc bị phạt từ 50.000 đến 100.000 đồng.

Continue reading

CHỦ QUAN VÀ KHÁCH QUAN TRONG NGÔN NGỮ THƯƠNG THUYẾT

GS. PHAN VĂN TRƯỜNG*

Tiếp sau bài báo “Biết người, biết ta và câu chuyện của thằng Bờm về nghệ thuật thương thuyết đăng trong mục Sổ tay quản trị của TBKTSG số ra ngày 25-6-2009, kỳ này chuyên mục giới thiệu bài viết của cùng tác giả, bàn đến khía cạnh ngôn ngữ trong thương thuyết.

Khi ngồi vào bàn đàm phán, không có gì nguy hiểm bằng đôi bên (hay đa bên) không hiểu rõ những gì phe bên kia phát biểu. Có thể bạn cho rằng làm gì có chuyện hiểu sai những câu đại loại như: giá cao quá, công ty không có kinh nghiệm xây dựng loại nhà máy này, phần bê tông không đủ dày… Hiểu lầm nhau không thể dễ đến thế vì thương thuyết bao giờ cũng là một cuộc đàm thoại với ít nhiều tính cách kỹ thuật. Thêm nữa, họp đến đâu đã có văn bản đến đó, đâu còn chỗ cho sự phân vân. Nói tóm lại, không dễ gì hiểu sai nghĩa trong quá trình đàm phán và vì thế ta dễ dàng yên tâm để tiếp tục đàm phán vô tư.

Hồi còn là chuyên viên trẻ tuổi, tôi thường có suy nghĩ như thế, nhất là vào thời điểm đó, những cuộc thương thuyết mà tôi được tham gia đều có quy mô nhỏ. Bán một nhà máy sản xuất sơn dầu, hoặc xây dựng một con đường ngắn đều là những dự án không to tát, và ít góc cạnh hóc búa. Sau vài hồi đàm phán, mỗi hồi khoảng chừng một tuần, là đã ký được hợp đồng, người xây, người tài trợ, giá mua, giá bán và những điều khoản cần thiết.

Thế rồi đến khi phải dẫn đầu phái đoàn đi thương thuyết dự án trên vài trăm triệu đô la Mỹ, tôi mới bắt đầu ý thức được rằng sự hiểu lầm, hiểu ngược ý, hiểu không thấu đáo, không đích xác vấn đề là chuyện rất thường xảy ra.

Continue reading

TRANH CHẤP TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: ĐI KIỆN 14 NĂM CHƯA XONG

THANH TÙNG

Qua 10 lần xét xử, vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại xuyên thế kỷ này vẫn chưa có hồi kết. TAND TP.HCM vừa tuyên hoãn xử sơ thẩm (lần năm) vụ hai ông Đặng Đạo và Võ Văn Vinh kiện Công an TP.HCM đòi bồi thường thiệt hại vì “giam xe oan”. Đây là một kỳ án đã kéo dài suốt 14 năm nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Giữ xe sai

Như Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh, tháng 2-1992, ông Đạo đại diện cho 10 chủ xe tải ký hợp đồng vận chuyển gỗ từ Campuchia về TP.HCM cho Công ty Vikamex (Bộ Thương mại). Trong một chuyến chở gỗ, một số xe tải đã đổ gỗ xuống Sông Bé theo lệnh riêng của vài cán bộ trong Vikamex. Ông Đạo báo lại sự việc cho Vikamex và rắc rối bắt đầu phát sinh.

Vikamex cho rằng ông Đạo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa nên yêu cầu Công an TP tạm giữ hai chiếc xe của ông Đạo, ông Vinh (không lập biên bản). Sau 19 tháng tạm giữ xe và điều tra không có kết quả, Công an TP đình chỉ vụ án, trả xe lại cho các khổ chủ.

Nhận hai chiếc xe trong tình trạng bị hư hỏng nặng, cho rằng Vikamex giữ xe trái phép gây thiệt hại nên ông Đạo, ông Vinh đã kiện Vikamex ra TAND quận 1 (TP.HCM) đòi bồi thường tổng cộng 359 triệu đồng.

Hủy lên hủy xuống

Năm 1995, TAND quận 1 xử sơ thẩm lần đầu, tuyên buộc Vikamex phải bồi thường cho hai chủ xe 196 triệu đồng. Xử phúc thẩm lần đầu, TAND TP đã tăng mức bồi thường lên gần 340 triệu đồng.

Continue reading

HÃY SỬA NGAY LUẬT CẠNH TRANH VÌ LỢI ÍCH NGƯỜI TIÊU DÙNG

GS. TS. NGUYỄN VÂN NAM

Ta có sẵn lòng mua hộp sữa với giá cao ngất trời, trong khi có thể mua hộp sữa khác với chất lượng tốt không kém với giá rẻ hơn không? Tất nhiên là không. Khi người tiêu dùng (NTD) được hoàn toàn tự do lựa chọn, họ sẽ chọn mua loại sữa tốt nhất, giá rẻ nhất. Bảo vệ quyền được tự do quyết định tiêu dùng- TDQĐTD- (mua hay không mua hàng hóa chỉ căn cứ vào chất lượng và giá cả ) là một mục tiêu chính của Luật cạnh tranh (LCT). Cuộc cạnh tranh hiệu quả (CTHQ)- cạnh tranh không ngừng nâng cao chất lượng, đồng thời hạ giá thành sản phẩm- là cuộc cạnh tranh bảo vệ tốt nhất quyền đó và là cuộc cạnh tranh duy nhất được WTO ủng hộ. Nhưng, cuộc CTHQ và quyền TDQĐTD hầu như không được LCT của ta để ý đến. Đó mới là nguyên nhân thực sự của giá sữa cao hiện nay.

Điểm đặc biệt- một nghịch lý mang đặc trưng Việt nam- trong hiện tượng giá sữa cao là NTD vẫn chấp nhận giá cao, không chỉ cao hơn nhiều so với các nước, mà còn vượt xa thu nhập thực tế của họ. Cái gì khiến họ chấp nhận giá cả bất hợp lý như vậy? Điều gì khiến các công ty sữa quốc tế đổ xô vào Việt nam?

Đã là kinh tế thị trường thì Nhà nước (NN) không thể kiểm soát giá cả, trừ một số ngoại lệ. Các tác nhân hoạt động trên thị trường-trong đó có NTD – tự xác định giá cả trong cơ chế hoạt động CTHQ. CTHQ cũng là cạnh tranh lành mạnh nhằm bảo vệ quyền TDQĐTD. Bất kỳ hoạt động CT nào khiến NTD quyết định mua không theo chất lượng và giá cả mặt hàng, đều là cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM).

Luật CT của ta chỉ cấm một vài hình thức hoạt động CT gây nhầm lẫn, hoàn toàn không cấm CT gây ngộ nhận (xác tín không đúng với sự thật). Trong khi gây ngộ nhận là một trong số các hoạt động CTKLM phổ biết nhất, thể hiện dưới rất nhiều hình thức. Các công ty kinh doanh sữa thường xuyên quảng cáo sản phẩm của họ có các vi chất tăng trí thông minh, sản xuất theo công thức đặc biệt làm tăng sức đề kháng của trẻ; sử dụng bác sĩ nhi khoa, chuyên gia dinh dưỡng nhận xét về sản phẩm v…v, khiến NTD tin (một cách ngộ nhận) rằng đó là sản phẩm tốt nhất, thích hợp nhất-thậm chí là duy nhất- cho bé yêu của họ. Vì tương lai con trẻ, họ sẵn sàng hạn chế những chi tiêu khác để có tiền mua bằng được sản phẩm tốt nhất ấy. Đó không phải tâm lý sính ngoại, mà là văn hóa tiêu dùng ngộ nhận.

Continue reading

CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Trong dự thảo văn kiện Đại hội Đảng X có yêu cầu: ”Xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp, định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật trong đời sống kinh tế – xã hội”.
Việc tham khảo kinh nghiệm trong việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp của một số nước để rút ra những kiến nghị phục vụ việc tiếp tục nghiên cứu, đề xuất hình thành một cơ chế bảo hiến có hiệu quả trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hết sức cần thiết.

I. Về khái niệm bảo vệ Hiến pháp

Ở các nước trên thế giới không có một khái niệm thống nhất về cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Thuật ngữ “bảo vệ Hiến pháp” – “правовая охрана конституция” được tích cực sử dụng ở Việt Nam, ở Liên bang Nga nhưng thuật ngữ này không được dùng nhiều ở các nước trên thế giới và ngay cả ở Nga khái niệm trên cũng chưa được đưa vào luật. Ở Anh và Mỹ có một khái niệm là “judical review” có thể tạm dịch là kiểm tra tư pháp. Bản chất của khái niệm này là dùng để chỉ việc kiểm tra của cơ quan tư pháp đối với tính hợp hiến của các đạo luật do cơ quan lập pháp đưa ra. Khái niệm này tương đương với khái niệm “bảo hiến” hay “kiểm hiến” mà một số sách trước đây về luật hiến pháp ở Việt nam hay dùng .
Bảo hiến (bảo vệ hiến pháp) về ý nghĩa cốt lõi được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật, là xem xét xem những đạo luật được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp hay không. Theo cách hiểu này, bảo hiến không nhằm vào các văn bản dưới luật. Sự bảo hiến chỉ nhằm vào những đạo luật do Quốc hội đưa ra bởi những văn kiện này đứng ở tột đỉnh của hệ cấp những hành vi pháp lý . Tuy nhiên cách hiểu bảo hiến chỉ là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật là một cách hiểu theo nghĩa hẹp. Thực tiễn của chế độ bảo hiến ở các nước cho thấy, các định chế bảo hiến được sinh ra không chỉ đơn thuần là kiểm soát tính hợp hiến của hành vi lập pháp. Toà án Hiến pháp ở nhiều quốc gia châu Âu bên cạnh việc kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật của Nghị viện còn thực hiện nhiều chức năng khác để bảo vệ nội dung và tinh thần của Hiến pháp như giải quyết tranh chấp giữa lập pháp và hành pháp, giữa liên bang và tiểu bang, giữa trung ương và địa phương; kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi của Tổng thống cũng như của các quan chức trong bộ máy hành pháp… Ở nghĩa rộng hơn, bảo hiến được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các hành vi của các định chế chính trị được quy định trong Hiến pháp.

Continue reading

NHẬN DIỆN NHỮNG YẾU TỐ GÓP PHẦN BẢO ĐẢM AN TOÀN CHO LOẠI HÌNH TỔ CHỨC TÍN DỤNG HỢP TÁC VƯỢT QUA CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

THS. DOÃN HỮU TUỆ

Đến nay, cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ra không biết bao hệ lụy cho nền kinh tế thế giới nói chung và khu vực tài chính – ngân hàng nói riêng. Trong lịch sử kinh tế thế giới hiện đại, chưa bao giờ hàng hoạt “đại gia” hàng đầu trong lĩnh vực tài chính phải gánh chịu những tổn thất nặng nề khiến Chính phủ các nước có nền kinh tế hùng mạnh như Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc,… phải bỏ ra những khoản tiền khổng lồ để giải cứu nền kinh tế.

Tuy nhiên, có một điều ít được để ý là trong khi hàng loạt những tập đoàn tài chính vốn được xem như những “chiến hạm khổng lồ” bị chao đảo, thậm chí biến mất trong “cơn bão” khủng hoảng thì các tổ chức tín dụng (TCTD) hợp tác – vốn được ví như những “chiếc thuyền nan mong manh” lại có thể vượt qua sóng gió một các bình an vô sự. Thật vậy, cho đến nay, khi cuộc khủng hoảng đã qua đỉnh điểm, chưa có một hệ thống TCTD hợp tác nào trên thế giới bị đổ vỡ. Ngay trong lòng nước Mỹ – nơi được xem là “tâm bão” và các quốc gia lân cận như Canađa hay Mêhicô, các TCTD hợp tác vẫn trụ vững, dù những khó khăn là không thể tránh khỏi.

Thực tế này đặt ra một câu hỏi: Tại sao các TCTD hợp tác với tiềm lực tài chính, năng lực quản lý và trình độ công nghệ hạn chế hơn nhiều so với các loại hình định chế tài chính khác lại có thể vượt qua khủng hoảng một cách ngoạn mục như vậy?

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả không có tham vọng lý giải một cách thấu đáo vấn đề đặt ra mà chỉ xin tập trung phân tích một số khía cạnh liên quan; qua đó, rút ra những bài học hữu ích đối với hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

I- Những yếu tố đặc trưng cơ bản góp phần đảm bảo an toàn cho loại hình TCTD hợp tác

– Các TCTD hợp tác thường không chịu áp lực phải đạt được lợi nhuận cao nhất bằng mọi giá

Continue reading

PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

THS. NGUYỄN LÊ THU – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, tranh chấp lao động trở thành vấn đề phức tạp đối với mọi nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trở nên phức tạp hơn rất nhiều một phần do sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài vốn quen với quan hệ lao động có nhiều khác biệt tại chính quốc gia họ, một phần từ ý thức ngày càng nâng cao của người lao động về các quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Thực tế chứng minh số lượng các cuộc đình công – hậu quả trực tiếp từ tranh chấp lao động – tăng lên nhiều và nhanh trong các năm qua (1). Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra là phải xây dựng một cơ chế pháp lý vừa bảo đảm tốt nhất quyền lợi của người lao động – những người được coi là bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động, vừa không phải là rào cản ngăn trở nguồn lực đầu tư từ bên ngoài. Bài viết giới thiệu một trong những bước cải cách của Trung Quốc về các biện pháp giải quyết tranh chấp lao động.

1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động: tập trung biện pháp trọng tài

Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp lao động được quy định cụ thể và rõ ràng trong Luật Hòa giải và trọng tài đối với các tranh chấp lao động (sau đây gọi là Luật HG và TT)(2), là: hợp pháp, công bằng, đúng thời hạn và theo hướng hòa giải (3). Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tên của Luật. Mặc dù là một luật bao quát điều chỉnh toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp lao động từ giai đoạn ban đầu (tham vấn, hòa giải) đến khi có được các bản án, phán quyết có giá trị pháp lý bắt buộc (xét xử tại Tòa án), tên của Luật HG và TT cũng chỉ bao gồm hai biện pháp được coi là chính yếu: hòa giải và trọng tài. Cơ cấu các điều khoản trong luật cũng cho thấy việc tập trung vào các biện pháp này của nhà lập pháp. Trong tổng số 54 điều luật, ngoài những điều khoản chung, có 7 điều khoản liên quan đến hoạt động hòa giải, còn lại các điều khoản đều tập trung vào việc thực hiện biện pháp trọng tài, bao gồm đầy đủ từ thẩm quyền, thành phần của Hội đồng, thủ tục tiến hành, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi bên và giá trị pháp lý của các phán quyết trọng tài. Tuy vẫn coi Tòa án là cơ quan cuối cùng giải quyết các tranh chấp trong trường hợp thủ tục giải quyết tại Hội đồng trọng tài có thiếu sót hoặc có hành vi vi phạm pháp luật của thành viên Hội đồng, nhưng trong những trường hợp thông thường, Tòa án chỉ còn được nhắc đến như một cơ quan bảo đảm giá trị pháp lý cho các phán quyết đó mà thôi.

Continue reading

GIÁM ĐỐC THẨM – “XÉT” CHỨ KHÔNG “XỬ”

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG – Trung tâm Luật So sánh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Sau khi đăng bài “Tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm dân sự” của tác giả Mai Ngọc Dương (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11 – tháng 6/2009), Tạp chí đã nhận được một số ý kiến phản hồi, trao đổi về bài viết này. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Thị Phượng và mong muốn sẽ tiếp tục nhận được các ý kiến trao đổi khác.

1. Luận điểm chủ đạo của tác giả Mai Ngọc Dương trong bài “Tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm dân sự” là phiên tòa giám đốc thẩm dân sự thiếu tính công khai. Tác giả đưa ra ba lý do cho luận điểm này như sau:.

Thứ nhất, tác giả cho rằng phiên tòa giám đốc thẩm được tổ chức như một phiên họp, không giống như một phiên tòa.

Thứ hai, tác giả nhận xét rằng sự tham gia của nguyên đơn, bị đơn dân sự còn hạn chế bởi sự tham gia của những người này, theo luật, là không bắt buộc.

Thứ ba, sự tham gia của người bào chữa trong phiên tòa giám đốc thẩm còn hạn chế bởi những người này cũng như các nguyên đơn, bị đơn, thuộc nhóm “những người tham gia tố tụng” chỉ được Tòa án triệu tập khi thấy cần thiết.

Cuối cùng, tác giả đề xuất bổ sung vào Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về hình thức của phiên tòa giám đốc thẩm như sau: “Phiên tòa giám đốc thẩm được mở công khai với sự tham gia của các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bào chữa” (1).

2. Chúng tôi xin trao đổi lại với tác giả Mai Ngọc Dương về luận điểm nêu trên. Theo chúng tôi, phiên tòa giám đốc thẩm dân sự không cần mở công khai, không cần quy định bắt buộc phải có sự tham gia của các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa. Lý do căn bản của điều này là giám đốc thẩm không phải là một hoạt động xét xử mà là một hoạt động tự kiểm tra trong nội bộ hệ thống tư pháp, nên không cần phải tiến hành công khai. Điều này được chứng minh bởi những lý do sau đây:

Continue reading