TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON NUÔI: GIÀNH LẠI QUYỀN NUÔI CON

VĂN ĐOÀN

Tranh chấp quyền nuôi trẻ với bà ngoại nhưng không được các cơ quan pháp luật địa phương giải quyết. Bài “Giành nuôi cháu ngoại” (Pháp Luật TP.HCM ngày 6-5) có phản ánh vụ tranh chấp quyền nuôi trẻ bốn tuổi giữa bà Trần Thị Kim Hạnh (ngụ phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP.HCM) với bà K. (thị trấn Chư Ty, huyện Đức Cơ, Gia Lai). Đến nay, vụ việc này vẫn chưa được giải quyết.

Năm 2005, con gái bà K. đến nhà bà Hạnh sinh con. Ít ngày sau, do con bà K. bỏ lại trẻ nên bà Hạnh đã đứng ra làm giấy khai sinh cho trẻ với tư cách là mẹ. Cuối tháng 2-2009, bà K. đưa trẻ lên Gia Lai chơi. Lấy lý do “để công an địa phương không làm khó dễ”, bà K. đề nghị bà Hạnh đưa khai sinh của trẻ, đồng thời viết giấy chuyển quyền nuôi con. Sau đó, bà K. không chịu giao trả trẻ, viện lẽ đã đưa cho bà Hạnh 30 triệu đồng…

Không ai chịu xử lý

Phản đối việc bà K. đưa tiền, bà Hạnh đã nộp nhiều đơn yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét, buộc bà K. phải giao trả trẻ cho bà. Cho rằng vụ việc chỉ đơn thuần là tranh chấp dân sự, Công an huyện Đức Cơ đã chuyển hồ sơ đến UBND thị trấn Chư Ty. Ngày 7-4, do hòa giải không thành nên UBND thị trấn đã chuyển hồ sơ đến TAND huyện.

Ngày 21-4, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai xác định đây là tranh chấp về xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND theo khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng đến ngày 18-5, TAND huyện Đức Cơ đã ra thông báo trả lại đơn kiện của bà Hạnh vì “không thuộc thẩm quyền”.

Continue reading

LỊCH HỌC MÔN LUẬT DÂN SỰ HỌC KỲ I NĂM HỌC 2009 – 2010 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

1. HỌC KỲ:  Học kỳ 1 năm học 2009 – 2010

 2. CHƯƠNG TRÌNH HỌC:

 2.1. Môn Luật dân sự – Modul 1 theo học chế tín chỉ (Nội dung môn học theo phương pháp tín chỉ – Chưa áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ)

* Người học: Sinh viên Khóa 33

* Nội dung môn học:

Modul 1 có 3 tín chỉ, bao gồm 12 vấn đề:

Vấn đề 1: Khái niệm chung luật dân sự Việt Nam

Vấn đề 2: Quan hệ pháp luật dân sự

Vấn đề 3: Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự

Vấn đề 4: Giao dịch dân sự, đại diện, thời hạn, thời hiệu

Vấn đề 5: Tài sản

Vấn đề 6: Nội dung quyền sở hữu

Vấn đề 7: Hình thức sở hữu

Vấn đề 8: Căn cứ xác lập và chấm dứt quyền sở hữu

Vấn đề 9: Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu và các quy định khác về quyền sở hữu

Continue reading

VÀI NHẬN XÉT VÀ SUY NGHĨ VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẬU DỊCH (FAIR TRADE)

NGÔ VĨNH LONG

Trong bài về sự bí ẩn trong “thế giới hàng hóa” của Marx,[1] tác giả Lữ Phương có viết những dòng sau đây về trao đổi hàng hóa (trang 1):

Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi, mình cần cái mình không có mà không bị thiệt thòi. Muốn như vậy thì phải tìm ra một chuẩn mực chung giữa hai hàng hoá để làm cơ sở cho cuộc trao đổi đó. 

Chuẩn mực chung đó là gì?  Trong trao đổi đơn giản, Marx cho rằng nếu đó là sự chi phí sức lao động tính bằng độ lâu (durée) về thời gian của các loại lao động riêng biệt thì trong xã hội mà sự trao đổi hàng hoá đã trở thành hiện tượng “chi phối”, phổ biến, sự chi phí về sức lao động đó đã biểu hiện như một hình thái đồng nhất, trừu tượng mang ý nghĩa của một bản thể xã hội gọi là giá trị. Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.

             Đoạn trích ở trên có hai câu gây cho tôi ít nhiều suy nghĩ: “Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi” và “Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.” Lữ Phương đã trình bày rất chi tiết phân tích của Marx về “hình thái giá trị” đề cập ở trên; và việc đánh giá nguyên tắc ngang giá của Marx như thế nào là tùy người “đọc.” .

Continue reading

TÓM TẮT NỘI DUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 60/2009/NĐ-CP NGÀY 23 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP

CHINHPHU.VN – Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 60/2009/NĐ-Cp ngày 23 tháng 7 năm 2009 quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự; công chứng; hộ tịch; quốc tịch; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; cho, nhận con nuôi…

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp là 1 năm, kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện. Có 2 hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền. Ngoài ra còn có những hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không thời hạn. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị áp dụng những biện pháp khắc phục hậu quả.

Không xử phạt theo quy định của Nghị định này đối với những vi phạm mà cán bộ, công chức thi hành công vụ được giao về lĩnh vực tư pháp gây ra. Những đối tượng này sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật cán bộ, công chức.

Nghị định quy định người phải thi hành án có hành vi cố tình không thực hiện quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án hoặc bản án, quyết định phải thi hành ngay; có điều kiện thi hành án nhưng cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án sẽ bị phạt tiền từ 200.000 đồng- 500.000 đồng ( tăng hơn so với mức phạt cũ từ 50.000 đến 200.000 đồng).

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 13/2009/TT-BGTVT NGÀY 17 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI QUY ĐỊNH VỀ TỐC ĐỘ VÀ KHOẢNG CÁCH CỦA XE CƠ GIỚI XE MÁY CHUYÊN DÙNG THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 51/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải;
Căn cứ Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị;

Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng và khoảng cách an toàn giữa hai xe cơ giới khi tham gia giao thông đường bộ như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về tốc độ tối đa của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng và khoảng cách an toàn giữa hai xe cơ giới khi tham gia giao thông đường bộ trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ được quy định tại khoản 2, Điều 22 Luật Giao thông đường bộ.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, các nhân liên quan đến quản lý và thực hiện các quy định về tốc độ của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng và khoảng cách an toàn giữa hai xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ tại Thông tư này.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

NHỮNG KẺ ĐỒNG LÕA

HẢI VÂN – THANH NHẪN

Nhiều vụ bạo hành trẻ em liên tiếp xảy ra gần đây cho thấy một thực trạng: sự thờ ơ, vô trách nhiệm của cộng đồng, của chính quyền địa phương. Nhiều vụ bạo hành diễn ra gần như công khai, trong một thời gian dài và chỉ được ngăn chặn, xử lý khi người dân, báo chí phát hiện.

Ngày 4-2, Công an, UBND P.10, Q.Gò Vấp, cùng đoàn thể đã giải thoát cho đứa bé đáng thương Nguyễn Chí Cường, 14 tuổi, chỉ vì chậm phát triển tâm thần mà bị mẹ xích chân trong căn phòng trọ suốt năm năm qua. Trường hợp này không phải do người mẹ độc ác, chẳng qua nghèo khó và thiếu kiến thức nuôi dạy con nên đã không chăm sóc, chữa trị đúng cách cho con.

Nhưng còn những hành vi độc ác của vợ chồng chủ quán phở ở Q.Thanh Xuân (Hà Nội) đối với em Nguyễn Thị Bình suốt mười năm trời, hay vụ bé Nguyễn Thị Hảo, 3 tuổi (huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước), bị mẹ đánh đập, cắt gân chân, cắt vào ngón tay, bỏ đói đến suy kiệt; bé Hà Thục Hiền, 8 tuổi (ở Phú Ninh, Quảng Nam), thường xuyên bị chú ruột đánh đập phải nhập viện; em Vũ Thị Văn, 16 tuổi (Q.Tân Phú, TP.HCM), bị con của chủ nhà hành hạ đến mức phải đi cầu cứu… Trong suốt thời gian dài các em bị hành hạ, lối xóm, chính quyền, các đoàn thể địa phương đã ở đâu? Nếu bảo là không biết, không thấy, không nghe… thì quá vô lý. Còn biết mà không làm gì cụ thể để giúp thì quá nhẫn tâm.

VN tham gia Công ước quyền trẻ em rất sớm. Chúng ta cũng có rất nhiều quy định bảo vệ trẻ em, chống hành vi xâm phạm thân thể, ngược đãi trong các văn bản luật khác nhau như Bộ luật hình sự, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật hôn nhân và gia đình và gần đây là Luật phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, không vì thế con số nạn nhân suy giảm mà dường như ngược lại.

Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP

VÕ HƯƠNG

Thời gian trước đây, khi nói về việc xây dựng và phát triển một doanh nghiệp, người ta hay nói đến mục tiêu tiên quyết là lợi nhuận. Nhưng ngày nay đã có nhiều lập luận được đưa ra phản đối lại quan điểm trên. Nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân để một doanh nghiệp có thể tồn tại hàng trăm năm, nối tiếng ở hàng trăm quốc gia và giữ được lòng mến mộ của hàng triệu khách hàng, đó là Thương hiệu doanh nghiệp và nó đã trở thành một yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.

Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển và mới bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nhưng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận ra vai trò của thương hiệu trong sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà ta có thể tự hào khi nhìn thấy các sản phẩm thương hiệu “cà phê Trung Nguyên” được bày bán nhiều nơi trên thế giới, logo “Vietnam Airline” được nhiều người khách nước ngoài nhận biết, và biểu tượng SSI của Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn được nhiều nhà đầu tư tài chính nước ngoài biết đến,…

Tuy nhiên, ở một bộ phận doanh nghiệp khác của Việt Nam, việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu chưa được quan tâm đúng mức trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Bài viết này xin được cung cấp một cái nhìn sâu hơn về thương hiệu doanh nghiệp, qua đó có thể đóng góp thêm ý kiến về việc xây dựng và phát triển thương hiệu trong tổng thể chiến lược phát triển doanh nghiệp.

Các phương thức tiếp cận và định nghĩa về Thương hiệu

Thực tế cho thấy, một thương hiệu mạnh và hiệu quả sẽ làm gia tăng sự nhận biết, lòng trung thành của khách hàng, doanh số bán hàng, ‘giữ chân’ nhân viên, và ngay cả giá trị cổ phiếu công ty.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRONG MÔI TRƯỜNG TÀI CHÍNH MỚI

PMH (Nguồn Ban thư ký Hội nghị tiền tệ quốc tế và NHTW Nhật Bản)

Gần đây, Hội nghị Tiền tệ quốc tế đã được tổ chức tại thành phố Kyoto của Nhật Bản với sự tham gia của các nhà lãnh đạo Ngân hàng Trung ương (NHTW) và các định chế tài chính lớn đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Một trong những chủ đề quan trọng được đưa ra thảo luận là vai trò và chức năng của NHTW cần phải được thay đổi như thế nào trong môi trường tài chính mới dựa trên những diễn biến tiêu cực của nhiều định chế tài chính lớn của một số quốc gia trong cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua và trong bối cảnh nền tài chính thế giới đã bắt đầu có những dấu hiệu hồi phục, tuy rằng vẫn còn nhiều thách thức ở phía trước.

Xin giới thiệu nội dung một số kiến nghị liên quan đến vai trò và chức năng của NHTW trong môi trường tài chính mới đã được thảo luận tại Hội nghị.

1. Đánh giá rủi ro của toàn bộ hệ thống

Trước hết, NHTW cần phải đánh giá rủi ro trên toàn bộ hệ thống của một quốc gia có cân nhắc đến mối quan hệ giữa nền kinh tế sản xuất và thị trường tài chính và giữa các định chế tài chính với nhau. Việc đánh giá này sẽ làm cơ sở cho các hành động chính sách liên quan đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Đương nhiên, đây chính là câu chuyện mà nhiều người cho rằng nói thì dễ nhưng làm thì khó. Trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng, các NHTW đã đưa ra lời cảnh báo về tình trạng tích tụ rủi ro thông qua các báo cáo hệ thống tài chính. Tuy nhiên, việc công bố những lời cảnh báo không phải là việc làm khó khăn chút nào. Các nhà lãnh đạo ngân hàng và bản thân các đối tượng tham gia thị trường ở chừng mực nào đó đã nhận biết được những rủi ro đó. Nếu người ta nghiêm chỉnh hành động để cắt giảm các rủi ro đó, thì cần phải thực hiện những hành động chỉnh sửa.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP: CHỦ SMARTDOOR KIỆN “AUSTDOOR”

CAO HỒNG

Công ty Cửa cuốn Úc Smartdoor (gọi tắt là Công ty Úc) có đơn gửi Báo CAND về việc, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hưng Phát (gọi tắt là Hưng Phát) vi phạm quyền sở hữu công nghiệp khi sử dụng thanh nhôm định hình trong sản phẩm cửa cuốn Austdoor.

Trong đơn, Công ty Úc cho biết, ngày 15/12/2004, Công ty Tân Trường Sơn được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền Kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình số 8106.

Tháng 5/2007, Công ty Tân Trường Sơn ký "Hợp đồng chuyển quyền sử dụng Kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình số 8106" cho Công ty Hưng Phát. Thời hạn hợp đồng đến ngày 7/8/2008.

Ngày 10/11/2008, Công ty Úc ký "Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng Kiểu dáng công nghiệp số 8106" với Công ty Tân Trường Sơn.

Hai bên đã tiến hành đăng ký hợp đồng với Cục Sở hữu trí tuệ để xác lập quyền sử dụng hợp pháp với kiểu dáng công nghiệp này và được cấp giấy chứng nhận. Thời hạn sở hữu của Công ty Úc đối với kiểu dáng công nghiệp này từ ngày 18/12/2008 đến 18/12/2009.

Sau khi được quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình nêu trên, Công ty Úc lại phát hiện Công ty Hưng Phát vẫn sản xuất sản phẩm cửa cuốn nhãn hiệu Austdoor có sử dụng Kiểu dáng công nghiệp số 8106.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: AI LÀ CHỦ SỞ HỮU NHÀ 22D – 24 PHAN ĐĂNG LƯU?

MINH ANH

34 năm nay, cựu cán bộ tình báo 52 tuổi Đảng Nguyễn Thơ vẫn cư ngụ trong ngôi nhà mang số 22D-24 Phan Đăng Lưu quận Bình Thạnh, TPHCM, do một người anh em tặng ông sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, được chính quyền quân quản cách mạng xác nhận. Thế mà mới đây, ông được Tòa án nhân dân TPHCM triệu tập vì bị kiện… đòi nhà và nguyên đơn là một người lạ. Kỳ lạ hơn, ngôi nhà của ông đang ở lại được cấp “sổ hồng” (Giấy CNQSHNƠ&QSDĐƠ) cho người khác?…

Chủ nhà… lạ hoắc!

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Trung tá Nguyễn Thơ được người anh em bạn dì ruột là thương gia Dương Xưng Đường tặng cho căn nhà số 22D-24 Phan Đăng Lưu quận Bình Thạnh, TPHCM. Ngày 16-6-1975, thương gia Dương Xưng Đường làm “Giấy cho nhà” gửi Ủy ban An ninh quận Bình Hòa, tỉnh Gia Định lúc đó, có nội dung: “Hôm nay toàn miền Nam đã giải phóng, em tôi Nguyễn Thơ đã về. Tôi xin làm giấy này bằng lòng cho em tôi cái nhà mang số 22D-24 đại lộ Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu – PV), Gia Định. Xin yêu cầu chính quyền chứng nhận để em tôi là Nguyễn Thơ, cán bộ Phòng Quân báo, Bộ Tham mưu QGPNDMNVN được toàn quyền làm chủ cái nhà nói trên”.

Ông Nguyễn Thơ đăng ký hộ khẩu và sử dụng căn nhà trên từ ngày 1-10-1976. Ông kể: “Bỗng dưng ngày 4-2-2009, tôi nhận được giấy mời của Tòa án nhân dân TPHCM. Lý do là UBND quận Bình Thạnh đã cấp “sổ hồng” cho một người lạ hoắc tên là Trần Thị Ngọc Trang và người này kiện đòi nhà của… chính tôi”. Tuy nhiên điều “không thể hiểu nổi” – theo ông là tại sao bỗng dưng lại có người có “giấy chủ quyền” để… chiếm nhà.

Continue reading

QUYỀN ĐƯỢC LÃNG QUÊN

NGUYỄN HẢI VÂN (Pháp)

Triết gia người Đức Friedrich Nietzsche (1844-1900) cho rằng: “Nếu không biết cách quên, ta sẽ không biết được niềm hạnh phúc, không có tâm trạng vui vẻ, sự kỳ vọng, lòng tự hào và cũng không biết hiện tại là gì”.

Quyền được lãng quên là một trong các quyền chính đáng của con người, mặc dù trên thực tế chỉ có “quyền về hình ảnh cá nhân” là được pháp luật quy định rõ ràng trên giấy trắng mực đen. Việc tìm hiểu về tư duy pháp lý của hai thứ quyền tạm gọi là quyền được lãng quên dành cho kẻ thủ ác và quyền được lãng quên dành cho người bị hại, cho phép suy nghĩ thêm về thái độ hành xử khi đối diện với nỗi đau, sự bất hạnh của đồng loại.

Quyền được lãng quên dành cho kẻ thủ ác

Quyền được lãng quên là một thuật ngữ không chính thức tồn tại trong pháp luật hình sự các nước. Tuy nhiên đó là một khái niệm có thật trong thực tiễn xét xử và thực thi pháp luật. Đó chính là quyết định xóa án tích trong lý lịch tư pháp của một người từng bị kết án căn cứ quy định tại các điều từ điều 64-67 Bộ luật hình sự.

Động tác xóa án tích ngoài ra, nhìn từ góc độ tập quán, cũng phù hợp với câu “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Con người không ai tránh được một lần sai lầm trong đời. Chấp nhận cho người khác sửa sai là một chọn lựa mang tính nhân văn.

Continue reading

HÀNH VI ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT VÀ ỨNG DỤNG TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC SƠN

Định giá hủy diệt là việc các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm quá thấp…

1. Hành vi định giá hủy diệt

Định giá hủy diệt là việc các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm quá thấp trong một khoảng thời gian đủ dài nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường hoặc (và) ngăn cản không cho các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường. Sau khi hoàn tất mục đích ngăn cản hoặc loại bỏ, doanh nghiệp sẽ tăng giá một cách đáng kể nhằm bù đắp lại các khoản lỗ và các khoản lợi nhuận đã bỏ qua bởi mức độ cạnh tranh trên thị trường đã bị giảm[1].

Lý thuyết định giá hủy diệt ra đời từ nhận thức về cạnh tranh trong lĩnh vực giá cả giữa các doanh nghiệp. Khi giá của một sản phẩm giảm xuống sẽ làm cho giá của sản phẩm cạnh tranh khác (nếu không thay đổi về giá) trở thành cao tương đối trước nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm có mức giá thấp có được lợi thế cạnh tranh về giá nên các đối thủ còn lại bị đặt vào tình trạng hoặc phải chạy đua để giảm giá hoặc chấp nhận mất dần khách hàng với mức giá không đổi. Khi giá bán có thể gây lỗ cho đối thủ thì mức giá đó được suy đoán là có khả năng hủy diệt. Mức giá có khả năng hủy diệt đối thủ có thể là kết quả hoặc của quá trình cạnh tranh lành mạnh về giá, hoặc của hành vi định giá hủy diệt. Sẽ là cạnh tranh lành mạnh nếu các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận mà vẫn hạ giá bán hàng hóa bằng cách giảm chi phí sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp doanh nghiệp bán hàng hóa với giá thấp để đẩy giá thị trường xuống mức không thể có lãi trong một thời gian nhằm làm suy yếu hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh[2], chiến lược kinh doanh đó bị coi là định giá hủy diệt. Việc xác định khả năng hủy diệt của hành vi tập trung vào:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1939/BTP-BTTP NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM 2006 CỦA BỘ TƯ PHÁP về một số nội dung liên quan đến công chứng

Kính gửi:

                         Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong thời gian qua, Luật công chứng (có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) đã được các địa phương tích cực triển khai thực hiện và đã dần đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Bộ Tư pháp nhận được ý kiến của một số địa phương phản ánh về một số khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật công chứng.

Để thống nhất một số nội dung liên quan đến công chứng trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng và giúp Sở Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Về cách hiểu cụm từ “công chứng nhà nước” trong Luật đất đai 2003

Thời gian qua, một số địa phương phản ánh về Bộ Tư pháp : do có cụm từ “công chứng nhà nước” trong Luật đất đai 2003 (từ Điều 126 đến Điều 131) quy định về việc hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của “công chứng nhà nước” hoặc lựa chọn “công chứng nhà nước”, vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng, một số cá nhân, tổ chức cho rằng: chỉ có Phòng công chứng mới có thẩm quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, còn Văn phòng công chứng không có thẩm quyền này, do đó một số cơ quan, tổ chức đã không công nhận hợp đồng, giao dịch do công chứng viên của Văn phòng công chứng chứng nhận.Về vấn đề này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1939/BTP-BTTP NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM 2006 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG CHỨNG

Kính gửi:

                         Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong thời gian qua, Luật công chứng (có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) đã được các địa phương tích cực triển khai thực hiện và đã dần đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Bộ Tư pháp nhận được ý kiến của một số địa phương phản ánh về một số khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật công chứng.

Để thống nhất một số nội dung liên quan đến công chứng trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng và giúp Sở Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Về cách hiểu cụm từ "công chứng nhà nước" trong Luật đất đai 2003

Thời gian qua, một số địa phương phản ánh về Bộ Tư pháp : do có cụm từ "công chứng nhà nước" trong Luật đất đai 2003 (từ Điều 126 đến Điều 131) quy định về việc hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của "công chứng nhà nước" hoặc lựa chọn "công chứng nhà nước", vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng, một số cá nhân, tổ chức cho rằng: chỉ có Phòng công chứng mới có thẩm quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, còn Văn phòng công chứng không có thẩm quyền này, do đó một số cơ quan, tổ chức đã không công nhận hợp đồng, giao dịch do công chứng viên của Văn phòng công chứng chứng nhận.Về vấn đề này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

Continue reading

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

TS. BÙI NGỌC CƯỜNG

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) “cho phép người khác thành công giống như chúng ta đã thành công”; “là sự lặp lại của thành công”. Đó là ý tưởng chủ đạo, định hướng tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực NQTM.

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) “cho phép người khác thành công giống như chúng ta đã thành công”; “là sự lặp lại của thành công”. Đó là ý tưởng chủ đạo, định hướng tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực NQTM.

NQTM là loại hoạt động thương mại theo mô hình kinh doanh thống nhất, gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ và nhấn mạnh quyền kiểm soát hệ thống NQTM của bên nhượng quyền. Về bản chất, NQTM là:

– Loại thoả thuận mà theo đó, bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ và dấu hiệu thương mại của mình (như: nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết, biển hiệu) trong hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ;

– Bên nhận quyền phải tuân thủ phương pháp kinh doanh của bên nhượng quyền;

– Trong suốt thời hạn hợp đồng NQTM, bên nhượng quyền có trách nhiệm trợ giúp kỹ thuật, kinh doanh và tiếp thị cho bên nhận quyền.

1. Đặc thù của NQTM

1.1. Trong các yếu tố cơ bản của hợp đồng NQTM

a. Hợp đồng NQTM phải quy định về sự góp vốn của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền

Continue reading

GIỚI THIỆU HỆ THỐNG THUẾ Ở TRUNG QUỐC

XUÂN THỦY – ACCA

Sự phát triển kinh tế thần kỳ của Trung Quốc làm kinh ngạc cả thế giới. Để có sự phát triển đó, chính sách thuế đóng một vai trò then chốt trong chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ Trung Quốc. Về kinh tế, xã hội, văn hóa Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc. Và vì vậy, những kinh nghiêm của Trung Quốc là những bài học lớn cho Việt Nam. Chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả loạt bài hệ thống thuế ở Trung Quốc.

1. Tổng quan chung

Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Chính sách thuế đóng vai trò then chốt trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ và nó có ảnh hưởng to lớn đến việc phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc. Trung Quốc đã tiến hành cải cách hệ thống thuế từ năm 1994. Trung Quốc đã thiết lập bước đầu một hệ thống thuế hợp lý nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.

Năm 2007 Trung Quốc đã thu thuế hơn 4.940 tỷ nhân dân tệ (670 tỷ đôla Mỹ) vượt 31,4% so với năm 2006.

Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng chính sách thuế, Tổng cục Thuế Nhà nước chịu trách nhiệm thu thuế.

Theo gói kích thích kinh tế trị giá 586 tỷ đôla Mỹ được chính phủ Trung Quốc đưa ra vào tháng 11năm 2008, chính phủ có kế hoạch cải tổ hệ thống thuế giá trị gia tăng (GTGT) và có thể cắt giảm thuế doanh nghiệp 120 tỷ nhân dân tệ.

Continue reading

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ DỰ ÁN LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Dự án Luật thuế nhà, đất.

Theo quy định của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài chính đã thành lập Ban soạn thảo để nghiên cứu, xây dựng Luật thuế nhà, đất, tiến hành đánh giá tình hình thực hiện các chính sách thu liên quan đến nhà, đất trong thời gian qua. Ban soạn thảo đã xây dựng Dự án Luật thuế nhà, đất, xin ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức xã hội, đã đăng trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ và của Bộ Tài chính (cơ quan chủ trì soạn thảo) để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân tham gia vào Dự án Luật thuế nhà, đất. Ban soạn thảo đã nghiên cứu ý kiến đóng góp, tiếp thu hoàn chỉnh Dự án luật thuế nhà, đất. Dự thảo đã có ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp (trình kèm). Bộ Tài chính xin trình Chính phủ Dự án Luật thuế nhà, đất như sau:

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LỆNH THUẾ NHÀ, ĐẤT VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

1. Tình hình thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành

1.1. Kết quả đạt được

Chính sách thuế nhà, đất đang thực hiện theo Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 31/7/1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 19/5/1994. Sau hơn 15 năm thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất, cơ bản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành Pháp lệnh, cụ thể là:

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: XỬ SAI “LỦ KHỦ”

PHAN GIA HI

VKS đã vạch ra cả chục điểm sai trong một bản án xử vụ tranh chấp vườn cà phê. Bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự và việc áp dụng pháp luật về dân sự…” – VKSND huyện Krông Năng (Dăk Lăk) vừa kháng nghị như trên về một bản án của TAND huyện này.

Chị em tranh chấp vườn cà phê

Theo đơn kiện của ông Đ., ông có một mảnh vườn trồng gần 2.000 cây cà phê. Sau đó, ông đã nhờ gia đình người chị trông coi vườn giúp để ông yên tâm đi xuất khẩu lao động. Trước khi đi, ông nhắn nhủ: “Anh chị trông coi, chăm sóc, thu hoạch hoa lợi, duy trì vườn cây cho tôi”. Gia đình người chị nhận lời.

Mấy năm sau, ông trở về nước, nể công anh chị giữ vườn tược vất vả nên vẫn để cho anh chị tiếp tục quản lý, thu hoạch hoa màu. Đầu năm 2007, ông nghe tin gia đình người chị đã đăng ký quyền sử dụng đất và tặng mảnh vườn cho con gái nên đòi gia đình người chị phải trả lại.

Phía người chị lại cho rằng một nửa vườn cà phê này là của cha mình, nửa còn lại là của ông Đ. Đầu năm 1992, gia đình bà đã mua lại của cả hai người. Sau đó gia đình bà đi đăng ký rồi được cấp giấy đỏ. Hai năm trước, con gái lấy chồng, gia đình bà cho các con, giờ không biết vì lý do gì mà ông Đ. lại đi đòi…

Continue reading

MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH

LG. VŨ XUÂN TIỀN

Vụ kiện giữa Jetstar Pacific và Vinapco là vụ kiện đầu tiên được Hội đồng Cạnh tranh quốc gia đưa ra giải quyết về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo Luật Cạnh tranh. Trong khi phần lớn ý kiến cho rằng vụ kiện đã mở ra một tiền lệ cho việc giải quyết các tranh chấp về cạnh tranh và chống độc quyền, cũng có ý kiến đánh giá ngược lại. TBKTSG giới thiệu bài viết sau với một góc nhìn mới để bạn đọc tham khảo.

Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua ngày 3-12-2004. Sau một thời gian không được ứng dụng trong thực tế, gần đây đã có một vài vụ việc tranh chấp giữa các doanh nghiệp được chuyển tới Hội đồng quản lý cạnh tranh giải quyết. Dù sao đó cũng là một dấu hiệu tốt, chứng tỏ cạnh tranh lành mạnh trên thương trường đã được các doanh nghiệp quan tâm.

Ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp đang ở vị trí độc quyền còn khá nhiều, điển hình là điện lực, nước sạch, kinh doanh xăng dầu, trong đó có xăng dầu hàng không. Và Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) đã là doanh nghiệp đầu tiên bị phạt vì vi phạm Luật Cạnh tranh trong khi Vinapco thì cho rằng một số doanh nghiệp khách hàng đã lợi dụng sự thiếu chặt chẽ của các điều khoản liên quan đến quy định về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm trong Luật Cạnh tranh để vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế giữa hai bên.

Chúng ta còn nhớ, cách đây không lâu, theo đơn kiện của hãng hàng không Jetstar Pacific, Vinapco bị Hội đồng Cạnh tranh quốc gia xử phạt hơn 3,3 tỉ đồng vì đã “lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng” theo khoản 3 điều 14 Luật Cạnh tranh.

Continue reading