CÔNG VĂN SỐ 1478/LĐTBXH-KHTC NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ XÁC ĐỊNH NHU CẦU, NGUỒN VÀ PHƯƠNG THỨC CHI THỰC HIỆN ĐIỀU CHỈNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU CHUNG THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 28/2010/NĐ-CP

Kính gửi:

Các đơn vị trực thuộc

Thực hiện Thông tư số 62/2010/TT-BTC ngày 21/4/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu chung đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang và điều chỉnh trợ cấp đối với cán bộ xã đã nghỉ việc năm 2010 theo Nghị định số 28/2010/NĐ-CP ngày 25/3/2010 của Chính phủ; Bộ yêu cầu các đơn vị trực thuộc báo cáo nhu cầu và nguồn kinh phí để thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu chung của đơn vị, cụ thể như sau:

1. Về nhu cầu kinh phí thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu chung:

1.1. Tổng số cán bộ, công chức, viên chức để xác định nhu cầu kinh phí thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu chung là số thực có mặt tại thời điểm báo cáo (số có mặt tại thời điểm 01/5/2010) và không vượt quá tổng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt (được xác định theo hướng dẫn của Vụ Tổ chức cán bộ), bao gồm:

+ Biên chế hành chính nhà nước;

+ Biên chế sự nghiệp.

Đối với biên chế tăng thêm trong năm 2010 so với số biên chế tại thời điểm báo cáo, nếu trong phạm vi tổng mức biên chế được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt thì nhu cầu kinh phí tăng thêm thực hiện Nghị định 28/2010/NĐ-CP của số biên chế này được tổng hợp vào nhu cầu kinh phí thực hiện điều chỉnh lương năm sau.

Đối với số biên chế vượt so với tổng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt thì nhu cầu kinh phí thực hiện Nghị định 28/2010/NĐ-CP của số biên chế này do cơ quan, đơn vị tự đảm bảo từ các nguồn kinh phí theo quy định của pháp luật; không tổng hợp vào nhu cầu kinh phí thực hiện Nghị định 28/2010/NĐ-CP của đơn vị.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: CON HẮT HỦI, CHA MẸ CÓ THỂ KIỆN CẤP DƯỠNG?

HOÀNG YẾN

Con cái phải có nghĩa vụ chăm sóc, cấp dưỡng cho cha mẹ, nếu không sẽ phạm luật.

Ông bà P. năm nay xấp xỉ 70 tuổi. Trước đó, ông bà dự tính khi qua đời sẽ để lại tài sản cho con gái.

Bị con đối xử tệ

Ba năm trước, người con gái bảo với cha mẹ cần tiền làm ăn nên có ý định mượn căn nhà đi thế chấp. Nghĩ rằng trước sau gì nhà cũng của con, ông bà liền tặng tài sản cho con. Tuy nhiên, khi nhà đã đổi chủ, người con thay đổi thái độ, luôn nói móc nói khóe cha mẹ là kẻ ăn nhờ ở đậu, chướng tai gai mắt trong nhà. Có bận người con còn khóa cửa không cho cha mẹ vào nhà… Buồn tủi, ông bà sang họ hàng ở nhờ.

Nhưng biết không thể ăn nhờ ở đậu mãi, ông bà đến tòa định khởi kiện để đòi lại căn nhà đã cho. Nhưng theo hồ sơ, ông bà đã tặng cho con không điều kiện nên khó có căn cứ để lấy lại.

Cán bộ thụ lý ở một tòa quận tại TP.HCM đang bức xúc và định hướng dẫn cho vợ chồng già này kiện con gái đòi cấp dưỡng.

Có thể kiện đòi cấp dưỡng

Trước vấn đề này, luật gia Đặng Đình Thịnh, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật – Hội Luật gia Việt Nam, cho biết ông bà P. có thể khởi kiện đòi con cấp dưỡng. Bởi đây cũng là một trong những loại việc hôn nhân gia đình có thể khởi kiện. Trong trường hợp nếu người con bị buộc thi hành án không chấp hành theo bản án thì có thể quy tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Nếu nghiêm trọng hơn có thể quy vào tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ…

Continue reading

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở PHÁP

PHẠM THỊ DUYÊN THẢO – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Sau Cách mạng Pháp năm 1789, việc phân chia quyền lực ở nước Pháp được thực hiện triệt để. Tòa án có vai trò rất lớn, thẩm phán đã từng được ví như “cái miệng của pháp luật”. Trong Bộ Dân luật Pháp 1804 (thường được gọi là Bộ luật Napoleon), có một nguyên tắc đặc biệt nổi tiếng, đó là nguyên tắc thẩm phán không được phép nại vào lý do không có luật hay luật không rõ ràng để từ chối giải quyết vụ việc. Nếu vi phạm nguyên tắc này, thẩm phán sẽ phải chịu trách nhiệm. Thẩm phán có quyền, đồng thời có nghĩa vụ giải thích luật (Điều 4, Bộ Dân luật Pháp). Tất nhiên, trong thực tế từng vụ việc cụ thể có thể tác động nhất định đến mức độ và phạm vi quyền lực của thẩm phán trong việc ra các phán quyết. Nguyên tắc này tồn tại cho đến cuối thế kỷ XX. Điều đó cho thấy sự phát triển của hệ thống tư pháp, vai trò của thẩm phán, cũng như các giá trị mà nguyên tắc này mang lại.

Cũng như hầu hết các quốc gia khác, Pháp cho rằng, lý do phải tiến hành giải thích một văn bản pháp luật là vì trong quá trình lập pháp, nhà lập pháp không thể lường trước được tất cả những tình huống cũng như những khó khăn khi mang văn bản pháp luật vào cuộc sống, sự tương thích của văn bản với thực tế không cao, nghĩa của các đạo luật không phải luôn rõ ràng, và việc áp dụng pháp luật gây tranh cãi… Do vậy, việc giải thích pháp luật là thực sự cần thiết.

Ở Pháp, Nghị viện cũng có thể giải thích các đạo luật của chính họ bằng cách đưa ra một đạo luật sau đó, gọi là đạo luật mang tính giải thích. Tuy nhiên, các thẩm phán rất miễn cưỡng áp dụng các đạo luật này (đặc biệt là các quy định mang tính hồi tố), mặc dù chúng chỉ chiếm một số lượng không đáng kể. Các nghị sĩ cũng thường xuyên đưa ra những câu hỏi liên quan đến giải thích đạo luật tới các Bộ trưởng, và sự trả lời của Bộ trưởng thường là chỉ bày tỏ quan điểm và phụ thuộc vào sự giải thích tối cao của Tòa án.

Giải thích đạo luật cũng có thể được thực hiện thông qua các thông tư của Chính phủ, tuy nhiên, những thông tư mang tính giải thích này không có tác động pháp lý lên các cá nhân và thẩm phán, chúng không ràng buộc các thẩm phán về ý nghĩa và phạm vi của các điều khoản pháp lý mà họ đang giải thích. Tuy vậy, các thông tư này vẫn thường xuyên được các luật gia và các thẩm phán xem xét trong thực tế.

Continue reading

THỰC TIỄN HỢP ĐỒNG: LỠ MUA NHÀ BỊ NGĂN CHẶN, KHỔ ĐỦ ĐƯỜNG

TIẾN HIỂU

Khi mua, không cơ quan chức năng nào thông báo đây là nhà bị ngăn chặn. Mua rồi thì hợp thức hóa không xong…

Sau hơn hai năm miệt mài gõ cửa các cơ quan chức năng khiếu nại, mới đây bà Đào Thị Kim Chi đã khởi kiện Chi cục Thi hành án quận Gò Vấp ra tòa nhưng tòa không thụ lý vì không thuộc thẩm quyền.

Không biết nhà bị phong tỏa

Theo bà Chi trình bày, ngày 19-1-2007, bà làm hợp đồng mua căn nhà số 26 đường Lê Lai, phường 3 (quận Gò Vấp) của bà Nh. Việc mua bán được làm hợp đồng hẳn hoi và có công chứng tại Phòng Công chứng số 5 TP.HCM.

Sau đó, bà Chi đã thực hiện hết nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất và đóng lệ phí trước bạ. Vì căn nhà mới chỉ có giấy trắng nên bà đến UBND quận Gò Vấp nộp đơn đề nghị cấp giấy hồng. Một thời gian sau, bà tá hỏa khi được UBND quận Gò Vấp cho biết căn nhà này đã bị Thi hành án quận ngăn chặn chuyển nhượng, mua bán từ 10 năm trước (ngày 25-6-1997).

Quá bất ngờ vì lúc làm hợp đồng mua nhà, không một cơ quan chức năng nào cho biết là căn nhà đang bị ngăn chặn, bà Chi tức tốc chạy đến Phòng Công chứng số 5 để hỏi cho rõ ngọn ngành. Phòng công chứng cho bà biết vào thời điểm chứng nhận hợp đồng mua bán nhà cho bà thì họ chưa nhận được bất kỳ công văn ngăn chặn nào của cơ quan thi hành án. Mãi đến ngày 4-12-2007, phòng công chứng mới nhận được công văn ngăn chặn việc mua bán, sang nhượng, thế chấp đối với căn nhà nói trên để đảm bảo cho việc thi hành một bản án ngày 25-7-2005 của TAND quận Gò Vấp.

Bà Chi quay về làm đơn khiếu nại gửi Thi hành án quận Gò Vấp. Cơ quan này trả lời rằng căn nhà này đã bị ngăn chặn từ năm 1997 để thi hành một bản án khác của TAND quận Gò Vấp. Hợp đồng mua bán nhà giữa bà Chi và bà Nh. là trái pháp luật. Bà Chi không liên quan gì đến vụ thi hành án nên không có tư cách khiếu nại…

Một căn nhà, hai lần bị ngăn chặn

Gặp rắc rối, bà Chi lặn lội đi tìm nguồn gốc của căn nhà và phát hiện ra rằng căn nhà này đã hai lần bị cơ quan thi hành án ra quyết định ngăn chặn không cho mua bán, chuyển nhượng để đảm bảo thi hành án trong… hai vụ khác nhau.

Continue reading

XÁC ĐỊNH HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường Đ.H Luật Hà Nội

1. Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam[1]

Nhằm bù đắp cho những nỗ lực sáng tạo của chủ thể đã tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ thể sáng tạo được trao những độc quyền trong một thời hạn nhất định. Việc thực hiện những độc quyền này, tuy nhiên, có thể gây ra những tác động tiêu cực cho khả năng tiếp cận hàng hoá của người tiêu dùng, cho sự lưu chuyển bình thường của hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và cho cạnh tranh lành mạnh. Chủ thể nắm giữ quyền sở hữu công nghiệp được trao độc quyền, bởi vậy, họ dễ dàng lạm dụng quyền để cản trở hoạt động thương mại, gây tổn hại cho người tiêu dùng.[2] Hơn nữa, xuất phát từ giá trị thương mại của đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ thể kinh doanh thường nghĩ đến việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của đối thủ cạnh tranh (đây được coi như một trong những thành quả đầu tư của đối thủ cạnh tranh) để kiếm lời và gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Bởi vậy, việc xuất hiện các hành vi cạnh tranh liên quan đến sở hữu công nghiệp là tất yếu. Những hành vi này vừa vi phạm pháp luật cạnh tranh vừa vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ và được chia thành hai loại: hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Khi nền kinh tế càng phát triển thì loại việc này càng nhiều. Thực tế này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, sự cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chính sách đảm bảo cạnh tranh lành mạnh.[3]

Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trước hết là việc cạnh tranh, bên cạnh đó còn có đặc điểm riêng biệt gắn liền với quyền sở hữu công nghiệp. Đó là, đối với cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, việc cạnh tranh liên quan đến sử dụng và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Hành vi cạnh tranh bất hợp pháp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp vi phạm cả pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ HẾT QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ NHẬP KHẨU SONG SONG Ở MỘT SỐ NƯỚC THUỘC HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường ĐH Luật Hà Nội

1. Khái quát chung về hết quyền SHTT và nhập khẩu song song

Hết quyền SHTT (SHTT) là khái niệm bắt nguồn từ thuyết hết quyền.[1] Thuyết này xác định giới hạn cho quyền SHTT mang tính độc quyền và cân bằng giữa bảo hộ quyền SHTT với đảm bảo sự lưu thông của thị trường cũng như duy trì cạnh tranh lành mạnh; cân bằng giữa bảo vệ lợi ích của chủ thể nắm giữ quyền SHTT với lợi ích của người tiêu dùng. Theo thuyết hết quyền, khi sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối với việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm. Ví dụ: Sau khi bán một chai nước có ga mang nhãn hiệu Coca-Cola, quyền sở hữu trí tuệ của hãng Coca-Cola đối với chai nước này không còn nữa. Có nghĩa là: Công ty không có quyền ngăn cản khách hàng uống nước, tặng hay bán sản phẩm này cho người khác. Tuy nhiên, người mua đồ uống Coca-Cola không thể sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng Coca-Cola cho đồ uống mà họ sản xuất hay chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu này cho người khác.

Nhập khẩu song song[2] là việc nhập khẩu những hàng hóa chính hiệu (genuine goods) đã được chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác đưa ra thị trường nước ngoài với sự đồng ý của chủ sở hữu. Việc kinh doanh này diễn ra song song với các kênh phân phối được uỷ quyền. Thương mại song song có những đặc điểm sau đây: (i) đây là một hiện tượng kinh tế; (ii) hiện tượng này xảy ra đối với tất cả các loại hàng hoá; (iii) hàng hoá chính hiệu được đưa ra thị trường nước ngoài bởi chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác được chủ sở hữu cho phép; (iv) chủ thể nắm giữ quyền SHTT ở nước xuất khẩu và ở nước nhập khẩu là một hoặc là những chủ thể khác nhau nhưng có mối quan hệ pháp lý và/hoặc kinh tế với nhau; (v) trong hoạt động này có hai nhà kinh doanh, đó là nhà kinh doanh được uỷ quyền và nhà kinh doanh không được uỷ quyền; (vi) hoạt động này có thể xảy ra giữa hai nước trở lên. Nguyên nhân kinh tế của thương mại song song là sự khác biệt về giá giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu hàng hoá. Hàng hóa trong thương mại song song bao giờ cũng được chuyển từ nước có giá bán sản phẩm thấp đến nước có giá bán sản phẩm cao. Nhà kinh doanh trong trường hợp này có thể thu được lợi nhuận bằng cách xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hoá song song với các kênh chính thức.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1489/LĐTBXH-LĐTL CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG DÔI DƯ

Kính gửi:

Công ty Du lịch dịch vụ Dầu khí Việt Nam
(Số 2 Lê Lợi – Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Trả lời công văn số 315/CV-OSC ngày 18/4/2010 của Công ty về chế độ lao động dôi dư khi sắp xếp doanh nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại khoản 3, Điều 8 Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ thì doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa nhưng chưa triển khai thực hiện cổ phần hóa hoặc đang thực hiện theo trình tự, thủ tục chuyển đổi thành công ty cổ phần nhưng dự kiến đến ngày 01/7/2010 chưa có quyết định xác định giá trị doanh nghiệp của cấp có thẩm quyền thì khi chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không phải lập phương án và thực hiện xử lý tài sản, tài chính, sắp xếp lại lao động, sử dụng đất. Theo đó, đề nghị Công ty Du lịch dịch vụ Dầu khí Việt Nam trao đổi với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác định rõ hình thức sắp xếp, chuyển đổi cụ thể công ty theo quy định để trên cơ sở đó xem xét, xác định việc áp dụng chế độ giải quyết lao động dôi dư cho phù hợp.

2. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng tại văn bản số 4665/VPCP-ĐMDN ngày 09/7/2009 của Văn phòng Chính phủ và chương trình xây dựng văn bản của Chính phủ năm 2010, hiện nay, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định về chính sách đối với người lao động dôi dư trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước là chủ sở hữu thực hiện sắp xếp lại, thay thế cho Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ sẽ hết hiệu lực sau ngày 30/6/2010. Theo đó, chế độ lao động dôi dư sẽ được tiếp thực hiện sau ngày 30/6/2010 khi Chính phủ ban hành Nghị định trên.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Công ty và thực hiện.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

LẠI CHUYỆN LÃI SUẤT CƠ BẢN

NGUYỄN VÂN CẦM

Những tưởng chuyện lãi suất cơ bản đã được giải quyết khi hệ thống ngân hàng đã quay về với cơ chế lãi suất thỏa thuận nhưng mọi chuyện vẫn chưa ngã ngũ khi chỉ còn một thời gian ngắn nữa Quốc hội sẽ thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước, trong đó phải định nghĩa lãi suất cơ bản là gì.

“Cơ bản” nhưng không cơ bản

Nước nào cũng phải sử dụng một số công cụ để thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt được những mục tiêu nào đó, như kiềm chế lạm phát chẳng hạn. Lãi suất là một công cụ như thế bên cạnh công cụ tăng giảm dự trữ bắt buộc.

Thông thường ngân hàng trung ương một nước tác động lên lãi suất bằng con đường gián tiếp, có nghĩa thông qua nghiệp vụ thị trường mở để tăng hay giảm tổng phương tiện thanh toán. Ví dụ, ngân hàng trung ương mua vào trái phiếu chính phủ, tức làm tăng tổng lượng tiền trong lưu thông thì lãi suất thị trường sẽ giảm. Cũng có thể tác động trực tiếp bằng cách tăng hay giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu – là những loại lãi suất ngân hàng trung ương ấn định trong quan hệ mua bán các loại giấy tờ có giá với ngân hàng thương mại.

Nói cách khác, lãi suất cơ bản như đang được định nghĩa (là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh) hoàn toàn không phải là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia đúng nghĩa như thông lệ quốc tế.

Khi Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản là 8% chẳng hạn và dựa vào quy định của Bộ luật Dân sự để áp đặt “trần” lãi suất thương mại là 12%, đó là mệnh lệnh hành chính ít nhiều mang tính khiên cưỡng.

Continue reading

VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ NGÀY NAY

PGS.TS. CAO DUY HẠ

I. Xu hướng phát triển thương mại quốc tế ngày nay

Các quốc gia trên thế giới hiện nay dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi theo xu hướng tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác kinh tế khu vực và thế giới, đa phương, đa chiều, đa lĩnh vực, trong đó thương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trọng tâm. Đặc điểm nổi bật về xu hướng phát triển thương mại quốc tế ngày nay là:

1. Nội dung hoạt động thương mại rộng lớn mang tính quốc tế, chi phối hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội. Do đó, thương mại ngày nay không chỉ là những hoạt động mua bán sản phẩm hàng hóa vật thể mà còn bao gồm cả những hành vi mua bán và dịch vụ phi vật thể, tất cả đều nhằm thu lợi nhuận.

2. Hình thành các loại hình công ty, tập đoàn lớn, công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia, với phạm vi hoạt động không biên giới và hình thành các tổ chức, hiệp hội thương mại khu vực và toàn cầu. Phạm vi tác động của thương mại quốc tế ngày nay mang ý nghĩa vô cùng sâu rộng, bao gồm nhiều thành phần thương mại, nhiều thương nhân và hợp thành mạng lưới chằng chịt các loại hình kinh doanh và dịch vụ; vừa liên doanh, liên kết, vừa tự do hoá, vừa độc quyền, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, vừa bình đẳng và không bình đẳng trong kinh doanh, đều cùng nhau tham gia hoạt động mua bán và dịch vụ trên thị trường, trên cơ sở hành lang pháp luật quốc gia và luật lệ quốc tế.

3. Xu thế liên doanh liên kết thương mại song phương, đa phương, bình đẳng ngày càng mở rộng và không ngừng phát triển. Đặc điểm kinh doanh thương mại ngày nay gồm hai chiều hướng: Một là, kinh doanh chuyên ngành, theo một sản phẩm hay một thương hiệu nhất định thành một hệ thống trên toàn cầu. Hai là, tổ chức mô hình những công ty, tập đoàn kinh doanh tổng hợp với nhiều loại hình, nhiều hàng hóa và dịch vụ khác nhau để nâng cao ưu thế cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường khu vực và thị trường thế giới.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 38/2010/QĐ-TTg NGÀY 6 THÁNG 5 NĂM 2010 VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG QUYẾT ĐỊNH SỐ 142/2008/QĐ-TTG NGÀY 27 THÁNG 10 NĂM 2008 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CÓ DƯỚI 20 NĂM CÔNG TÁC TRONG QUÂN ĐỘI ĐÃ PHỤC VIÊN, XUẤT NGŨ VỀ ĐỊA PHƯƠNG

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương (sau đây gọi tắt là Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg), như sau:

1. Sửa đổi, thay thế điểm a khoản 2 Điều 1 như sau:

“a) Những người đang hưởng chế độ hưu trí (trừ số cán bộ xã đang hưởng chế độ hưu trí), chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng.”

2. Bổ sung Điều 2a sau Điều 2 như sau:

Điều 2a.

1. Thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhập ngũ từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước, đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, sau đó công tác ở xã, phường, thị trấn:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 25/BXD-QLN NGÀY 7 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ HƯỚNG DẪN QUI ĐỊNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG NHÀ CHUNG CƯ

Kính gửi:

Công ty CP xử lý Nền móng và Xây lắp Constrexim

Ngày 30/3/2010, Công ty CP xử lý Nền móng và Xây lắp Constrexim có Văn bản số 51/FONDACON, đề nghị hướng dẫn quy định quản lý sử dụng nhà chung cư đối với khu nhà chung cư thuộc Dự án nhà ở Bắc Hà, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, Hà Nội. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Theo hồ sơ, tài liệu hiện có thì khu nhà chung cư thuộc Dự án nhà ở thương mại Bắc Hà do Công ty CP xử lý Nền móng và Xây lắp Constrexim (là Công ty thành viên của Công ty Đầu tư Xây dựng và Xuất nhập khẩu Việt Nam – Chủ đầu tư Dự án nhà ở Bắc Hà) tiến hành xây dựng từ tháng 6/2006 đến cuối năm 2009 thì hoàn thành đưa vào sử dụng. Bộ Xây dựng nhận thấy, Dự án nhà ở thương mại Bắc Hà, trong đó có nhà chung cư nêu trên được phê duyệt ngày 20/4/2006, trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành; các căn hộ của nhà chung cư này được bán sau khi Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành. Do vậy, việc ký Hợp đồng mua bán căn hộ nhà chung cư nêu trên phải dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa Bên mua và Bên bán, phù hợp với các quy định của Luật Nhà ở.

Để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu và quản lý sử dụng nhà chung cư cần phải xem xét trên cơ sở những hồ sơ, tài liệu chính như: Hợp đồng mua bán căn hộ đã ký giữa Công ty CP xử lý Nền móng và Xây lắp Constrexim và khách hàng, Dự án nhà ở đã được phê duyệt và các hồ sơ tài liệu có liên quan. Cụ thể là:

1. Việc xác định quyền sở hữu tầng hầm

a) Theo nội dung Hợp đồng số 01/HĐMBN-CT ngày 28/8/2006 và một số Hợp đồng khác kèm các hồ sơ có liên quan mà Công ty ký với khách hàng, tại Điều 1. Đối tượng mua bán: “Bên bán đồng ý bán và Bên mua đồng ý mua căn hộ nhà chung cư nằm trong Khu nhà ở Bắc Hà”. Trong các Hợp đồng này chỉ có thoả thuận về việc Bên A (Công ty CP xử lý Nền móng và Xây lắp Constrexim) đồng ý bán cho Bên B (khách hàng) mua phần diện tích căn hộ trong nhà chung cư để sở hữu riêng mà không đề cập đến nơi để xe là phần sở hữu chung trong nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở.

Continue reading

ĐẦU TƯ MẠO HIỂM – ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

TS. NGUYỄN NGHĨA

Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) là loại hình đầu tư thấy trước được nhiều rủi ro, nhưng nếu thành công sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Đây là phương thức đầu tư gắn liền với sự hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ cao. Bài viết dưới đây giới thiệu tóm tắt những nội dung cơ bản về ĐTMH và đề xuất mô hình Quỹ ĐTMH ở nước ta.

Hiện nay, nước ta đang ở trước ngưỡng cửa gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và hội nhập toàn diện với nền kinh tế thế giới. Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp muốn sinh tồn thì phải đổi mới công nghệ và doanh nghiệp nào có công nghệ cao, nhiều tài sản vô hình thì sẽ chiến thắng, cho nên ĐTMH là yếu tố quan trọng thúc đẩy hình thành doanh nghiệp công nghệ cao và phát triển công nghệ cao.

ĐTMH là vấn đề mới tại Việt Nam. Điểm đặc biệt của nó là gắn kết chặt chẽ với các yếu tố như thị trường công nghệ, thị trường vốn… Những vấn đề lý luận về ĐTMH, các bước ĐTMH và cơ chế đầu tư, nguồn vốn cũng như khâu rút vốn, chính sách thuế… là những vấn đề phức tạp, cần phải dành nhiều thời gian nghiên cứu.

Khái niệm cơ bản về ĐTMH

ĐTMH – (Venture Capital) là khái niệm có nội hàm đặc biệt, trên thực tế, có thể biên dịch thành đầu tư khởi nghiệp, vì mục đích chủ yếu của ĐTMH là hình thành các doanh nghiệp KH&CN hoặc doanh nghiệp công nghệ cao. Theo nghĩa rộng, là đầu tư vốn vào toàn bộ hoạt động kinh tế mang tính phát triển, sáng tạo, có độ mạo hiểm cao nhưng tiềm năng hiệu quả cũng cao. Theo nghĩa hẹp, ĐTMH thường là đầu tư vào sản xuất, kinh doanh sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.

Continue reading

NHÌN LẠI CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM

TRẦN TRÍ DŨNG – Công ty nghiên cứu DHVP – Phân tích Kinh tế Vebimo.com

Hơn 10 năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước tiến rất xa. Bên cạnh các ngân hàng thương mại nhà nước đã xuất hiện ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, các văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài và nhiều tổ chức tín dụng. Quan hệ cung – cầu ngày một hoàn thiện hơn trên thị trường tiền tệ, giao dịch tín dụng chịu sự điều tiết mạnh hơn từ cơ chế thị trường với nhiều lựa chọn hơn cho cả bên cung lẫn bên cầu. Ý nghĩa của một công cụ mang tính chất chuyển đổi như lãi suất cơ bản giảm dần.

Một bước phát triển mạnh mẽ trong cơ chế điều chỉnh lãi suất, sử dụng đa dạng các công cụ hiện đại, là tín hiệu tích cực cho thấy sự hiện diện – cả hình thức và nội dung – của hệ thống ngân hàng hai cấp. Kinh doanh năng động của các ngân hàng thương mại, với quyền tự chủ về chi phí đầu vào và giá bán đầu ra, duy trì mức thanh khoản tốt nhất cho thị trường tiền tệ – tín dụng. Các tổ chức tín dụng có điều kiện thực hành phân loại tốt hơn các khoản cho vay. Những mức lãi suất khác nhau được áp dụng cho đề xuất vay vốn có độ rủi ro khác nhau. Đó cũng là chuẩn bị cần thiết để hệ thống ngân hàng Việt Nam hội nhập sâu sắc và toàn diện hơn với hệ thống chuẩn mực kinh doanh ngân hàng của thế giới.

Cơ chế lãi suất của Việt Nam dần dịch chuyển từ kế hoạch hóa tập trung, tách biệt với mặt bằng lãi suất của kinh tế thế giới sang điều chỉnh linh hoạt, từng bước tự do hóa, hội nhập với hệ thống tài chính toàn cầu. Thời gian qua, cơ chế điều hành lãi suất đã có những thay đổi căn bản, nhất là từ khi hệ thống ngân hàng hai cấp được thiết lập(1).

Điều hành lãi suất giai đoạn 1996-2000

Trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động. Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay, NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0,35%/tháng (tương đương 4,2%/năm). Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế khu vực và thế giới. Tới cuối tháng 1-1998, quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ, chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay.

Continue reading

XÂY DỰNG KHÁI NIỆM NHÃN HIỆU TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

ĐÀO THỊ DIỄM HẠNH – Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Không phải là hàng hoá nhưng nhãn hiệu lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại. Nhãn hiệu là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Vì vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên, khái niệm nhãn hiệu vẫn chưa được hiểu thống nhất ở các quốc gia. Bài viết đề cập đến khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ – hai vùng lãnh thổ có truyền thống pháp luật lâu đời về nhãn hiệu, từ đó đề xuất đưa ra khái niệm nhãn hiệu cho Luật SHTT Việt Nam.

Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu1. Trong số này, có thể kể một số điều ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia như Công ước Paris 1883, Hệ thống Madrid, Hiệp định TRIPs. Tuy Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thống Madrid). Riêng TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu. Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định như sau:

Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.

Khái niệm này chỉ ra một số đặc điểm của nhãn hiệu. Thứ nhất, đó phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu. Các dấu hiệu đó có thể là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó. Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐIỀUTRA CHƯA KỸ, ĐÃ VỘI PHÁN QUYẾT

DƯƠNG QUỲNH HƯƠNG

Anh Nguyễn Thế Tiếng (sinh 1964) và chị Nguyễn Thị Kim Sang (sinh 1969) chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, quá trình chung sống hai người có 2 con chung. Trước khi chung sống với chị Sang ở thị xã Bạc Liêu, anh Tiếng sống ở thành phố Cà Mau và đã có một đời vợ, chị Tô Hồng Mai (ốm mất năm 1997) và hai con riêng là Nguyễn Thế Hiền (sinh 1986) và Nguyễn Thị Hồng Anh (sinh 1991); còn chị Sang sống ở tỉnh Đồng Tháp, đã có một đời chồng (ly hôn năm 1998) và một con trai riêng (chồng cũ nuôi).

Sau khi tự nguyện chung sống với nhau một thời gian, không đăng ký kết hôn, đến năm 2007 do mâu thuẫn trầm trọng nên hai bên không thể chung sống với nhau trong một nhà. Ngày 24.12.2007, TAND thị xã Bạc Liêu đã ra Quyết định số 26/2007/QĐST-HNGĐ về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó giao hai con chung cho chị Sang nuôi dưỡng, anh Tiếng có trách nhiệm đóng góp nuôi dưỡng một cháu; về phần tài sản, giao cho anh Tiếng toàn bộ nhà, đất và các vật kiến trúc khác gắn liền với đất tọa lạc tại số B04/27A, khóm Trà Kha A, phường 8, thị xã Bạc Liêu (phần nhà, đất này anh Tiếng mua do bán nhà cũ ở thành phố Cà Mau), còn anh Tiếng có trách nhiệm giao chị Sang 25 lượng vàng 24k (vàng 9999) khi anh Tiếng chuyển nhượng dãy nhà trọ trên mảnh đất có cùng địa chỉ nói trên.

Đến ngày 13.6.2008, Chánh án TAND tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định kháng nghị số 01/2008/QĐKN-DS đối với Quyết định số 26 ngày 24.12.2007 của TAND thị xã Bạc Liêu, theo đó đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh Bạc Liêu xét xử giám đốc thẩm hủy về phần tài sản đối với Quyết định nêu trên và giao hồ sơ cho TAND thị xã Bạc Liêu giải quyết lại, bởi vì anh Tiếng và chị Sang đều khai nhận nợ Ngân hàng Đông Á số tiền 600 triệu đồng chưa hết hạn hợp đồng nhưng cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng tham gia tố tụng. Tiếp đến, ngày 22.10.2008, TAND thị xã Bạc Liêu ra Quyết định số 14/2008/QĐST-HNGĐ về thay đổi việc nuôi con, theo đó anh Tiếng có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung mà không yêu cầu chị Sang cấp dưỡng nuôi con.

Continue reading

THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO QUY ĐỊNH CỦA WTO: LỢI ÍCH QUỐC GIA HAY UY TÍN QUỐC TẾ?

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Bài viết đề cập đến nội dung thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) theo quy định “mở” của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đối với các quốc gia thành viên. Việc chọn “ngưỡng” nào trong phạm vi “mở” đó là tùy thuộc vào mỗi quốc gia nhưng phải tuân theo nguyên tắc có thể “vượt trần” nhưng không được “dưới sàn”. Trong quá trình hoạch định chính sách, tùy từng thời điểm, quốc gia thành viên có thể chọn việc đặt uy tín quốc tế (khi quy định “trên sàn” hoặc “vượt trần”) lên trên lợi ích quốc gia (nếu quy định “ngang sàn”) và ngược lại. Một câu hỏi được đặt ra là: Trong chính sách về SHTT, ViệtNam đã đặt uy tín quốc tế lên trên lợi ích quốc gia hay ngược lại? Khó có thể trả lời câu hỏi này khi đứng trước các thông tin tích cực và tiêu cực đối với nền kinh tế nước nhà sau hơn 2 năm gia nhập WTO.

Nhắc đến hoạt động của WTO, người ta thường đề cập đến hoạt động của các Hội đồng thương mại dưới quyền của Đại hội đồng. Có ba Hội đồng thương mại (có tài liệu còn coi đó là ba “trụ cột” của WTO) là: Hội đồng thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại dịch vụ và Hội đồng các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại. Trong đó, Hội đồng các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền SHTT.

Tại Hội thảo khoa học “Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO – Những thành tựu và thách thức” do Viện Khoa học pháp lý và kinh doanh quốc tế tổ chức vào tháng 10.2009, TS Võ Trí Thành, Trưởng ban Hội nhập kinh tế quốc tế thuộc Viện Quản lý kinh tế Trung ương đã phát biểu: “Cái đáng tiếc nhất rút ra sau 2 năm gia nhập WTO là ta đã quá hứng khởi. Hứng khởi quá mức để rồi lúng túng về chính sách… Vì vậy mới nảy sinh những biện pháp cứng rắn đến mức không cần thiết, ở mức độ nào đó có gây ra hiệu ứng bất lợi”1. Có thể TS Võ Trí Thành đã đề cập chung đến cả ba lĩnh vực là thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và SHTT.

Continue reading

THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ – CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. NGUYỄN QUANG HIỀN – Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh

Ngay từ khi nước ta vừa giành được độc lập, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán, trong đó đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa án thực hiện hai cấp xét xử”. Đến nay, nguyên tắc này vẫn được ghi nhận tại Điều 11 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, đổi mới thủ tục giám đốc thẩm để đảm bảo việc xét xử vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng.”

Vụ án tranh chấp nhà và đất ở giữa bị đơn là ông Trương Gia Hải và nguyên đơn là bà Trương Thị Bản, trú tại 27 phố Lê Lợi, quận Hà Đông (Hà Nội) với những chứng cứ rõ ràng nhưng qua 14 năm (1995-2009) với 13 phiên tòa vẫn chưa kết thúc. Ngày 13/01/2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, đề nghị Hội đồng Thẩm phán xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm. Hội đồng Giám đốc thẩm đã quyết định hủy cả bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm, chuyển giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Có nghĩa là, vụ án lại quay về điểm xuất phát. Cơ quan tố tụng từ địa phương đến trung ương đã mất quá nhiều công sức và thời gian, người tham gia tố tụng thì tán gia bại sản.

Đây chỉ là một vụ án cá biệt. Với chỉ một vụ án thì không thể đánh giá chung về tình hình xét xử của ngành Tòa án, nhưng những con số kỷ lục về phiên tòa nói trên đã nói được nhiều điều, nhất là về sự không hợp lý trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành. Và ở đây là sự không hợp lý do pháp luật quy định quyền hạn quá rộng cho mỗi cấp xét xử.

Continue reading

CÔNG NHẬN TẠO SỰ TIN CẬY CHO XÃ HỘI VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

VŨ XUÂN THỦY – Giám đốc Văn phòng Công nhận Chất lượng, Bộ KH&CN

Với vai trò đánh giá, công nhận các tổ chức đánh giá sự phù hợp trong chứng nhận sản phẩm/dịch vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nhận là một trong những phương cách giúp cho hàng hóa có thể tự do lưu thông giữa các quốc gia, là công cụ hạn chế các rào cản không cần thiết, tạo sự tin cậy cho xã hội và thương mại quốc tế.

Vai trò của hoạt động công nhận

Công nhận được hiểu là: “Việc đánh giá, xác nhận của một tổ chức có thẩm quyền về năng lực của tổ chức đánh giá sự phù hợp cho một hoạt động cụ thể” [ISO/IEC 17011: 2004]. Trong thực tế thì, công nhận là hoạt động của một tổ chức được chính phủ thừa nhận, thực hiện việc đánh giá công nhận các tổ chức chứng nhận (TCCN), phòng thí nghiệm (PTN), tổ chức giám định (TCGĐ) – các tổ chức này được gọi chung là các tổ chức đánh giá sự phù hợp – theo các chuẩn mực quốc tế. Có hai lý do chính dẫn đến việc ra đời và phát triển rộng khắp của hoạt động công nhận hiện nay trên thế giới:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 48/2010/NĐ-CP NGÀY 7 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đấu thầu ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về hợp đồng trong hoạt động xây dựng (sau đây viết tắt là hợp đồng xây dựng) thuộc các dự án đầu tư xây dựng có sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên.

2. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân liên quan đến hợp đồng xây dựng thuộc các dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên trên lãnh thổ Việt Nam. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân liên quan đến hợp đồng xây dựng thuộc các dự án sử dụng ít hơn 30% vốn nhà nước áp dụng các quy định tại Nghị định này.

3. Đối với hợp đồng xây dựng thuộc các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA), nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có những quy định khác với các quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo các quy định của Điều ước quốc tế đó.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng.

Continue reading