VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ TỔNG QUÁT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

GS.TSKH. LÊ DU PHONG

Sau ba năm khôi phục nền kinh tế do chiến tranh tàn phá, năm 1958 hoà nhịp với trào lưu chung của thế giới, miền Bắc nước ta cũng bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được hoà bình thống nhất, năm 1976, chúng ta đã quyết định đưa cả nước cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chúng ta theo đuổi thời bấy giờ là:

– Sự thống trị của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất được biểu hiện dưới hai hình thức: toàn dân và tập thể. Tương ứng với hai hình thức sở hữu đó là hai loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã các loại. Kinh tế tư nhân được coi là loại hình kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nên bị loại bỏ.

– Mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế đều phải theo sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương, tức là các doanh nghiệp muốn sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất bằng cách nào, sản xuất xong tiêu thụ sản phẩm ở đâu, với giá cả như thế nào.v.v.. tất cả đều phải theo một kế hoạch thống nhất từ Trung ương.

Thời kỳ đầu, với hào khí dân tộc đang lên sau chiến thắng lừng lẫy của các cuộc kháng chiến, cũng như do được sống trong một chế độ hoàn toàn mới, độc lập, tự do, nên người dân tràn đầy hy vọng, sẵn sàng đóng góp công sức, tiền của của mình cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. Công bằng mà nói, lúc đầu mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng đã tạo ra được niềm tin và hy vọng về một xã hội mới tốt đẹp, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân, nhờ đó đã tạo ra được động lực khá mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Điều này đã giúp cho miền Bắc huy động được tối đa sức mạnh vật chất và tinh thần của người dân để phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, và khi miền Nam được giải phóng, nước nhà được hoà bình, thống nhất,  chúng ta đã khắc phục khá nhanh những hậu quả do hơn 30 năm chiến tranh tàn khốc để lại.

Continue reading

VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ TỔNG QUÁT TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM

GS.TSKH. LÊ DU PHONG

Sau ba năm khôi phục nền kinh tế do chiến tranh tàn phá, năm 1958 hoà nhịp với trào lưu chung của thế giới, miền Bắc nước ta cũng bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được hoà bình thống nhất, năm 1976, chúng ta đã quyết định đưa cả nước cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chúng ta theo đuổi thời bấy giờ là:

– Sự thống trị của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất được biểu hiện dưới hai hình thức: toàn dân và tập thể. Tương ứng với hai hình thức sở hữu đó là hai loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã các loại. Kinh tế tư nhân được coi là loại hình kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nên bị loại bỏ.

– Mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế đều phải theo sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương, tức là các doanh nghiệp muốn sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất bằng cách nào, sản xuất xong tiêu thụ sản phẩm ở đâu, với giá cả như thế nào.v.v.. tất cả đều phải theo một kế hoạch thống nhất từ Trung ương.

Thời kỳ đầu, với hào khí dân tộc đang lên sau chiến thắng lừng lẫy của các cuộc kháng chiến, cũng như do được sống trong một chế độ hoàn toàn mới, độc lập, tự do, nên người dân tràn đầy hy vọng, sẵn sàng đóng góp công sức, tiền của của mình cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. Công bằng mà nói, lúc đầu mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng đã tạo ra được niềm tin và hy vọng về một xã hội mới tốt đẹp, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân, nhờ đó đã tạo ra được động lực khá mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Điều này đã giúp cho miền Bắc huy động được tối đa sức mạnh vật chất và tinh thần của người dân để phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, và khi miền Nam được giải phóng, nước nhà được hoà bình, thống nhất,  chúng ta đã khắc phục khá nhanh những hậu quả do hơn 30 năm chiến tranh tàn khốc để lại.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC TRAO ĐỔI VẬT CHỨNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

L.T.N

Nội dung vụ việc như sau: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 28/11/2007 của TAND huyện Phổ Yên tỉnh T.Ng xét xử đối với Trần Anh Minh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202, Bộ luật hình sự (BLHS) đã tuyên xử như sau:

“… Tuyên phạt bị cáo Trần Anh Minh 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 202, BLHS cấm bị cáo lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô hạng B2 số Z641341 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 26/6/2006 mang tên Trần Anh Minh (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007)…”.

Bản án không có kháng cáo, kháng nghị và ngày 28/12/2007, Bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

Hồ sơ thi hành án tại CQTHADS huyện Phổ Yên thể hiện như sau: tại biên bản giao nhận vật chứng vụ án giữa Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và CQTHADS huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007 thể hiện việc VKSND đã chuyển đầy đủ vật chứng vụ án, trong đó có GPLX ô tô hạng B2 số Z641341 mang tên Trần Anh Minh cho CQTHADS bảo quản theo đúng quy định.

Tuy nhiên, khi kiểm tra vật chứng vụ án trên tại Kho vật chứng của CQTHADS thì không có GPLX ô tô số Z641341. Qua tìm hiểu, được biết vì GPLX ô tô số Z641341 bị Cơ quan Điều tra thu giữ và TAND huyện Phổ Yên đã tuyên tạm giữ đến ngày 30/6/2009 là hết hạn sử dụng. Tháng 6/2009, CQTHADS huyện Phổ Yên đã cho đương sự Trần Anh Minh mượn GPLX trên để Trần Anh Minh đổi GPLX mới và yêu cầu Trần Anh Minh mang GPLX ô tô hạng B2 có số AK 832395 mang tên Trần Anh Minh đã đổi đến nộp cho CQTHADS huyện Phổ Yên để tạm giữ theo quyết định của Bản án.

Đối với vụ việc như trên thì có 2 quan điểm xử lý như sau:

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: THU HỒI QUYẾT ĐỊNH KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ CÓ CƠ SỞ

HÀ TUẤN PHƯƠNG

Nguyễn Thị Oanh, là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên, có 01 chồng và 02 con. Lợi dụng chức vụ được giao, trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2005, Oanh đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên số tiền 1.441.158.900đ. Bản án hình sự sơ thẩm số 255/2006/HSST ngày 12/12/2006, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1963, trú tại tổ 01, phường Tân Lập, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên ( nguyên là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên ) mức án 15 năm tù giam về tội Tham ô tài sản theo điều 278 Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Oanh phải bồi thường 1.441.158.000đ, đã bồi thường 100.000.000đ, phải bồi thường tiếp số tiền 1.341.158.000đ cho Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên. Việc thi hành án thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC. Áp dụng điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự: Kê biên ½  giá trị ngôi nhà và quyền sử dụng đất trên diện tích 130m2 của bị cáo Nguyễn Thị Oanh.

Sau khi nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh T đã thụ lý, ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc trên. Chấp hành viên  đã tiến hành đầy đủ các biện pháp, trình tự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Do người phải thi hành án không tự nguyện thi hành và ngôi nhà của gia đình bà Oanh là một thể thống nhất, nếu chia tách sẽ làm giảm trị giá tài sản nên Chấp hành viên tiến hành kê biên toàn bộ nhà và quyền sử dụng đất của người phải thi hành án; bán đấu giá thành toàn bộ tài sản được 780.300.000đ; đã xử lý ½ số tiền này thuộc sở hữu của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án theo đúng bản án của Toà án, cụ thể là số tiền 390.150.000đ. Số tiền còn lại là 390.150.000đ lẽ ra trả lại cho ông Lê Quyết Thắng – chồng của Nguyễn Thị Oanh nhưng do chồng bà Oanh đã chết nên Chấp hành viên xác định bà Oanh được hưởng 1/3 di sản thừa kế của chồng, ước tính số tiền là 130.050.000đ và tiến hành kê biên để thi hành án, phần còn lại trả cho gia đình bà Oanh.

Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh đã ra quyết định thu hồi Quyết định kê biên tài sản, khoản phải thu hồi là số tiền ước tính hưởng di sản thừa kế 130.050.000đ với lý do bản án đã xác định bị cáo Oanh chỉ có quyền sở hữu giá trị ½ ngôi nhà và quyền sử dụng đất nên cơ quan thi hành án kê biên, bán đấu giá toàn bộ ngôi nhà và đất nhưng chỉ xử lý ½ gía trị ngôi nhà là phù hợp. Hơn nữa, người phải thi hành án là Nguyễn Thị Oanh đang chấp hành án phạt tù, chồng bà Oanh đã chết, 02 con của bà Oanh đều đang ở độ tuổi vị thành niên. Vì vậy, trả lại cho gia đình bà Oanh ½ trị giá ngôi nhà và quyền sử dụng đất, chỉ xử lý tài sản kê biên theo đúng quyết định của Toà án đã kê biên.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: CHUYỆN LẠ Ở AN GIANG – XỬ LƯU ĐỘNG … ÁN DÂN SỰ

VĂN ĐOÀN – DƯƠNG HẰNG

Trong thực tiễn xét xử, ngành tòa án chỉ xử lưu động án hình sự để tuyên truyền, giáo dục pháp luật và răn đe tội phạm. Vì vậy, việc thời gian qua ngành tòa án An Giang đem án dân sự ra xử lưu động đang gây băn khoăn về căn cứ pháp lý cũng như danh dự, uy tín, bí mật đời tư của đương sự…

Tháng 9-2009, TAND TP Long Xuyên đã đưa hai vụ tranh chấp hợp đồng góp hụi và tranh chấp hợp đồng vay tài sản – hợp đồng góp hụi mà bị đơn là bốn mẹ con bà H. ra xử lưu động tại trụ sở văn phòng khóm nơi bà H. đang sinh sống. Tuyên án, TAND TP Long Xuyên đã buộc bốn mẹ con bà H. phải trả tổng cộng cho các nguyên đơn gần 3 tỉ đồng.

Thành phố: Để tuyên truyền, giáo dục

Tại phiên xử lưu động công khai này, bốn mẹ con bà H. đều vắng mặt. Bà H. cho biết chưa nói đến nội dung bản án đúng hay sai, việc tòa đưa ra xử lưu động kiểu này khiến mẹ con bà cảm thấy rất xấu hổ và rất ngại với hàng xóm, thậm chí còn mất mối làm ăn sau này vì mất uy tín.

Trong thực tiễn xét xử, những vụ án bị đưa ra xét xử lưu động đều là những vụ án hình sự. Việc đưa tranh chấp dân sự ra xử lưu động như trên liệu đã đúng?

Lý giải, thẩm phán Trần Văn Nghĩa, Chánh án TAND TP Long Xuyên, nói: “Chúng tôi từng đưa nhiều vụ án dân sự ra xét xử lưu động nên việc này không có gì lạ. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ đưa những vụ dân sự điển hình, có tính giáo dục, răn đe cao ra xử lưu động mà thôi”.

Ông Nghĩa cho biết thêm: “Trong tài liệu hội nghị triển khai công tác năm của TAND Tối cao cũng có ghi “tăng cường xét xử lưu động” mà không nói rõ là chỉ được xử lưu động án hình sự hay dân sự. Điều đó có nghĩa là cả án hình sự và dân sự đều có thể đưa ra xử lưu động bởi không chỉ riêng án hình sự mà cả dân sự cũng cần phải tuyên truyền. Hơn nữa, việc đưa án dân sự ra xử lưu động mang tính giáo dục, răn đe và tuyên truyền pháp luật cao. Thế nên chúng tôi được lãnh đạo TAND tỉnh đồng thuận, ủng hộ. Thực tế chưa thấy có đương sự nào phản đối hay khiếu nại việc bị đưa ra xét xử lưu động dân sự làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của họ cả. Mà nếu họ nói có bị thiệt hại thì cứ kiện hay khiếu nại và chứng minh thiệt hại đi, chúng tôi sẽ thụ lý, giải quyết”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 146/BTP-TTR NGÀY 13 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA THANH TRA BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ THANH TRA CÔNG TÁC CHỨNG THỰC

Kính gửi:

Thanh tra Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu

Thanh tra Bộ Tư pháp nhận được Công văn 03/CV-TTr ngày 22/4/2010 của Thanh tra Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu, trong đó có nêu: Ngày 29/5/2009, thanh tra Sở Tư pháp đã có Công văn số 03/CV-TTr gửi Thanh tra Bộ đề nghị trao đổi nghiệp vụ thanh tra đối với công tác chứng thực của cấp xã, nhưng đến nay chưa nhận được văn bản trả lời. Đồng thời, đề nghị Thanh tra Bộ sớm có công văn hướng dẫn nghiệp vụ. Sau khi xem xét, thanh tra Bộ có ý kiến như sau:

Sau khi nhận được Công văn số 03/CV- TTr ngày 22/4/2010 của Thanh tra Sở, Thanh tra Bộ đã nghiên cứu, đối chiếu với các văn bản pháp luật có liên quan và tháng 7/2009 đã có văn bản trao đổi nghiệp với Thanh tra Sở. Tuy nhiên, đến nay Thanh tra Sở chưa nhận được văn bản trả lời nên chúng tôi trao đổi lại như sau:

Tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh có nhiệm vụ tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; … chứng thực;

Tại khoản 2 Điều 28 Luật Thanh tra và khoản 2 Điều 10 Nghị định Thanh tra tư pháp quy định: Thanh tra Sở Tư pháp có thẩm quyền thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở Tư pháp theo quy định của pháp luật.

Do đó, Thanh tra Sở có thẩm quyền thanh tra hoạt động chứng thực, thẩm quyền cụ thể được xác định như sau:

1. Đối với việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 49/2010/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 5 NĂM 2010 QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HỌC PHÍ, HỖ TRỢ CHI PHÍ HỌC TẬP VÀ CƠ CHẾ THU, SỬ DỤNG HỌC PHÍ ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC THUỘC HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN TỪ NĂM HỌC 2010 – 2011 ĐẾN NĂM HỌC 2014 – 2015

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Dạy nghề ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 35/2009/QH12 Quốc hội Khóa XII kỳ họp thứ V về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi, đối tượng điều chỉnh

Nghị định này quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015 bao gồm:

1. Các cơ sở giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;

2. Các cơ sở giáo dục khác được quy định tại Điều 69 của Luật Giáo dục.

Điều 2. Học phí

Học phí là khoản tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục.

Chương 2.

QUY ĐỊNH VỀ MIỄN GIẢM HỌC PHÍ, HỖ TRỢ CHI PHÍ HỌC TẬP

Điều 3. Đối tượng không phải đóng học phí

Đối tượng không phải đóng học phí tại các cơ sở giáo dục công lập bao gồm: học sinh tiểu học; học sinh, sinh viên sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm để đạt chuẩn nghề nghiệp.

Continue reading