BÁO CÁO SỐ 327/BC-UBTVQH12 NGÀY 22 THÁNG 5 NĂM 2010 VỀ GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6 (tháng 11/2009), các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật nuôi con nuôi. Sau kỳ họp, Ủy ban pháp luật đã phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan tổ chức khảo sát việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại một số địa phương, tổ chức hội thảo để tiếp tục lấy ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, đại diện một số cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương, các chuyên gia trong và ngoài nước về dự án Luật nuôi con nuôi.

Dự án Luật đã được gửi xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong quá trình hoàn thiện, Thường trực Ủy ban pháp luật và cơ quan soạn thảo đã làm việc với đại diện Đại sứ quán của 9 nước ký hiệp định nuôi con nuôi với nước ta, một tổ chức quốc tế và một số tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Sau đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật nuôi con nuôi.

I/ NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN

1. Về đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi; điều kiện của người được nhận làm con nuôi

a) Về đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi (Điều 7)

– Nhiều ý kiến đề nghị Luật chỉ điều chỉnh việc nuôi con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi; không áp dụng với trường hợp là “thương binh, người khuyết tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu, cô đơn”. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc đối tượng được nhận nuôi là người trên 15 tuổi, vì thực tế có phát sinh, nếu không quy định sẽ bỏ trống nhóm đối tượng này. Có ý kiến đề nghị quy định tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi là dưới 14 tuổi. Ý kiến khác đề nghị quy định tuổi trẻ em làm con nuôi “từ đủ 15 tuổi trở xuống”, vì pháp luật về hình sự, dân sự, lao động hiện hành quy định trách nhiệm đối với người trên độ tuổi này. Ngoài ra, có ý kiến băn khoăn quy định độ tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi như dự thảo Luật sẽ thấp hơn độ tuổi trong Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế năm 1993 (dưới 18 tuổi).

Continue reading

BÀN VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

GS.TS. HỒ SĨ THOẢNG

Hội đồng quản trị (HĐQT) trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) xuất hiện lần đầu tiên trong Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995. Từ đó, thiết chế này được áp dụng đại trà trong các DNNN, trước hết là trong các tổng công ty Nhà nước. Ngay từ đó, trong một số cuộc thảo luận về vấn đề cơ quan quản lý và điều hành DNNN, ý kiến về sự cần thiết có HĐQT vẫn còn phân tán. Lý do có trọng lượng nhất đưa đến sự hình thành HĐQT là để bảo đảm cho sự vận hành nghiêm túc cơ chế “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra nếu để một mình tổng giám đốc (TGĐ)/giám đốc (GĐ) điều hành doanh nghiệp.

Đương nhiên, đó là lý do hết sức xác đáng. Chỉ có doanh nghiệp tư nhân do một người làm chủ thì mới không có và không cần có sự quản lý của tập thể nào cả. Trong các công ty cổ phần với hàng ngàn, hàng vạn, thậm chí hàng triệu cổ đông thì đương nhiên không có hình thức quản lý nào hợp lý hơn là các cổ đông bầu những người đại diện cho mình vào HĐQT. Nghĩa là các cổ đông thực hiện quyền làm chủ công ty thông qua những người đại diện của mình trong HĐQT. Tuy nhiên, vấn đề trở nên hết sức phức tạp đối với trường hợp DNNN hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

HĐQT đại diện cho ai?

Về mặt lý thuyết, chủ sở hữu DNNN là Nhà nước (Chính phủ, các Bộ, ủy ban nhân dân các cấp), HĐQT là người thay mặt Nhà nước. Nhưng chỉ đi thêm một bước nữa vấn đề đã trở nên phức tạp. Ai là người được Nhà nước giao trách nhiệm làm chủ sở hữu DNNN thực sự? Đã 10 năm trôi qua từ khi Luật DNNN ra đời với một lần sửa đổi, đối với DNNN trung ương, câu trả lời vẫn là các Bộ. Tuy nhiên, các Bộ cũng không thực thi đầy đủ vai trò là chủ sở hữu thật sự. Rất nhiều Bộ có quyền can thiệp vào hoạt động của DNNN, nhưng khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì hầu như không ai là người chịu trách nhiệm.

Continue reading

CẢNH BÁO RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VIỆT NAM

THS. TRỊNH THANH HOAN – Tổng giám đốc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam

Sức yếu, gánh nặng, đường xa, kẻ trục lợi thường xuyên rình rập, có lúc sử dụng đại lý như “nuôi ong tay áo”… Những nguy cơ rủi ro đang là vấn đề rất nhức nhối trong các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.

Trong những năm vừa qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về chất và lượng, đánh dấu bước phát triển căn bản từ một thị trường độc quyền Nhà nước sang một thị trường khá hoàn chỉnh theo cơ chế kinh tế thị trường với sự tham gia của đủ mọi thành phần kinh tế (Nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài).

Sau 10 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Từ chỗ quy mô thị trường bảo hiểm chỉ là 703 tỷ đồng vào năm 1993, đến 2004  đã lên tới 14.232 tỷ đồng với 26 doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm gồm: 14 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 5 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 6 doanh nghiệp hoạt động môi giới bảo hiểm và 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm.

Đến nay, thị trường bảo hiểm đã từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế thông qua cơ chế hợp tác thương mại, dịch vụ tài chính đa phương hoặc song phương, với các nước ASEAN, Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, v.v…

Tuy nhiên,  thị trường bảo hiểm Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề. Ngoài những khó khăn do chính sách bảo hiểm chưa hoàn thiện thì nguy cơ rủi ro trong các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang là vấn đề rất nhức nhối.

Vốn nhỏ, rủi ro tiềm ẩn cao

Các công ty bảo hiểm trước khi phát hành một đơn bảo hiểm đều phải đánh giá rủi ro được bảo hiểm, xem xét các yếu tố dẫn đến sự tăng giảm rủi ro… Từ đó mới đưa ra quyết định chấp nhận hay từ chối rủi ro với phạm vi bảo hiểm như thế nào, tỷ lệ phí bảo hiểm là bao nhiêu cho phù hợp. Nhưng các doanh nghiệp bảo hiểm mới chỉ đánh giá được rủi ro của đối tượng được bảo hiểm, còn nhiều doanh nghiệp bảo hiểm vẫn chưa xem xét một cách thấu đáo những rủi ro tiềm ẩn trong chính bản thân doanh nghiệp mình.

Continue reading

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TPHCM: RỐI THÊM DO TÒA ÁN?

VIẾT ĐOÀN

Chỉ là một vụ án “Kinh doanh thương mại về tranh chấp Hợp đồng kinh tế” thế nhưng liên tiếp trong thời gian vừa qua TAND Q7 (TP HCM) đã có đến 1 thông báo và 2 quyết định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu ngăn chặn và phong tỏa tài sản tiền gửi của đương sự. Tuy nhiên, điều đáng nói là những văn bản này đều có dấu hiệu trái luật hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật khiến DN phải… kêu cứu.

Theo Hợp đồng số 110809/UREA/12,500/MT, ngày 11/8/2009 Cty CP Kim Phú Gia (bên Bán) và Cty CP vật tư nông sản (bên Mua) mua bán phân UREA N46% với số lượng mua hàng là 12.500 tấn, được giao hàng tại Cảng Đà Nẵng với giá trị trên 3,4 triệu USD (khoảng 61,875 tỷ đồng). Như thỏa thuận NH NN-PTNT VN CN 8 phát hành 1 bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương ứng 3% giá trị lô hàng cho bên Bán và bên Mua thụ hưởng (hơn 1,856 tỷ đồng). Số tiền này được trả cho bên Mua như một khoản bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi của bên Bán. Đồng thời, theo yêu cầu của bên Mua, NH Đầu tư & Phát triển CN Hà Thành (BIDV) đã ra một chứng thư bảo lãnh thanh toán 100% trị giá hợp đồng cho bên Bán và người thụ hưởng chứng thư bảo lãnh là Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank).

Rắc rối ngoài hợp đồng

Trong khi hợp đồng chưa được thực hiện thì hai bên đã xảy ra tranh chấp và bên Bán đã khởi kiện ra TAND Q 7 (TP HCM). Theo như đơn khởi kiện ngày 11/11/2009, bên Bán cho rằng bên Mua đã vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường số tiền 2% hợp đồng do chậm thực hiện. Trong đó, công văn ngày 4/9/2009 bên Bán gửi cho bên Mua cho rằng chứng thư bảo lãnh của BIDV không được Southern Bank đồng ý với một số điều trong thư bảo lãnh và đòi hỏi những cái không cần thiết. Do đó, đã đề nghị chuyển người thụ hưởng là NH NN-PTNT VN CN Sài Gòn.

Ngày 16/9/2009 bên Bán lại có văn bản gửi bên Mua với nội dung cho rằng “Chứng thư bảo lãnh của BIDV đã ràng buộc thêm điều kiện kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng”. Tuy nhiên, nội dung của những văn bản này và các cuộc đàm phán đều bị bên Mua bác bỏ. Ông Nguyễn Tiến Dũng – TGĐ Cty CP vật tư nông sản (đại diện bên Mua) khẳng định: “Việc xác định người thụ hưởng trong thư bảo lãnh chúng tôi đã làm theo đúng như cam kết trong hợp đồng. Còn việc thay đổi người thụ hưởng thì hợp đồng không ràng buộc mà chỉ do hai bên đàm phán nên việc chấp thuận hay không phụ thuộc vào nội dung của cuộc đàm phán và chúng tôi không chấp thuận”.

Continue reading

LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP: BÌNH LUẬN NGẮN TỪ GÓC NHÌN QUẢN TRỊ CÔNG TY

PGS, TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. HCM

Mua bán và sáp nhập công ty (M&A) đã xuất hiện và có thể sẽ trở nên sôi động hơn ở nước ta, nhất là khi các nhà đầu tư từ Trung Hoa đại lục rủng rỉnh tiền bạc bắt đầu nhòm tới các nguồn tài nguyên và kênh tiêu thụ ở Việt Nam. Giúp tái cấu trúc doanh nghiệp, lưu chuyển vốn, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp có thể có lợi cho năng lực cạnh tranh quốc gia.

Về chi tiết, việc mua bán hay sáp nhập thường gồm nhiều công đoạn, diễn ra bằng nhiều cách, với sự tham gia của nhiều lực lượng chuyên gia, trong đó chuyên gia pháp lý thường đóng những vai trò lớn trong xác định doanh nghiệp mục tiêu, nhận diện các yếu tố tạo nên giá thành, giúp thương thảo và thiết kế các hợp đồng cũng như làm thủ tục nội bộ trong công ty mua cũng như công ty bán và những thủ tục hành chính khác với cơ quan nhà nước để hoàn tất việc mua bán. Đang có một cuộc tranh luận trong giới làm chính sách về việc liệu nước ta có nên có một đạo luật về mua bán công ty hay không? Để góp phần vào cuộc tranh luận đó, bài viết ngắn dưới đây bước đầu tìm hiểu và bàn luận về một số khía cạnh pháp lý có thể cần được lưu tâm trong quá trình mua bán công ty.

Đối tượng mua bán: Trên thực tế, các loại hình doanh nghiệp đều có thể được mua bán, thậm chí các quyền lợi trong các liên danh không hình thành nên pháp nhân cũng có thể được mua bán. Tuy nhiên, luật pháp không mấy quan tâm đến việc mua bán ki-ốt trên chợ hay cửa hàng của một tiểu thương, kể cả việc mua lại doanh nghiệp tư nhân (DNTN), phần vốn trong hợp danh hay các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) tư nhân. Về cơ bản, quyền mua bán thuộc tự do khế ước; thuận mua vừa bán, miễn là không có những dấu hiệu làm cho việc mua bán có nguy cơ trở nên vô hiệu. Sự quan tâm của người làm luật chỉ tăng lên trong việc mua bán doanh nghiệp nhà nước (DNNN) – vì đó là bán của công cho tư nhân; và mua bán các công ty cổ phần hoặc việc mua bán tạo nên sự lũng đoạn của độc quyền cản trở cạnh tranh bình thường. Thường thì luật pháp không mấy quan tâm đến việc mua bán công ty phải diễn ra như thế nào – không Nhà nước nào có thể thông thái hơn giới doanh nhân, việc tính toán mua bán bằng cách nào là tự do của họ. Nhà nước chỉ quan tâm để bảo vệ những lợi ích nhất định, ví dụ: (i) bảo vệ cạnh tranh, (ii) bảo vệ doanh nghiệp trong nước trước nguy cơ bị thôn tính bởi các tập đoàn nước ngoài, (iii) bảo vệ các cổ đông nhỏ có thể bị lừa gạt qua các cuộc mua bán, (iv) bảo vệ chủ nợ và người làm công trong công ty.

Continue reading

GIỚI HẠN CỦA HỢP ĐỒNG MẪU

LS. CAO THỊ HÀ GIANG – TRẦN THANH TÙNG

Trong rất nhiều các quan hệ kinh tế, dân sự hiện nay, doanh nghiệp đang bị “ép” vào những mẫu hợp đồng sơ sài của các cơ quan nhà nước, xa lạ so với ý chí thực của doanh nghiệp. Đâu sẽ là ranh giới giữa việc áp dụng hợp đồng mẫu và quyền tự do hợp đồng?

Từ sự việc thực tế…

Ông H., thành viên sáng lập công ty TNHH A, có nhu cầu chuyển nhượng vốn góp cho đối tác khác. Sau một thời gian dài đàm phán và nhờ luật sư tư vấn, hợp đồng chuyển nhượng vốn được hình thành và ký kết. Khi nộp hồ sơ đăng ký chuyển nhượng vốn tại sở kế hoạch và đầu tư (KHĐT) thành phố N, nhân viên của sở KHĐT đã không chấp nhận hồ sơ vì hợp đồng quá dày với hơn 20 trang giấy và quá phức tạp, quan trọng hơn là không được lập theo mẫu của Sở KHĐT.

Nhân viên này yêu cầu ông H. phải sử dụng mẫu hợp đồng do sở KHĐT ban hành. Ông H. không biết phải làm sao để đưa các thỏa thuận đã đạt được vào hợp đồng mẫu với chỉ khoảng 3 trang giấy. Tuy nhiên, sau nhiều lần lên xuống để thuyết phục nhưng không thành công, ông H. và đối tác đành chấp nhận ký thêm vào bản hợp đồng theo đúng mẫu do sở KHĐT cung cấp chỉ để hồ sơ được thụ lý.

…Đến giới hạn của hợp đồng mẫu

Hợp đồng về bản chất là luật tư, dựa trên ý chí tự do và tự thỏa thuận của các bên tham gia. Doanh nghiệp, về nguyên tắc, được làm tất cả những gì luật không cấm, nghĩa là cứ tự do thỏa thuận chừng nào mà thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Nhưng khi tham gia vào quan hệ hành chính, hợp đồng này còn chịu sự ảnh hưởng bởi luật công, dựa trên mệnh lệnh, quyền uy mà không có thỏa thuận. Trong quan hệ ấy, đứng ở góc độ của cơ quan hành chính, họ chịu ràng buộc theo nguyên tắc “công chức chỉ được làm những gì luật cho phép”. Giữa hai thái cực ấy, đâu sẽ là ranh giới giữa luật công và luật tư?

Continue reading