THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO QUY ĐỊNH CỦA WTO: LỢI ÍCH QUỐC GIA HAY UY TÍN QUỐC TẾ?

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Bài viết đề cập đến nội dung thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) theo quy định “mở” của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đối với các quốc gia thành viên. Việc chọn “ngưỡng” nào trong phạm vi “mở” đó là tùy thuộc vào mỗi quốc gia nhưng phải tuân theo nguyên tắc có thể “vượt trần” nhưng không được “dưới sàn”. Trong quá trình hoạch định chính sách, tùy từng thời điểm, quốc gia thành viên có thể chọn việc đặt uy tín quốc tế (khi quy định “trên sàn” hoặc “vượt trần”) lên trên lợi ích quốc gia (nếu quy định “ngang sàn”) và ngược lại. Một câu hỏi được đặt ra là: Trong chính sách về SHTT, ViệtNam đã đặt uy tín quốc tế lên trên lợi ích quốc gia hay ngược lại? Khó có thể trả lời câu hỏi này khi đứng trước các thông tin tích cực và tiêu cực đối với nền kinh tế nước nhà sau hơn 2 năm gia nhập WTO.

Nhắc đến hoạt động của WTO, người ta thường đề cập đến hoạt động của các Hội đồng thương mại dưới quyền của Đại hội đồng. Có ba Hội đồng thương mại (có tài liệu còn coi đó là ba “trụ cột” của WTO) là: Hội đồng thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại dịch vụ và Hội đồng các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại. Trong đó, Hội đồng các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền SHTT.

Tại Hội thảo khoa học “Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO – Những thành tựu và thách thức” do Viện Khoa học pháp lý và kinh doanh quốc tế tổ chức vào tháng 10.2009, TS Võ Trí Thành, Trưởng ban Hội nhập kinh tế quốc tế thuộc Viện Quản lý kinh tế Trung ương đã phát biểu: “Cái đáng tiếc nhất rút ra sau 2 năm gia nhập WTO là ta đã quá hứng khởi. Hứng khởi quá mức để rồi lúng túng về chính sách… Vì vậy mới nảy sinh những biện pháp cứng rắn đến mức không cần thiết, ở mức độ nào đó có gây ra hiệu ứng bất lợi”1. Có thể TS Võ Trí Thành đã đề cập chung đến cả ba lĩnh vực là thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và SHTT.

Continue reading

THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ – CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. NGUYỄN QUANG HIỀN – Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh

Ngay từ khi nước ta vừa giành được độc lập, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán, trong đó đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa án thực hiện hai cấp xét xử”. Đến nay, nguyên tắc này vẫn được ghi nhận tại Điều 11 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, đổi mới thủ tục giám đốc thẩm để đảm bảo việc xét xử vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng.”

Vụ án tranh chấp nhà và đất ở giữa bị đơn là ông Trương Gia Hải và nguyên đơn là bà Trương Thị Bản, trú tại 27 phố Lê Lợi, quận Hà Đông (Hà Nội) với những chứng cứ rõ ràng nhưng qua 14 năm (1995-2009) với 13 phiên tòa vẫn chưa kết thúc. Ngày 13/01/2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, đề nghị Hội đồng Thẩm phán xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm. Hội đồng Giám đốc thẩm đã quyết định hủy cả bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm, chuyển giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Có nghĩa là, vụ án lại quay về điểm xuất phát. Cơ quan tố tụng từ địa phương đến trung ương đã mất quá nhiều công sức và thời gian, người tham gia tố tụng thì tán gia bại sản.

Đây chỉ là một vụ án cá biệt. Với chỉ một vụ án thì không thể đánh giá chung về tình hình xét xử của ngành Tòa án, nhưng những con số kỷ lục về phiên tòa nói trên đã nói được nhiều điều, nhất là về sự không hợp lý trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành. Và ở đây là sự không hợp lý do pháp luật quy định quyền hạn quá rộng cho mỗi cấp xét xử.

Continue reading

CÔNG NHẬN TẠO SỰ TIN CẬY CHO XÃ HỘI VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

VŨ XUÂN THỦY – Giám đốc Văn phòng Công nhận Chất lượng, Bộ KH&CN

Với vai trò đánh giá, công nhận các tổ chức đánh giá sự phù hợp trong chứng nhận sản phẩm/dịch vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nhận là một trong những phương cách giúp cho hàng hóa có thể tự do lưu thông giữa các quốc gia, là công cụ hạn chế các rào cản không cần thiết, tạo sự tin cậy cho xã hội và thương mại quốc tế.

Vai trò của hoạt động công nhận

Công nhận được hiểu là: “Việc đánh giá, xác nhận của một tổ chức có thẩm quyền về năng lực của tổ chức đánh giá sự phù hợp cho một hoạt động cụ thể” [ISO/IEC 17011: 2004]. Trong thực tế thì, công nhận là hoạt động của một tổ chức được chính phủ thừa nhận, thực hiện việc đánh giá công nhận các tổ chức chứng nhận (TCCN), phòng thí nghiệm (PTN), tổ chức giám định (TCGĐ) – các tổ chức này được gọi chung là các tổ chức đánh giá sự phù hợp – theo các chuẩn mực quốc tế. Có hai lý do chính dẫn đến việc ra đời và phát triển rộng khắp của hoạt động công nhận hiện nay trên thế giới:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 48/2010/NĐ-CP NGÀY 7 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đấu thầu ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về hợp đồng trong hoạt động xây dựng (sau đây viết tắt là hợp đồng xây dựng) thuộc các dự án đầu tư xây dựng có sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên.

2. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân liên quan đến hợp đồng xây dựng thuộc các dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên trên lãnh thổ Việt Nam. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân liên quan đến hợp đồng xây dựng thuộc các dự án sử dụng ít hơn 30% vốn nhà nước áp dụng các quy định tại Nghị định này.

3. Đối với hợp đồng xây dựng thuộc các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA), nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có những quy định khác với các quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo các quy định của Điều ước quốc tế đó.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng.

Continue reading