BÀN VỀ THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP CỦA CÔNG TY

I. THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP ANH LÀ AI?

HẢI LÝ

Chúng tôi sẵn sàng trả lương cao và các ưu đãi đi kèm cho những người có thể đại diện cho chúng tôi làm thành viên độc lập trong hội đồng quản trị (HĐQT) những doanh nghiệp nơi chúng tôi góp vốn – tổng giám đốc một công ty quản lý quỹ cho biết. Tìm kiếm người làm thành viên độc lập trong HĐQT đang không chỉ là vấn đề đối với các tổ chức, quỹ đầu tư mà còn của nhiều doanh nghiệp niêm yết. Thành viên độc lập, anh là ai? Và vì sao thị trường tài chính lại cần đến anh vào lúc này?

“Độc lập” trên giấy

Hai năm trước ở một công ty sản xuất dầu ăn niêm yết trên sàn TPHCM đã xảy ra mâu thuẫn giữa HĐQT và ban tổng giám đốc. Hai thành viên độc lập trong HĐQT đại diện cho các quỹ nước ngoài, “đấu tranh” bảo vệ tổng giám đốc, nhưng đã không có kết quả vì chủ tịch HĐQT đại diện cho phần vốn nhà nước 51% có quyền phủ quyết tại đại hội. Cuối cùng các thành viên độc lập từ chức, quỹ đầu tư thoái vốn. Sự rút lui của họ cho thấy vai trò của thành viên độc lập chưa thể thể hiện hiệu quả trong những hoàn cảnh nhất định.

Khoản 1, điều 11, Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13-3-2007 về việc ban hành quy chế quản trị doanh nghiệp áp dụng cho các công ty niêm yết, quy định số lượng thành viên HĐQT một đơn vị ít nhất là 5 người, nhiều nhất 11 người, trong đó một phần ba là thành viên độc lập không điều hành. Khái niệm về thành viên độc lập theo các văn bản pháp lý cho đến nay chỉ có thế. Ngoài ra không ở đâu, không văn bản nào định nghĩa thành viên độc lập là gì, họ phải đáp ứng những tiêu chí nào, trình độ, kinh nghiệm ra sao.

Không có tiêu chí, cũng chẳng có hướng dẫn, nhưng các công ty niêm yết vẫn phải bầu cho được thành viên độc lập vào HĐQT. Vì thế, trong các đợt tập huấn công ty đại chúng, nhiều doanh nghiệp đứng lên hỏi, song đại diện cơ quan quản lý cũng không biết trả lời ra sao. Hỏi không được trả lời, nhưng vẫn phải thực hiện quy định.

Ở nhiều nước, thành viên độc lập là một nghề, được đào tạo hẳn hoi và được trả lương xứng đáng. Việt Nam chưa có một nghề như vậy!

Continue reading

ĐẠI DƯƠNG VÀ LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

LÊ VĂN BÍNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Tìm hiểu đại dương và chế độ pháp  lý của nó  từ góc cạnh của Luật quốc  tế hiện đại  là cần thiết. Điều đó không chỉ vì đại dương chiếm gần 3/4 diện tích bề mặt trái đất, mà nó còn là sự sống, là hiểm hoạ đối với con người. Chúng tôi chọn “Đại dương và Luật quốc tế hiện đại” để trao đổi cùng người đọc. 

1. Đại dương và những thách thức mới (1)

Từ cuối  thế kỷ XX đến đầu  thế kỷ XXI  là giai  đoạn  của  các  thành  tựu  về  khoa  học  kỹ thuật, về toàn cầu hoá các quan hệ quốc tế và về nền  kinh  tế  tri  thức.  Thế  giới  đã  hình  thành “khoảng không gian chung” về thông tin – pháp  lý  và  về  kinh  tế  -  tài  chính,  trong  đó  có  cách  nhìn tiệm cận chung về đảm bảo các quyền của  con người, của các dân tộc và của các quốc gia.

Chính  trong  các  điều  kiện  đó,  an  ninh  cộng đồng quốc tế cũng phải đối mặt với những mạo hiểm  mới,  những  thách  thức  mới  và  những  hiểm  hoạ  mới.  Các  vấn  đề  đó  có  thể  là:  các xung đột trong phạm vi của quốc gia hoặc trong  nội  khối  của  các  tổ  chức  quốc  tế;  khủng  bố quốc  tế;  các  hoạt  động  tội  phạm  có  tổ  chức; nguy cơ phổ biến vũ khí giết người hàng  loạt;  khủng  hoảng  kinh  tế-tài  chính  toàn  cầu;  hiểm hoạ môi  trường;  buôn  bán ma  tuý;  và  dịch  tả  trên  quy mô  lớn.  Tất  cả  các  sự  kiện  nói  trên, trong một chừng mực nào đó có  liên quan đến  đại dương và Luật biển quốc tế.

Khó  đánh  giá  hết  tầm  quan  trọng  của  đại dương  và  vai  trò  của  nó đối  với đời  sống  con người. Vì đại dương  là ngôi nhà chung,  là cầu nối giữa các  lục địa và  giữa các nền văn minh của nhân  loại,  là  tuyến đường giao  thông  thuỷ đặc biệt quan trọng được tạo thành từ các vùng biển với các  chế độ pháp  lý khác nhau. Trong  đó phần  lớn  là biển cả, vùng biển không  thuộc chủ quyền  của bất  cứ một  quốc  gia  nào. Điều đó  được  thể  hiện  trong  nguyên  tắc  tự  do  biển cả: tự do thuỷ vận; tự do hàng không; tự do lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm; tự do đánh cá; tự do  nghiên  cứu khoa học;  tự  do  xây  dựng  các đảo và  lắp đặt các công  trình nhân  tạo. Tự do biển  cả không có nghĩa  là  tự do một cách  tuyệt đi, mà  tự do phải phù hợp với định chế của Công ước  Liên  hợp  quốc  (LHQ)  về  Luật  biển  năm  1982  (sau  đây  gọi  là Công  ước  năm  1982)  và các quy phạm khác của Luật quốc tế [1].

Continue reading

THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: TRUY NHẬN CHA – TÒA HAY SỞ GIẢI QUYẾT

TIẾN HIỂU

Người mẹ nói không hề có chuyện tranh chấp con nên việc xác nhận cha thuộc trách nhiệm giải quyết của Sở Tư pháp.

TAND TP.HCM đã thụ lý đơn kiện của ông S. (quốc tịch Canada) đòi xác nhận cha cho con. Mẹ của đứa bé đã phản đối vì cho rằng việc công nhận này thuộc trách nhiệm của Sở Tư pháp chứ không phải của tòa.

Muốn kết hôn để con có cha

Người mẹ cho biết bà và ông S. quen nhau khi đi du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long vào đầu năm 2003. Sau chuyến đi, hai người thường liên lạc rồi về sống chung. Được ít lâu, bà có thai.

Lúc này, cả hai chuẩn bị hồ sơ để làm thủ tục kết hôn. Thế nhưng thủ tục sắp hoàn thành thì ông S. đột nhiên từ chối, không muốn kết hôn nữa. Bị từ hôn, bà chịu nhiều áp lực về kinh tế cũng như những lời gièm pha từ gia đình, dòng họ khi phải sinh con một mình.

Tuy chịu nhiều sóng gió, bà vẫn cố níu kéo tình cảm của ông. Có bận bà đã lặn lội đưa con trai sang Canada thuyết phục ông kết hôn để trong giấy khai sinh của con không khuyết tên cha. Những tưởng khi đưa con sang, ông S. sẽ đồng ý nhưng bà chỉ nhận được sự hững hờ.

Nhận thấy mọi cố gắng của mình không thành, bà đưa con trai quay về nước và coi như chưa từng quen biết ông. Kể từ đó, bà đã một mình gồng gánh nuôi con học hành mà không nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào từ phía ông. Thỉnh thoảng ông S. quay lại Việt Nam và xin phép bà cho đưa con đi chơi mấy ngày, bà vui vẻ đồng ý…

Continue reading