RẮC RỐI THỜI HIỆU VĂN BẢN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Cty TNHH tư vấn VFAM VN

Thời hiệu của một văn bản được coi là vấn đề “rõ như ban ngày”. Thế nhưng, sự việc dưới đây lại không hẳn như vậy.

Câu chuyên Cty TNHH Thép Thành Long (Cty Thành Long) bị truy thu hơn 12,1 tỷ đồng tiền thuế NK xảy ra từ đầu năm 2009. TGĐ Cty này đã có đơn gửi Thủ tướng để kêu oan. Song, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn cũng đã thực hiện hàng loạt biện pháp để đôn đốc, thu hồi nợ đọng thuế như: ba lần gửi thông báo yêu cầu Cty nộp đủ số thuế nợ và tiền phạt; thành lập đoàn công tác đến trụ sở Cty Thành Long dể thu nợ và ban hành Quyết định số 676/QĐ-HQLS ngày 22/7/2009 về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền gửi từ tài khoản ngân hàng đối với số nợ thuế của Cty  Thành Long. Tuy nhiên, sự việc đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Nguồn cơn câu chuyện

Vào tháng 11 và 12/2008, Cty Thép Thành Long (Hưng Yên) ký ba hợp đồng nhập khẩu thép hợp kim cán nóng từ Trung Quốc. Số lượng hàng nhập là 28.839 tấn. Cty Thành Long đã mở 17 tờ khai hải quan tại Chi cục Hải quan đường sắt quốc tế ga Đồng Đăng, Lạng Sơn để nhập khẩu số hàng trên và nộp 17,23 tỷ đồng thuế GTGT với thuế suất thuế NK được xác định là 0%. Lô hàng đầu tiên về VN ngày 10/1/2009. Song, ngày 28/2/200, Cty nhận được quyết định về việc ấn định thuế nhập khẩu cho các tờ khai hải quan mở từ ngày 7/2/2009 đến 13/2/2009 với số thuế phải nộp hơn 6,53 tỷ đồng. Ngày 14/3/2009, Cty Thành Long lại nhận thêm quyết định nữa về việc truy thu thuế nhập khẩu đối với các tờ khai hải quan mở từ ngày 1/1 đến 20/1/2009, số tiền thuế “truy thu” hơn 5,56 tỷ đồng. Tổng cộng, số tiền thuế nhập khẩu Cty bị truy thu là 12.147.649.670 đồng.

Một quyết định – hai thời điểm có hiệu lực

Việc Cty Thành Long  bị "truy thu" thuế NK có nguyên nhân chính là hiệu lực thi hành của Quyết định số 123/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về việc điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu của mặt hàng thép hợp kim có hàm lượng Bo 0,0008% thuộc mã số hàng hóa 7227900010 từ 0% lên 5%. Việc thay đổi thuế suất thuế NK bằng một quyết định của Bộ trưởng là thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính và phù hợp với Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm đó. Tuy nhiên, rắc rối xẩy ra từ quy định về hiệu lực thi hành của quyết định này.

Continue reading

BỔ NHIỆM VÀ BÃI MIỄN TỔNG GIÁM ĐỐC: THẾ NÀO LÀ ĐÚNG?

PHẠM HUẤN

TGĐ là người đại diện theo pháp luật của một DN. Vậy, Hội đồng quản trị muốn bãi miễn chức vụ này cần có tiêu chí nào để không xảy ra tranh chấp ?

Cty cổ phần S là một Cty niêm yết. Theo Điều lệ Cty thì TGĐ là người đại diện theo pháp luật. Tháng 10/2007, Chủ tịch HĐQT Cty lấy ý kiến các thành viên HĐQT bằng văn bản về việc bãi miễn TGĐ cũ (là thành viên HĐQT) và bổ nhiệm TGĐ mới. Kết quả kiểm phiếu cho thấy có 3/4 phiếu biểu quyết đồng ý, 1/4 phiếu không có ý kiến (theo Khoản 5 Điều 31 Điều lệ mẫu thì việc bãi miễn TGĐ cũ phải được ít nhất 2/3 thành viên HĐQT biểu quyết tán thành và trong trường hợp này không tính biểu quyết của TGĐ). Sau đó, Chủ tịch HĐQT đã ký Quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ nhiệm TGĐ mới.

Tuy vậy, TGĐ cũ tuyên bố việc bổ nhiệm TGĐ mới chưa có hiệu lực vì: Theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 14 Điều lệ mẫu thì việc bổ nhiệm TGĐ mới của HĐQT phải được Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) phê chuẩn. Ngoài ra, TGĐ là người đại diện theo pháp luật, mà việc thay đổi người đại diện theo pháp luật theo Khoản 3 Điều 29 Nghị định 88/2006/NĐ-CP cần phải có Biên bản và Quyết định của ĐHĐCĐ. Dựa vào các căn cứ pháp lý trên, TGĐ cũ nhất định không chịu bàn giao công việc, sổ sách, con dấu Cty.

Chủ tịch HĐQT lập luận rằng theo quy định tại Điểm i Khoản 3 Điều 25 Điều lệ mẫu và Điểm h Khoản 2 Điều 108 Luật DN 2005 thì HĐQT có toàn quyền bãi miễn TGĐ cũ và việc bãi miễn này không cần phải phê chuẩn của ĐHĐCĐ nên người bị bãi miễn không còn là TGĐ nữa. Còn đối với việc bổ nhiệm TGĐ mới cần phải có sự phê chuẩn của ĐHĐCĐ mới có hiệu lực thì trong thời gian chờ phê chuẩn của ĐHĐCĐ, người được bổ nhiệm giữ chức vụ quyền TGĐ.

Những vấn đề cần giải quyết

Vậy quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ nhiệm TGĐ mới có hiệu lực khi nào? Tranh chấp xảy ra tại thời điểm Luật DN 2005 có hiệu lực, nên căn cứ để giải quyết là Luật DN 2005 và Điều lệ Cty.

Continue reading

BÌNH LUẬN TỪ VIỆC MEGASTAR BỊ KHIẾU NẠI

PHẠM HOÀI HUẤN

Vụ việc

Megastar là một trong những tên tuổi hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực giải trí tại thành phố Hồ Chí Minh. Gần đây, theo các thông tin được đưa trên các phương tiện truyền thông, sáu doanh nghiệp ngành điện ảnh đã nộp đơn đến Cục Quản lý cạnh tranh để khiếu nại Megastar với lý do Megastar đã có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể, sáu doanh nghiệp trên đã khiếu kiện Megastar với các lý do như sau:

Thứ nhất, theo phân tích của các doanh nghiệp đứng đơn, hiện nay 90% các phim nhựa chiếu rạp là phim nước ngoài, được các doanh nghiệp nhập khẩu từ các hãng sản xuất phim nước ngoài. Với mỗi phim, hãng sản xuất phim nước ngoài ký hợp đồng với một doanh nghiệp để doanh nghiệp này nhập khẩu và phân phối lại phim cho các doanh nghiệp khác trong nước. Các doanh nghiệp này cũng thống kê rằng, Megastar thường chiếm khoảng 50% số phim nhập khẩu mỗi năm. Cụ thể, tổng phim nhập khẩu trong năm 2009 là 106 phim, riêng Megastar nhập 50 phim. Bên khiếu nại cũng cho rằng, doanh thu từ hoạt động phân phối phim nhựa nhập khẩu của Megastar trong thời gian qua dao động từ 34% đến 75% tổng doanh thu trên thị trường phân phối phim nhựa nhập khẩu tại Việt Nam

Thứ hai, bên khiếu nại cho rằng, Megastar đã vi phạm Luật Cạnh tranh khi có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể là việc Megastar áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng khi áp dụng chính sách định phí thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem. Hiểu nôm na, với mỗi phim mà Megastar phân phối cho các doanh nghiệp khác chiếu, Megastar thu 25.000 đồng trên mỗi vé mà các doanh nghiệp này bán ra. Bên khiếu nại cho rằng, cách thu này của Megastar (áp dụng từ đầu tháng 6/2009) đã khiến các doanh nghiệp phải nâng giá vé để tránh lỗ và kết quả là khán giả bị thiệt hại do giá vé tăng.

Thứ ba, ngoài ra, bên khiếu nại cũng cho rằng Megastar đã áp đặt điều kiện trong quan hệ giữa các bên. Cụ thể, Megastar buộc các doanh nghiệp này phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê. Ví dụ, muốn có phim Transformers (một phim thuộc dạng “bom tấn”, hút khách) thì Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim Ice Age (là một phim hoạt hình).

Bên khiếu nại còn nêu việc Megastar đã buộc các doanh nghiệp này phải chiếu những phim do Megastar phân phối tại những phòng chiếu do Megastar chỉ định. Hành vi này bị bên khiếu nại cho là Megastar đã áp đặt điều kiện cho các doanh nghiệp.

Continue reading

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: CÔ GÁI CÂM KIỆN ANH CHĂN VỊT

THANH THIÊN

Tòa đã ba lần mời anh chăn vịt đi giám định gien nhưng anh này đều không chịu đi nên có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận đứa bé là con mình?

Mới đây, TAND huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) vừa xử sơ thẩm vụ chị H. (câm, điếc bẩm sinh) kiện đòi một anh thanh niên phải cấp dưỡng cho con. Dù không nghe, nói được nhưng chị này biết chữ nên đã viết kể tường tận mối quan hệ giữa hai người…

Tác giả là anh chăn vịt

Theo đơn kiện và trình bày của người đại diện cho chị H., khoảng đầu năm 1996, chị thường đi ruộng vào ban đêm. Một anh thanh niên cùng xóm, nuôi vịt gần nhà, thấy chị hay tới lui nên đến làm quen. Lâu dần hai người trở thành thân…

Mấy tháng sau, chị H. ra dấu chỉ vào bụng. Người nhà thấy dáng vẻ chị là lạ nên vội vàng chở đi khám. Kết quả chị đã mang thai khoảng năm tháng.

Người nhà ra dấu hỏi lại chị mang thai với ai. Dù bị tật nhưng chị này vẫn học được chữ nên đã lấy giấy bút viết ra tên người thanh niên chăn vịt. Biết được “thủ phạm”, người nhà chị này liền báo với ấp mời anh này đến hỏi nguồn căn. Tuy nhiên, anh này lắc đầu, không chịu hợp tác.

Sau đó, ấp đã mời nhiều thanh niên lại để cho chị H. nhận mặt ai là tác giả của cái thai. Không chút ngần ngừ, chị chỉ ngay vào anh chăn vịt! Chị cho biết đã quan hệ với anh chăn vịt bảy lần và bào thai trên là kết quả của những lần hai người gần gũi…

Phải có nghĩa vụ cấp dưỡng

Ít lâu sau, chị H. sinh em bé. Sau nữa, chị yêu cầu anh chăn vịt cấp dưỡng cho con nhưng anh này không đồng ý. Do vậy, chị H. phải khởi kiện ra tòa…

Continue reading

NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA CHUẨN MỰC

HỒNG PHÚC

Đã đến lúc nhìn sự phát triển của ta về chiều sâu thay vì chiều rộng. Bởi sự rối ren về chuẩn mực đang khiến có  rất nhiều việc không bình thường được coi là bình thường trong xã hội hiện nay.

Sự không bình thường đó là gì? Là những khuyết tật ngày càng bộc lộ trong đời sống hiện đại nhưng vẫn được xã hội chấp nhận, có khi còn cổ vũ vô  lối cho nó.

Người ta gặp sự bất thường đó ngay từ khi vào đời. Cha mẹ phải chen nhau để tìm chỗ cho con vào những trường tiểu học (rất tốn tiền) mà học sinh chưa học lớp Một đã phải thi đầu vào. Tiêu chuẩn đặt ra với một đứa trẻ chưa từng đến trường: không được ngọng, phải có IQ cao, phải biết tiếng Anh, biết đọc, biết viết… Phong trào mù quáng đó tạo nên sự nhầm lẫn về chuẩn mực cho trẻ lớp Một. Giáo dục khi ấy không giúp trẻ em khơi gợi những khả năng tiềm ẩn của mình như thiên chức của nó mà là một cỗ máy khắc nghiệt gò ép các em.

Chuẩn mực bị đảo lộn khi một thầy giáo hiệu trưởng có thể xâm hại tình dục ngay cả học sinh mới 9 tuổi của mình, một thầy giáo khác thì lạm dụng học trò nữ 13 tuổi; là việc một người từng làm mẹ có thể đâm kim vào thóp đứa trẻ mới hơn một tháng tuổi, một người phụ nữ nghe lời người tình giết con đẻ mình… 

Không riêng gì những vụ việc đau lòng, sự mất cân bằng về chuẩn mực biểu hiện ngay bên ta từ những việc nhỏ nhặt song nó hiển nhiên đến nỗi ít ai thắc mắc. Hai người giúp việc cho hai nhà cạnh nhau, một người Malaysia ăn lương 500 đô la Mỹ/tháng trong khi cũng công việc đó, bà giúp việc người Việt bên cạnh chỉ có lương hơn một triệu đồng. Tức là khi so sánh tiêu chuẩn hai người giúp việc theo cùng một chuẩn mực (về người giúp việc nhà) chúng ta từ lâu nay đã tụt hạng thê thảm. Đó là nỗi đau của người Việt Nam về chất lượng nguồn nhân lực, song nhiều người trong chúng ta đã quen nên không hề thấy xót xa.

Continue reading

TRAO ĐỔI VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

PHẠM THÁI QUÍ – Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình

Một trong những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) là đã phân tách và quy định hai trình tự thủ tục giải quyết khác nhau đối với vụ án dân sự (có tranh chấp) và việc dân sự (không có tranh chấp). Đây là một sự đổi mới cần thiết để phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Tuy nhiên, với quy định mới này qua hơn hai năm thi hành thực tế đã làm phát sinh những vấn đề vướng mắc cả về nhận thức lý luận lẫn thực tiễn…

1. Xác định tư cách người tham gia tố tụng còn mơ hồ

Tại Phần thứ năm của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân sự không có quy định riêng về người tham gia tố tụng như các quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Nhưng theo quy định tại Điều 311 của BLTTDS về phạm vi áp dụng thì Toà án phải áp dụng các quy định tại chương VI của BLTTDS để xác định tư cách người tham gia tố tụng cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Tuy nhiên, các quy định tại Chương VI chưa bao quát được những vấn đề cần thiết nên việc xác định tư cách những người tham gia tố tụng khi giải quyết việc dân sự thực tế vẫn còn có sự mơ hồ về mặt pháp lý.

  Trong thời gian qua khi giải quyết các việc dân sự như: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế (sau đây viết gộp là mất hoặc hạn chế) năng lực hành vi dân sự, yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, yêu cầu tuyên bố một người mất tích, tuyên bố một người là đã chết, đã có nhiều Toà án xác định người tham gia tố tụng gồm người yêu cầu và người bị yêu cầu hoặc biến tướng thành một bên là… với một bên là… Với cách ghi như vậy vô hình chung các Toà án đã xác định những người bị yêu cầu tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích… là đương sự tham gia tố tụng tương tự như là một bị đơn. Ngoài ra, có Toà án lại xác định những người này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, một khi đã xác định họ là đương sự thì họ phải được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Chẳng hạn như tại bản Thông báo kết quả giám đốc án số 01/GĐKT ngày 16/5/2007 của TAND tỉnh Q cho rằng “Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2007 ngày 13/2/2007 về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của TAND huyện QT không tuyên quyền kháng cáo của người bị yêu cầu là thiếu sót”. Vậy, với cách xác định và nhận định như trên liệu có đúng hay không?

Continue reading

BÀN VỀ CHẾ ĐỊNH CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

PHẠM THÁI QUÍ – Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh Quảng Bình

Chứng minh và chứng cứ là yếu tố xương sống của pháp luật tố tụng nói chung trong đó có pháp luật tố tụng dân sự. Mọi hoạt động tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Có thể nói rằng chế định chứng minh và chứng cứ của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) không chỉ thay đổi về lượng mà còn đã biến đổi cả về chất so với pháp luật tố tụng dân sự trước đây. Đó là đã quy định và cụ thể hoá nguyên tắc cơ bản trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các đương sự. Tuy vậy, một mặt do chế định này vẫn còn tồn tại những khoảng trống, mặt khác do trình độ nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của mọi người còn hạn chế nên thực tế đã không phát huy được tác dụng của các quy định mới này.

1. Vướng do luật

BLTTDS quy định, nếu xét thấy chứng cứ chưa đầy đủ để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ. Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn không thể thu thập được chứng cứ thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ. Như vậy, trong mọi trường hợp Toà án chỉ được phép yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ khi và chỉ khi đương sự có yêu cầu. Đây là một quy định có mặt tiến bộ là bảo đảm tính khách quan trong việc giải quyết vụ việc dân sự, tuy nhiên cũng đã tạo ra một khoảng trống pháp lý làm bó tay Toà án trong việc bảo vệ nền pháp chế. Vụ việc sau đây sẽ minh chứng cho điều này.

L.T.H là một đối tượng đã đã hai lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản với hình phạt 18 tháng tù. Tuy nhiên, sau khi các bản án có hiệu lực pháp luật H đã liên tiếp sinh thêm hai người con, do đó TAND huyện T đã phải ra đến 4 quyết định hoãn và 3 quyết định tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù chỉ với hai lý do là đang mang thai và đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Và cuối cùng thì thời gian hoãn và tạm đình chỉ thi hành án đã đủ để H được hưởng thời hiệu thi hành bản án. Không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh để làm ăn chân chính mà ngược lại H lại chuyển sang chứa mại dâm. Với hành vi nhiều lần chứa mại dâm H đã bị TAND tỉnh Q và Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẳng xử phạt 6 năm tù. Vì đã có đến 4 mặt con nên không thể tiếp tục chiêu bài củ là sinh con để chạy thời hiệu nữa nên H đã nghỉ ra chiêu lách luật mới hữu hiệu hơn. Đó là, trong thời gian chờ tự nguyện thi hành án H đã nhanh chóng cùng chồng nộp đơn đến Toà án yêu cầu giải quyết việc thuận tình ly hôn, theo đó hai vợ chồng thuận tình ly hôn, tài sản chung không yêu cầu giải quyết, còn việc nuôi con sau khi ly hôn hai bên đã thoả thuận giao cho H trực tiếp nuôi ba người con, trong đó có hai cháu nhỏ sinh năm 1998 và sinh năm 1999. Sau khi hết thời hạn tự nguyện nhưng H vẫn không đi chấp hành hình phạt tù nên Công an tỉnh Q đã triển khai việc bắt nhưng H đã nhanh chân rời khỏi địa phương nên Công an phải ra lệnh truy nã. Sau khi có được quyết định công nhận thuận tình ly hôn, H đã dẫn theo 3 người con và không quên mang theo quyết định này đến trình diện tại cơ quan Công an. Trước tình cảnh này cơ quan Công an đã không dỏm ra tay vì không biết giao 3 người con của H cho ai nuôi nên phải đề nghị làm thủ tục hoãn thi hành án cho H (lý do là lao động duy nhất trong gia đình).

Continue reading