THÔNG TƯ SỐ 88/2010/TT-BTC NGÀY 15 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 96/2009/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC XỬ LÝ TÀI SẢN BỊ CHÔN GIẤU, BỊ CHÌM ĐẮM ĐƯỢC PHÁT HIỆN HOẶC TÌM THẤY THUỘC ĐẤT LIỀN, CÁC HẢI ĐẢO VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM

Căn cứ Nghị định số 96/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về việc xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy thuộc đất liền, các hải đảo và vùng biển Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 96/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về việc xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy thuộc đất liền, các hải đảo và vùng biển Việt Nam (sau đây gọi chung là Nghị định số 96/2009/NĐ-CP) như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này hướng dẫn thực hiện một số nội dung sau:

a) Thành lập Hội đồng định giá, xác định giá trị tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy;

b) Thanh toán các khoản chi phí liên quan đến việc thăm dò, khai quật, trục vớt, xử lý tài sản quy định tại khoản 2 Điều 12 và Điều 18 Nghị định số 96/2009/NĐ-CP; chi thưởng cho tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 16 Nghị định số 96/2009/NĐ-CP và thanh toán phần giá trị của tài sản cho tổ chức, cá nhân ngẫu nhiên tìm thấy quy định tại Điều 17 Nghị định số 96/2009/NĐ-CP.

2. Trường hợp Điều ước quốc tế về xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định tại Thông tư này thì thực hiện theo Điều ước quốc tế đó.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân phát hiện hoặc tìm thấy tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm.

2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy.

Continue reading

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH CÒN BẤT CẬP

NGUYỄN MAI

Thành lập doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu để đầu tư, phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên người dân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các quy định về đăng ký kinh doanh.

Vốn pháp định còn hình thức

Điều 5 Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh, trong đó có quy định về vốn pháp định. Theo đó, có khoảng 16 ngành nghề kinh doanh yêu cầu phải có vốn pháp định. Tuy nhiên, Nghị định 139 không quy định rõ trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền xác định về vốn pháp định. Trên thực tế, việc xác định vốn pháp định thường được thực hiện bởi ngân hàng trên cơ sở một khoản tiền nhà đầu tư gửi vào. Luật Doanh nghiệp, Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Nghị định 88/2006/NĐ-CP hướng dẫn thủ tục đăng ký kinh doanh cũng không hướng dẫn việc chứng minh vốn pháp định. Nội dung này quy định chung chung “văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”, nhưng cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền, văn bản xác nhận ra sao thì không cụ thể. Do đó, nhiều nhà đầu tư cho rằng, việc xác nhận vốn pháp định như hiện nay là hình thức, nhưng lại gây khó khăn cho doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý cũng không kiểm soát được việc xác nhận có thực chất và doanh nghiệp đó có vốn pháp định hay không.

Chứng chỉ hành nghề chưa phù hợp

Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định: “Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của Giám đốc (Tổng giám đốc) và cá nhân khác quy định tại khoản 13 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề”. Theo quy định hiện hành, hiện có khoảng 14 ngành nghề yêu cầu phải có chứng chỉ. Một số ngành nghề yêu cầu giám đốc (hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh) phải có chứng chỉ hành nghề; ngành nghề khác thì chỉ yêu cầu chứng chỉ của người trực tiếp hoặc phụ trách hoạt động đó. Quy định này không phù hợp với thực tế, bởi Giám đốc là người quản lý chung, điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Đối với hoạt động chuyên môn, doanh nghiệp có thể đi thuê nhân viên quản lý có đủ trình độ phụ trách và quản lý lĩnh vực kinh doanh tương ứng. Mặt khác, trong trường hợp công ty kinh doanh nhiều lĩnh vực thì một Giám đốc không thể có nhiều chứng chỉ hành nghề. Việc yêu cầu này chỉ có ý nghĩa về mặt hình thức vì trên thực tế, khi thành lập doanh nghiệp hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định phải có chứng chỉ hành nghề, đa số chủ sở hữu “mượn” chứng chỉ để hợp pháp hóa về mặt thủ tục. Ngoài ra, những cá nhân có chứng chỉ hành nghề xét về mặt pháp lý chỉ là người lao động của doanh nghiệp, hợp đồng lao động với doanh nghiệp có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào, cơ quan đăng ký kinh doanh không thể kiểm soát được.

Continue reading

MỘT DẠNG VI PHẠM PHỔ BIẾN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

PHẠM DÂN

Theo quy định tại Điều 4 và 5 Luật Thi hành án dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; trong quá trình tổ chức thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong thực tế, các quy định này không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm túc.

Khi thụ lý, giải quyết các đơn khởi kiện tranh chấp về quan hệ vay mượn, mua bán, tặng cho tài sản (tiền, vàng hoặc lợi ích vật chất khác), Tòa án thường phải tiến hành hòa giải rất nhiều lần, chủ yếu thuyết phục, động viên các bên thống nhất với nhau về cách thức, phương pháp và thời gian trả nợ nhằm giảm bớt sự hao tốn về thời gian và công sức. Trong các buổi hòa giải, nguyên đơn bao giờ cũng đưa ra yêu cầu trả nhanh và phải trả một lần; ngược lại bị đơn thường cố “kèo nài” được trả chậm, trả nhiều lần, làm cho không khí hòa giải diễn ra căng thẳng. Tuy nhiên, nếu các bên đều thể hiện thiện chí của mình thì cách thức, phương pháp trả nợ cũng có thể được thống nhất một cách nhanh chóng. Việc thỏa thuận này được pháp luật tôn trọng, dựa trên nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận” theo quy định của Bộ luật Dân sự và không trái với đạo đức xã hội. Tuy nhiên, thỏa thuận trả như thế nào, bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu… thì Tòa án phải ban hành quyết định (có giá trị như một bản án), trên cơ sở nội dung các bên đã thống nhất trong biên bản hòa giải. Khi yêu cầu của mỗi bên không được đáp ứng thì Tòa án mới quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Bản án Tòa tuyên trong trường hợp này với tinh thần buộc bị đơn phải trả nợ một lần; các quyết định công nhận có ghi rõ thời gian, số tiền phải trả kèm theo các điều kiện khác theo thoả thuận. Luật Dân sự còn quy định, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì ngoài việc có nghĩa vụ trả nợ gốc còn phải chịu lãi suất ngân hàng theo từng thời điểm, tương ứng với thời gian chậm thanh toán.

Continue reading

CÁC NƯỚC XUNG QUANH BIỂN ĐÔNG VÀ VẤN ĐỀ TRÌNH HỒ SƠ RANH GIỚI NGOÀI THỀM LỤC ĐỊA

PGS.TS. NGUYỄN HỒNG THAO – Đại học Quốc gia Hà Nội

Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) đã có hiệu lực được 15 năm (1994-2009). Theo các điều khoản của UNCLOS, mỗi quốc gia ven biển (QGVB) có quyền có lãnh hải 12 hải lý, đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa. Điều 76, khoản 8 của UNCLOS quy định: “QGVB thông báo những thông tin về các ranh giới thềm lục địa của mình, khi thềm lục địa đó mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, cho Uỷ ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) được thành lập theo Phụ lục II, trên cơ sở sự đại diện công bằng về địa lý. CLCS gửi cho các QGVB những kiến nghị về các vấn đề liên quan đến việc ấn định ranh giới ngoài thềm lục địa của họ. Các ranh giới do một quốc gia ven biển ấn định trên cơ sở các kiến nghị đó là dứt khoát và có tính chất bắt buộc”.

Thời hạn trình CLCS là 10 năm kể từ ngày Công ước UNCLOS có hiệu lực với quốc gia thành viên (Phụ lục II, điều 4 UNCLOS). Tuy nhiên thời hạn cuối cùng đối với các quốc gia ven biển thành viên của Công ước đã được ấn định là 13/5/2009 bằng Quyết định ngày 29/5/2001 (SPLOS/72) được thông qua trong phiên họp lần thứ 11 của các quốc gia thành viên Công ước Luật biển. Tới ngày đó, các quốc gia phải lựa chọn một trong ba khả năng: 1) trình hồ sơ cuối cùng về ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 M (dặm) tính từ đường cơ sở cho CLCS. Một quốc gia có thể trình hồ sơ toàn thể hay một phần. Quốc gia có thể trình một hoặc nhiều hồ sơ từng phần thay cho một hồ sơ toàn thể cho cả vùng biển. Hai hay nhiều quốc gia có thể trình chung một hồ sơ theo Mục 4 Phụ lục I Quy định thủ tục của CLCS; 2) Trình Tổng thư ký các thông tin ban đầu về ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 M và bản mô tả tình hình chuẩn bị và ngày dự kiến trình hồ sơ phù hợp với các yêu cầu của điều 76 của Công ước và với Quy định thủ tục và hướng dẫn khoa học và kỹ thuật của CLCS; 3) Bảo lưu các quyền của mình về thềm lục địa bằng cách phản đối các hồ sơ đã được trình. Quốc gia nào không tiến hành bất kỳ hành động nào nói trên sẽ được coi là không quan tâm tới việc mở rộng thềm lục địa ra ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở của họ.

Theo Công ước LHQ về Luật biển 1982 (UNCLOS) mỗi nước ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý tính từ đường cơ sở của nước đó. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có đặc quyền khai thác kinh tế đối với biển và đáy biển.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NHIỀU QUI ĐỊNH “TRÓI TAY” TÒA

THANH TÙNG – HỒNG TÚ

Ngoài những vướng mắc như tòa có nên công nhận việc hòa giải tiền tố tụng, đương sự được kiện ở đâu…, nhiều vấn đề khác cũng được các thẩm phán nêu ra trong thực tiễn xét xử án thương mại.

Theo Chánh án TAND tỉnh Sóc Trăng Dương Công Lập, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện đang có nhiều quy định làm khó tòa.

Luật làm khó tòa

Chẳng hạn, luật quy định chỉ có thể xét xử vắng mặt sau khi tòa phải tống đạt hợp lệ hai lần cho đương sự. Điều này làm cho đương sự có thói quen là chờ đến… lần triệu tập thứ hai mới chịu có mặt.

Phó Chánh án TAND TP.HCM Trần Văn Sự nói nên bỏ hẳn quy định triệu tập hợp lệ hai lần. Nếu các tòa đã làm tròn trách nhiệm tống đạt hợp lệ đến đương sự mà đương sự vẫn không tới (trừ trường hợp có lý do chính đáng) thì tòa giải quyết vắng mặt luôn. Có như vậy thì mới mong nâng cao tinh thần hợp tác của đương sự.

Ngoài ra, thực tế hiện nay có nhiều trường hợp buộc phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giám định chất lượng công trình xây dựng, giám định giá, giám định thiệt hại… nhưng luật chưa quy định. Do đó, tới đây những trường hợp như vậy cần phải sớm đưa vào luật.

Sửa việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Nhiều thẩm phán còn băn khoăn rằng quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời còn những điểm chưa hợp lý.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 71/2010/NĐ-CP NGÀY 23 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT NHÀ Ở

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Luật số 38/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung về sở hữu nhà ở, phát triển nhà ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở quy định tại Luật Nhà ở.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

1. Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển nhà ở tại Việt Nam;

2. Tổ chức, cá nhân sở hữu nhà ở, sử dụng nhà ở và tham gia giao dịch về nhà ở tại Việt Nam;

3. Cơ quan quản lý nhà nước các cấp về lĩnh vực nhà ở;

4. Tổ chức, cá nhân không thuộc diện quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này nhưng có các hoạt động liên quan đến lĩnh vực nhà ở.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2079/TCT-TNCN NGÀY 15 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Kính gửi:

Công ty Cổ phần Tư vấn thuế Việt Nam (VinaTAX )

Trả lời công văn số 08/CV-VinaTAX – HN ngày 31/03/2010 của VinaTAX về việc chính sách thuế TNCN đối với khoản lợi nhuận chia cho thành viên góp vốn của Công ty TNHH và thu nhập của cá nhân hành nghề độc lập, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Chính sách thuế TNCN đối với khoản lợi nhuận Công ty TNHH chia cho các thành viên góp vốn.

– Tại điểm 3.3, khoản 3, mục II, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính thì thu nhập chịu thuế TNCN từ đầu tư vốn bao gồm: “ Lợi tức nhận được do tham gia góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh, hợp tác xã, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và các hình thức kinh doanh khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã.”

– Tại điểm 1.3, khoản 1, mục II, phần B, Thông tư 84/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính thì: “ Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế”.

Căn cứ hướng dẫn nêu trên, cá nhân nhận được thu nhập từ lợi nhuận được chia do tham gia góp vốn vào công ty TNHH là thu nhập chịu thuế TNCN.

Nếu công ty chưa có quyết định chia lợi nhuận cho các thành viên góp vốn thì chưa phải kê khai nộp thuế TNCN.

Trường hợp thành viên góp vốn có tạm ứng tiền hoặc vay tiền của công ty TNHH thì các thành viên có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho công ty. Khoản tiền tạm ứng trước hoặc vay và trả lãi vay không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật thuế TNCN.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 15/2010/TT-NHNN NGÀY 16 THÁNG 06 NĂM 2010 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH QUY MÔ NHỎ

 Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH11 năm 2003;
Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09/3/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam và Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007 sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định số 28/2005/NĐ-CP;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ như sau:

Chương 1.

CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Tổ chức tài chính quy mô nhỏ hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là tổ chức tài chính quy mô nhỏ) phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay theo quy định tại Thông tư này.

2. Việc trích lập dự phòng và sử dụng quỹ dự phòng tài chính thực hiện theo quy định của pháp luật về chế độ tài chính đối với các tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Phân loại nợ là việc sắp xếp các khoản nợ gốc vào các nhóm nợ quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư này.

2. Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.

3. Nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư này.

Continue reading

MỘT SỐ NHẬN XÉT PHẢN BIỆN VỀ DỰ THẢO LUẬT CẠNH TRANH (DỰ THẢO 09) NĂM 2004

Tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2004 đang được xây dựng ở Dự thảo 9. Một số thông tin không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Song có rất nhiều thông tin còn hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu pháp luật.

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Do thời gian rất hạn chế, những nhận xét có tính chất phản biện Dự thảo Luật Cạnh Tranh của tôi dưới đây chủ yếu tập trung vào những vấn đề có tính nguyên tắc có khả năng ảnh hưởng rất tiêu cực đến quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và sẽ gây ra những trở ngại lớn trong quá trình thực thi Luật Cạnh Tranh dẫn đến những hậu qủa đáng tiếc cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới của chúng ta.

Trước mắt, tôi cũng sẽ chỉ tập trung nhận xét về Luật Chống Cạnh Tranh Không Lành Mạnh do tính chất quyết định của nó trong việc bảo đảm quyền tự do hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia thị trường, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và truyền thống đạo lý của nước ta.

Những phân tích phản biện sau đây được định hướng theo tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu mà Tổ chức Thương mại Thế giới WTO yêu cầu các nước thành viên phải thực hiện.

A. TIÊU CHUẨN PHÁP LÝ TỐI THIỂU CỦA WTO.

I. Những vấn đề có tính nguyên tắc.

Với mục đích thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu, WTO qui định khung pháp lý- có tính chất định chế chung- cho các nước thành viên trong hoạt động thương mại giữa họ ( Điều II khoản 1 WTO). Tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu này của WTO được xây dựng trên hai trụ cột có tính chất bắt buộc đối với mỗi nước thành viên là:

– Nhà nước pháp quyền.

– Hệ thống luật pháp ổn định, minh bạch, có tính dự đoán và có khả năng thực thi.

1.Nhà nước pháp quyền:

a) Nguyên tắc chung:

Mọi hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội đều phải gắn liền và tuân theo pháp luật, bảo đảm công lý.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1065/TTg – ĐMDN NGÀY 23 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

Kính gửi:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định nói trên có một số vướng mắc, Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thực hiện một số điểm sau đây:

1. Về tên gọi và chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

Về tên doanh nghiệp: công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, tổng công ty thuộc tập đoàn kinh tế khi chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được giữ nguyên tên như khi là công ty nhà nước.

Trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bổ sung thêm loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn.

Về chủ sở hữu: công ty mẹ tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập thì trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi chủ sở hữu là Nhà nước.

2. Về Kiểm soát viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

a) Kiểm soát viên phải có các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 71 Luật Doanh nghiệp và do chủ sở hữu đã được quy định tại Điều 3 Nghị định số 25/2010/NĐ-CP bổ nhiệm, căn cứ vào từng doanh nghiệp và lĩnh vực chủ sở hữu cần giám sát mà cử Kiểm soát viên có trình độ chuyên môn thích hợp nhưng ít nhất phải có một Kiểm soát viên chuyên trách về lĩnh vực tài chính kế toán doanh nghiệp.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/2010/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ AN TOÀN SINH HỌC ĐỐI VỚI SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN, MẪU VẬT DI TRUYỀN VÀ SẢN PHẨM CỦA SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Đa dạng sinh học ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen.

Việc quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen sử dụng làm dược phẩm được thực hiện theo quy định của pháp luật về dược phẩm.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi tắt là tổ chức, cá nhân) có hoạt động liên quan đến sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Giấy chứng nhận an toàn sinh học là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để chứng nhận sinh vật biến đổi gen an toàn đối với môi trường và đa dạng sinh học và được phép phóng thích vào môi trường trong các điều kiện cụ thể.

2. Sản phẩm của sinh vật biến đổi gen là sản phẩm có chứa toàn bộ hoặc một phần thành phần có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen, bao gồm cả mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen không có khả năng tự tạo cá thể mới trong điều kiện tự nhiên.

Continue reading

TRAO ĐỔI VỀ GÓP VỐN BẰNG THƯƠNG HIỆU

LÝ QUÍ TRUNG

Trước bài viết này, đã có nhiều bài viết khác trong và ngoài SAGA, của nhiều nhà nghiên cứu, luật sư,… về vấn đề thương hiệu và sử dụng thương hiệu làm vốn góp kinh doanh. Với chuyên môn của mình, tôi cũng xin đóng góp một số nhận định về vấn đề này.

Thứ nhất, xin khẳng định ngay các Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành không hề ngăn cấm việc góp vốn bằng nhãn hiệu (hay “thương hiệu” như các doanh nghiệp thường gọi). Chuẩn mực kế toán chỉ hướng dẫn phương pháp kế toán để phản ánh các nghiệp vụ phát sinh chứ không quy định những nghiệp vụ nào doanh nghiệp được phép tiến hành (và đương nhiên không cấm doanh nghiệp góp vốn bằng nhãn hiệu).

Có tác giả đã viện dẫn quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 11/2005/NĐ-CP để chứng minh rằng “nhãn hiệu” đủ điều kiện là tài sản, qua đó cho rằng quy định của Chuẩn mực kế toán hiện hành là không hợp lý khi không cho phép ghi nhận thương hiệu (tạo ra từ nộ bộ doanh nghiệp) là tài sản cố định vô hình. Có lẽ tác giả đã nhầm lẫn giữa tiêu chuẩn để xác định một khoản mục thỏa mãn định nghĩa tài sản và tiêu chuẩn để ghi nhận tài sản đó trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Chuẩn mực kế toán hiện hành không hề bác bỏ sự tồn tại của tài sản cố định vô hình là nhãn hiệu. Trên thực tế đối chiếu với Chuẩn mực kế toán số 04 – TSCĐ vô hình và Chuẩn mực Kế toán số 01 – Chuẩn mực chung thì “nhãn hiệu” hoàn toàn thoả mãn định nghĩa của một tài sản (doanh nghiệp kiểm soát được – nếu đã đăng ký bảo hộ; có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai; hình thành từ các giao dịch trong quá khứ). Continue reading

CẢNH GIÁC CÁC HỢP ĐỒNG TẠM TÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐỊA ỐC

LS. NGUYN ĐĂNG LIÊM – Đoàn Lut sư TPHCM

Vừa qua một thân chủ của tôi là giảng viên đại học đề nghị luật sư của VPLS Quang Trung tư vấn về “hợp đồng mua bán nhà của một dự án” ở địa bàn P.11, Q.3, TP.HCM mà hiện nay chủ đầu tư dự án đang có nhiều văn bản thúc hối anh ta phải nhanh chóng “chia sẻ” chi phí phát sinh lên đến 50% trị giá căn hộ đã đặt mua theo hợp đồng từ tháng 10/2003, nếu không sẽ hoàn trả tiền đặt cọc đã trên 50% trị giá căn hộ.

Qua nghiên cứu nội dung hợp đồng, cho thấy bên A (chủ đầu tư) rào đón rất chặt chẽ bằng các điều khoản như: Điều 2: về giá trị hợp đồng tạm tính  của căn hộ đặt mua là 353.600.136 đồng. Điều 5: về trách nhiệm bên B (tức khách hàng, người đặt mua căn hộ chung cư) nếu không thực hiện đúng hợp đồng, không đóng đủ tiền theo từng giai đoạn, thì bên A sẽ đương nhiên hủy bỏ hợp đồng và trả lại tiền đã nộp của bên B mà không tính lãi. Trong khi phần qui định về trách nhiệm của bên A (chủ đầu tư) lại rất đơn giản là: “giao cho bên B toàn bộ hồ sơ hợp lệ về nhà ở” (Điều 4), thậm chí còn lẫn lộn giữa trách nhiệm và quyền khi qui định: “không chấp nhận việc trả lại nhà ở sau khi bên B đã nhận” (ở Điều 4 khoản 2). Hậu quả của việc qui định ràng buộc trách nhiệm bên A không rõ ràng, chặt chẽ dẫn đến chủ đầu tư (bên A) đòi bên B phải đóng bổ sung thêm đến 189.400.000đ (trên 50% trị giá căn hộ tạm tính ban đầu) với nhiều lý do được nại ra (trong đó có không ít lý do không chính đáng, chẳng hợp lý chút nào) như: do công ty (bên A) phải làm nghĩa vụ tài chính với thành phố (nộp tiền sử dụng đất), do phải chuẩn bị công tác đầu tư (khảo sát, thiết kế, giải phóng mặt bằng vv…), do mua sắm vật tư phục vụ thi công chung cư, do giá cả vật tư, nguyên liệu biến động tăng cao gấp 3 lần so với năm 2003, do trượt giá nhân công, do lãi vay ngân hàng hàng tháng, do lạm phát. Đúng là có những lý do bên A nại ra rất  “kỳ cục” nếu nhìn ở góc độ nhà đầu tư, chủ dự án. Nhưng khách hàng đành “ngậm bồ hòn”, bị bắt buộc, miễn cưỡng phải mở hầu bao chi thêm, nếu không sẽ bị hoàn trả lại tiền không được tính lãi. Rõ ràng bên B (khách hàng cần nhà để ổn định cư trú) đã gánh hết hậu quả từ việc đàm phán thiếu bình đẳng và quá hời hợt trong đàm phán, ký kết hợp đồng với bên A ngay từ đầu. Bên A đã cầm đằng cán, còn bên B nắm phải đằng lưỡi với quá nhiều rủi ro. Một dự thảo hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng đất xây dựng trường học khác (do anh bạn nhà giáo nhờ tư vấn), bên A (chủ dự án) còn chủ động đưa ra điều kiện tạm tính cả về diện tích chuyển nhượng và điều kiện bên B phải thanh toán chặt chẽ làm 4 đợt trong thời gian có 2 tháng (hai tháng) mà không hề ràng buộc mỗi đợt thanh toán, bên A phải đáp ứng cụ thể về tiến độ bàn giao quyền sử dụng đất và đầu tư hạ tầng kỹ thuật như thế nào. Continue reading

TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ

TS.LS. PHAN TRUNG HOÀI – Đoàn Luật sư TPHCM

I/- Khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết về việc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư được quy định trong khoản 5 điều 5 Luật Luật sư năm 2006 là luật sư phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.

Các thành viên của tổ chức hành nghề luật sư phải chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư. Khoản 5 và 6 điều 40 Luật Luật sư quy định, một trong những nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư là phải bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác và phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của pháp luật. Liên quan việc hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, điều 38 và 39 Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22-7-2003 của Chính phủ quy định tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất do lỗi của luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng và có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình hành nghề tại Việt Nam.
Nhìn từ khía cạnh kinh doanh bảo hiểm, đó là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Sự kiện bảo hiểm được hiểu là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Việt Nam đã ban hành Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ 1-4-2001, nhưng chưa có các quy định pháp lý điều chỉnh đối với loại hình nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư. Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ UY TÍN BỊ XÂM PHẠM: CỞI ĐỒ, ĐI KIỆN . . .

LÊ NGA

TAND Q.12, TP.HCM vừa tiếp nhận vụ kiện đòi bồi thường khá hy hữu và đây là lần đầu tiên một siêu thị bị kiện vì lý do đã đi quá giới hạn trong việc kiểm tra hàng hóa, xúc phạm đến danh dự khách hàng.

Tuột áo, cởi quần giữa đám đông

Nguyên đơn trong vụ kiện này là bà Nguyễn Thị Kim Định, Giám đốc Công ty TNHH TM XD DV Thủy Tiên (ngụ quận Gò Vấp, TP.HCM) và bị đơn là siêu thị Metro Hiệp Phú (phường Tân Thới Hiệp, Q.12, TP.HCM).

Theo đơn khởi kiện, bà Định trình bày chiều ngày 18.5, bà đến siêu thị Metro Hiệp Phú mua hàng. Sau khi hàng được đẩy ra cửa an ninh thì máy soi chiếu phát ra tín hiệu. Căn cứ vào đó bảo vệ siêu thị đã xác định bà Định là đối tượng bị kiểm tra. Ngay sau đó nhân viên bảo vệ yêu cầu khám xét người bà tại nơi công cộng. Bà Định từ chối, đề nghị phải có phòng riêng và lập biên bản kèm theo sự chứng kiến của đại diện BGĐ siêu thị.

Sau khoảng 20 phút không thấy có ai đến để làm việc, bà Định bỏ về. Lúc này, lực lượng bảo vệ giằng co làm cho chiếc áo đang mặc bị tuột khỏi người của bà Định. Bức xúc và muốn chứng minh mình không lấy cắp bất kỳ hàng hóa gì của siêu thị nên bà Định cởi nốt chiếc quần dài ra để bảo vệ kiểm tra. Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN GIÁM HỘ: GIÀNH GIẬT NUÔI NGƯỜI TÂM THẦN

TRUNG TÍNH

Một bên ngờ rằng bên kia giành nuôi ông T. để giành thừa kế. Buổi hòa giải diễn ra cả nửa ngày trời và chỉ toàn những lời đấu khẩu nặng nhẹ nhau của hai bên, không bên nào chịu nhượng bộ bên nào.

Mẹ nuôi mất chưa được bao lâu thì ông T. (bị bệnh tâm thần) lại rơi vào hoàn cảnh trớ trêu: Chị của mẹ nuôi và em ruột đều mong muốn được nuôi dưỡng ông. Hòa giải không xong, vụ việc đang có nhiều khả năng sẽ ra đến tòa…

Cô, cháu giành nhau

Hơn 40 năm trước, ông T. được mẹ nuôi (cũng là cô ruột) đưa về chăm sóc, nuôi nấng. Bà đã chạy khắp nơi chữa trị căn bệnh thiểu năng trí não cho ông nhưng đành bất lực. Đầu năm nay, biết mình không qua khỏi, bà đã nhờ một người chị giúp mình nuôi ông T. Thế rồi khi bà mất đi, một người xưng là em của ông T. đã đến xin rước ông về nuôi dưỡng, điều trị.

Người cô đang nuôi ông T. phản đối kịch liệt nên mới đây vụ việc được đưa ra ấp hòa giải. Tại đây, người em ông T. bảo vì chiến tranh khắc nghiệt nên mẹ đành phải nhờ cô nuôi em. Nay cô mất, là tình cảm ruột thịt nên bà có quyền đưa ông về chăm dưỡng… Continue reading

NÔNG DÂN VÀ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NHÌN TỪ SẢN XUẤT THỊ TRƯỜNG

GS.TS. VÕ TÒNG XUÂN

Năm 2009, cả nước xuất khẩu được 6,052 triệu tấn gạo, tăng 29,35% so năm 2008, là năm xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay, tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,463 tỉ USD. Nhưng làm thế nào để người trồng lúa có lãi, nâng cao thu nhập, ổn định được cuộc sống, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Từ đó, dưới góc nhìn từ sản xuất – thị trường vấn đề đặt ra với ngành nông nghiệp phải đổi mới như thế nào và cả người nông dân cũng cần đổi mới ra sao để tăng tính cạnh tranh? Làm cách nào để đưa nông nghiệp nước ta tăng trưởng nhanh và hiện đại hơn các nước trong khu vực?

Thành tựu trong nông nghiệp và đôi điều trăn trở về đời sống nông dân

Từ tháng 9-1989, Việt Nam đã tham gia trở lại vào thị trường xuất khẩu gạo và từ đó đến nay lượng gạo xuất đã tăng dần từ mức 2 triệu lên hơn 6 triệu tấn, nước ta được xếp vào hàng quốc gia thứ hai xuất khẩu nhiều gạo nhất thế giới. Nhiều nước đã ngạc nhiên trước sự kiện này, nhất là các nước đang bao vây, cấm vận kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ. Khi đó rất nhiều người đặt câu hỏi: làm sao Việt Nam đã xuất khẩu được trên 1,6 triệu tấn gạo khi mà hai năm trước đó Chính phủ Việt Nam còn kêu gọi quốc tế cứu trợ lương thực cho đồng bào một số tỉnh Miền Bắc và Miền Trung? Ngoài các lý do như nông dân đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật và một số biện pháp liên hoàn như: giống mới năng suất cao, đẩy mạnh làm thủy lợi mở rộng diện tích cao sản, tăng thêm phân bón cùng các vật tư nông nghiệp khác, phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng,… thì lý do cơ bản, quyết định nhất là sự đổi mới chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước đối với nông nghiệp. Đó là chính sách giao quyền sử dụng ổn định và lâu dài, đối với đất canh tác thông qua cơ chế khoán 10 đến từng hộ gia đình nông dân, chính sách về giá nông sản và các vật tư nông nghiệp, ổn định giá trị của đồng tiền Việt Nam, v.v..

Mặc dù sự đổi mới đã trải qua hơn hai thập niên, nhưng người nông dân, những người trực tiếp làm ra hạt thóc, chiếm gần 80% dân số cả nước, đến nay có mức thu nhập vẫn đứng vào hàng thấp nhất so với những người lao động trong các thành phần kinh tế khác. Thực tế cho thấy, dù giá lúa của nông dân được Nhà nước bảo hộ, thì mức thu nhập của nông dân Việt Nam so với nông dân nước láng giềng Thái Lan vẫn chưa bằng nửa mức thu nhập của họ (600 USD/người/năm). Chừng nào sức mua của nông dân ta còn thấp, thì chừng đó công nghiệp chưa phát triển mạnh được. Mặt khác, ngay trong trường hợp giá lúa còn thấp như thế mà vẫn còn một số những người không trực tiếp sản xuất lúa gạo, không dễ dàng trang trải ổn định khẩu phần lương thực hằng ngày. Thêm vào đó, từ năm 2007 Việt Nam đã gia nhập vào cộng đồng thị trường quốc tế, hạt gạo Việt Nam phải cạnh tranh rất mãnh liệt với hạt gạo Thái Lan, ấn độ, Pa-ki-xtan. Từ đó, vấn đề đặt ra “nông dân và nông nghiệp Việt Nam nhìn từ cơ chế thị trường” đòi hỏi phải đổi mới cơ chế điều hành xuất khẩu theo hướng “tiêu thụ hết lúa hàng hóa theo đúng giá thị trường thế giới cho nông dân”; và cả người nông dân phải đổi mới như thế nào để sản xuất ra “cái mà thị trường cần”, chứ không chỉ là độc canh cây lúa.

Continue reading

ĐẠO LUẬT THỐNG NHẤT VỀ HÔN ƯỚC CỦA HOA KỲ

Bản dịch của PHẠM LINH NHÂM – Sinh viên Khóa 31, Đại học Luật Hà Nội

Điều 1. Định nghĩa

Trong đạo luật này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

(1)  “Hôn ước” là thỏa thuận giữa hai người sắp kết hôn được lập ra  trong thời gian trước khi kết hôn và phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn nhân.

(2)  “Tài sản” là khoản lợi ích, ở hiện tại hay trong tương lai, hợp pháp hoặc hợp lệ, tài sản riêng hay nằm trong tài sản chung với người khác, bất động sản hay tài sản của cá nhân, bao gồm cả thu nhập do lao động và các khoản thu nhập khác.

Điều 2. Hình thức

Hôn ước phải được làm bằng văn bản và được hai bên kí vào.  Hôn ước có thể có hiệu lực thi hành mà không cần có thêm bất cứ một sự xem xét nào khác.

Điều 3. Nội dung

(a)  Các bên tham gia lập hôn ước có thể thỏa thuận những nội dung sau:

(1)  Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đổi với tài sản của một bên hoặc cả hai bên ở bất kì thời điểm hay địa điểm nào do các bên sẵn có hoặc thu nhập được;

(2)  Quyền mua bán, sử dụng, chuyển nhượng, trao đổi, từ bỏ, cho thuê, tiêu dùng, dùng làm tài sản bảo đảm, thế chấp, cầm cố, tự định đoạt hay các quyền quản lí, kiểm soát khác đối với tài sản;

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ HÀNG DỆT MAY TRONG WTO VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ VŨ HÀ – Khoa Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế,  Đại học Quốc gia Hà Nội

TÓM TẮT. Dệt may là một ngành hàng quan trọng của Việt Nam trong việc giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho người dân, song mặt hàng này lại chịu sự cạnh tranh rất lớn và thường xảy  ra  tranh  chấp. Do  vậy,  nghiên  cứu  các  tranh  chấp  về  hàng  dệt may  trong WTO  và  đưa  ra  các  khuyến nghị cho Việt Nam là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước  nguy cơ bị kiện bán phá giá hàng dệt may và cũng đang chịu tác động của việc bán phá giá hàng  dệt may của Trung Quốc vào  thị  trường nội địa.

Bài viết tổng kết về các  tranh chấp xảy  ra  trong WTO về hàng dệt may và trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam như: chủ động  khởi kiện  nếu  thấy hàng dệt may bị  bán phá  giá  trên  thị  trường  nội địa,  tích cực  theo kiện, giải  quyết tranh chấp không thông qua Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm; nghiêm chỉnh thực hiện  các phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO.

1. Tranh chấp về hàng dệt may trong WTO

Tính đến ngày 30/12/2008, theo số liệu của Tổ  chức  Thương mại  Thế  giới  (WTO)  thì  có 390  vụ  tranh  chấp  thương mại khác  nhau diễn ra tại WTO. Các vụ tranh chấp này có liên quan đến nhiều  lĩnh vực  trong đó chủ yếu  tập  trung  vào các vấn đề và mặt hàng như: các biện pháp chống  bán  phá  giá;  tự  vệ;  thép;  các  sản  phẩm nông nghiệp; TRIPs; các biện pháp đối kháng; dệt may; các biện pháp nhập khẩu; xe ô tô; bằng phát minh… (xem biểu đồ 1). Trong các vấn đề và lĩnh vực tranh chấp tại WTO, thì dệt may là một lĩnh vực xảy ra nhiều tranh  chấp  (đứng  thứ  7  trong  số  các  vấn  đề  tranh chấp) và là mặt hàng có nhiều tranh chấp nhất  (chỉ  đứng  sau mặt  hàng  thép  và  các  sản phẩm nông nghiệp). Tính đến ngày 30/12/2008, đã có 19 vụ  tranh chấp  liên quan đến hàng dệt may (xem bảng 1).

Các tranh chấp về dệt may  trong WTO xảy ra nhiều nhất là giữa nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển (10 vụ), tiếp đến là giữa các nước đang phát  triển với nhau  (6 vụ) và cuối cùng là giữa các nước phát triển (3 vụ). Trong đó, Mỹ là nước bị kiện nhiều nhất (7 vụ) và Ấn Độ là nước đi khởi kiện nhiều nhất (6 vụ) (xem biểu đồ 2). Bên  cạnh  đó,  các  tranh  chấp  về  hàng  dệt may chủ yếu diễn ra đối với các sản phẩm như: dệt may và các sản phẩm trang trí trên quần áo (5  vụ),  vải  cotton  (5  vụ),  dệt may  và  các  sản phẩm  dệt  (4  vụ).  Ngoài  ra,  còn  có một  số  vụ liên quan đến các  sản phẩm cụ  thể như: áo  sơ mi, áo khoác  len, chăn, ga  trải giường, đồ đi ở chân (tất), đồ lót, sợi cotton trải…

Continue reading