CÔNG VĂN SỐ 2012/LĐTBXH-BHXH NGÀY 21 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ VIỆC KHÁC NHAU GIỮA KHOẢN 4 ĐIỀU 139 LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ ĐIỂM 8 KHOẢN 11 THÔNG TƯ SỐ 19/2008/TT-BLĐTBXH NGÀY 23/9/2008

Kính gửi:

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trả lời công văn số 10/TGPL ngày 08/3/2010 của quý Trung tâm về việc khác nhau giữa Khoản 4 Điều 139 Luật Bảo hiểm xã hội và điểm 8 Khoản 11 Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23/9/2008, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Từ ngày 01/01/1995 Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành, theo đó chính sách bảo hiểm xã hội được thực hiện theo cơ chế mới, cơ chế có đóng-có hưởng. Trước năm 1995, chính sách bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với cán bộ, công chức, công nhân, viên chức Nhà nước. Người lao động làm việc cho Nhà nước, được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội mà không phải đóng góp. Thời gian tính hưởng bảo hiểm xã hội là thời gian công tác liên tục trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của Nhà nước. Khi người lao động nghỉ việc (không phải do bị phạt tù, bị buộc thôi việc hoặc tự ý bỏ việc) đều được giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội hoặc chế độ trợ cấp thôi việc, theo quy định của chính sách Nhà nước thời kỳ đó.

Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp người lao động nghỉ việc từ trước ngày 01/01/1995 với nhiều lý do khác nhau như: do chờ sắp xếp công việc, chờ giải quyết chế độ, do ốm đau dài ngày, nên đã không tiếp tục làm việc, mà chưa được giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp thôi việc một lần.

Để đảm bảo quyền lợi đối với người lao động, từ năm 1996 đến nay, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động có thời gian làm việc trong khu vực Nhà nước mà nghỉ việc trước ngày 01/01/1995, cụ thể:

– Công văn số 843/LĐTBXH ngày 25/3/1996 hướng dẫn giải quyết tồn đọng về bảo hiểm xã hội trong giai đoạn trước khi Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành (thời gian thực hiện giải quyết tồn đọng từ năm 1996 đến tháng 10/2001 mới kết thúc).

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2011/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 21 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ MUA CỔ PHẦN THEO GIÁ ƯU ĐÃI TRONG DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC CHUYỂN THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN

Kính gửi:

Tổng công ty Thép Việt Nam

Trả lời công văn số 637/VNS-TCLĐ ngày 02/6/2010 của Tổng công ty Thép Việt Nam về việc xin ý kiến mua cổ phần theo giá ưu đãi, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thì người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp tại thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc trong khu vực Nhà nước với giá ưu đãi. Tuy nhiên, người lao động do Tổng công ty Thép Việt Nam cử làm đại diện phần vốn góp của Tổng công ty tại các doanh nghiệp góp vốn không có tên trong danh sách thường xuyên tại thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa Công ty mẹ – Tổng công ty nên không được hưởng chính sách mua cổ phần với giá ưu đãi theo quy định; đồng thời những lao động này cũng chưa được mua cổ phần với giá ưu đãi khi cổ phần hóa các đơn vị thành viên của Tổng công ty Thép Việt Nam.

Đến nay, Công ty mẹ – Tổng công ty Thép Việt Nam là đơn vị cuối cùng của Tổng công ty thép Việt Nam thực hiện cổ phần hóa. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho người lao động có cổ phần trong doanh nghiệp, đề nghị Tổng công ty Thép Việt Nam báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phạm Minh Huân

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: CỔ ĐÔNG KHỞI KIỆN – TRANH CHẤP MỚI, LUẬT CÒN VƯỚNG

THANH TÙNG

Nhiều vấn đề pháp lý mới mẻ liên quan đến các tranh chấp thuộc nội bộ công ty đã được các chuyên gia “chỉ mặt đặt tên”, phân tích trong một hội thảo mới đây ở Trường ĐH Luật TP.HCM. Nổi bật là vấn đề làm thế nào để cổ đông yêu cầu tòa hủy bỏ quyết định của đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Hai thẩm phán Quảng Đức Tuyên và Võ Văn Cường (Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM) đã nêu thực tiễn còn nhiều vướng mắc và được nhiều người quan tâm.

Là vụ án hay chỉ là yêu cầu?

Hai thẩm phán cho rằng nguyên nhân gốc rễ gây ra những vướng mắc trên là do cơ sở lý luận quy định không chặt, còn thiếu sót, trong khi hệ thống pháp luật doanh nghiệp chưa hoàn thiện. Còn rất nhiều vấn đề về quan niệm, khái niệm hình thức loại tranh chấp mới này chưa được các thẩm phán hiểu thống nhất để áp dụng.

Cụ thể, thực tế xét xử cho thấy các tòa, các thẩm phán đang có hai cách hiểu về yêu cầu nói trên. Một là hiểu theo nghĩa đó là vụ án kinh doanh thương mại theo khoản 3 Điều 29 BLTTDS. Hai là yêu cầu về kinh doanh thương mại theo khoản 4 Điều 30 BLTTDS.

Nếu theo quan điểm thứ nhất thì HĐXX có thể là hội đồng ba hoặc hội đồng năm, còn hiểu theo cách thứ hai thì chỉ có một thẩm phán giải quyết vụ việc. Theo thẩm phán Tuyên, tòa án phải hiểu yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ theo quan điểm thứ hai mới chính xác vì đây là loại việc dân sự.

Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các bên đương sự cũng chưa được luật quy định cụ thể. Theo khoản 1 Điều 56 BLTTDS, đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức, bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người liên quan. Nhiều chuyên gia đặt vấn đề: Vậy khi xác định yêu cầu trên là vụ việc dân sự thì khi một nhóm cổ đông là nguyên đơn kiện yêu cầu tòa hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ thì tư cách tố tụng của quyết định ĐHĐCĐ là gì? Theo thẩm phán Tuyên và Cường nên gọi nhóm cổ đông làbên yêu cầu và quyết định của ĐHĐCĐ là bên liên quan. Hai thẩm phán cho rằng luật hiện nay chưa quy định cách gọi này. Đây là những thuật ngữ mới nhưng nó khá hay và phù hợp với thực tiễn. Thẩm phán Tuyên dẫn chứng trong vụ tranh chấp tại Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết ở TP.HCM vừa qua, các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã sử dụng các thuật ngữ này và hầu hết thấy phù hợp.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

GS.TS. NGUYỄN THỊ CÀNH – THS. TRẦN HÙNG SƠN

Bài viết này giới thiệu tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại VN (bao gồm quá trình hoàn thiện khung pháp luật và thu hút đầu tư FDI), vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế thông qua các chỉ số như tăng vốn đầu tư xã hội, gia tăng sản lượng sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng việc làm và nguồn thu ngân sách quốc gia, và đặc biệt đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Phương pháp phân tích gồm mô tả thống kê mối quan hệ giữa nguồn vốn FDI và các kết quả phát triển kinh tế, và sử dụng mô hình kinh tế lượng để đo lường tác động của nguồn vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế. Nguồn số liệu sử dụng trong phân tích là số liệu thứ cấp lấy từ các báo cáo, trang Web cuả Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn 1988-2008.

1. Đôi nét về cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại VN

Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đại hội VI Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản VN năm 1986, nhiều chính sách kinh tế được thay đổi. Việc hình thành các văn bản pháp lý đã thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng. Luật đầu tư nước ngoài tại VN được ban hành vào năm 1987 là một trong những đạo luật khởi đầu cho thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường pháp lý thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào VN. Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, VN ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006) thay thế Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Luật đầu tư ra đời nhằm cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư. Luật đầu tư đã cải thiện môi trường đầu tư bằng việc đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Luật đầu tư năm 2005 đã thể hiện việc phân cấp mạnh cho các địa phương cụ thể là tăng quyền hạn cho Ủy ban Nhân dân (UBNN) tỉnh và Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao về cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch, hoặc chưa có quy hoạch, những dự án còn lại sẽ do UBND cấp tỉnh và Ban quản lý tự quyết định và cấp giấy phép đầu tư.

Continue reading

TÍNH TOÁN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương

Một trong những vấn đề khó khăn và hay gây tranh cãi trong các tranh chấp, đó là việc tính toán số tiền bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm. Để đòi bồi thường thành công, các bên cần phải lưu ý tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản.

Tranh chấp giữa một Cty Pháp (người mua) và một Cty Italia (người bán). Do hàng hóa người bán giao không phù hợp với hợp đồng, người mua hủy hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên tranh cãi về số tiền bồi thường. Tranh chấp được xét xử tại Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes (Pháp), bản án ngày 27/05/2008. Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (cụ thể là các điều 25, 35, 47, 49, 75 và 77) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Diễn biến tranh chấp

Cty Pháp đã ký với Cty Italia một số hợp đồng mua miếng lót ngực để sản xuất áo bơi với tổng số lượng là 17.600 đôi. Hàng hóa được giao đến cho một Cty Tunisie để gia công. Trong quá trình gia công, người mua phát hiện ra các miếng lót ngực không phù hợp với yêu cầu về chất lượng đã được quy định trong hợp đồng và trả lại hàng. Ngày 3/11/2003, người bán Italia đề nghị sẽ sửa chữa hàng hóa và sẽ giao hàng hóa phù hợp trong thời gian 5 tuần. Tuy vậy, người bán đã không thực hiện được việc sửa chữa hàng hóa trong thời gian nói trên. Ngày 11/12/2003, người mua tuyên bố hủy hợp đồng và đòi người bán bồi thường 32.490 eur, bao gồm 2 khoản sau:

1. Chi phí sản xuất lô áo bơi tại Tunisie từ miếng lót ngực không đạt chất lượng: 16.290 eur (1800 áo x chi phí 9,05 eur/áo)

2. Thiệt hại (do chênh lệch giá) khi mua miếng lót ngực để thay thế. Cty người mua, vào tháng 12/2003 đã phải đặt hàng mua gấp 16.200 đôi miếng lót ngực từ một nhà cung cấp T khác và vì mua gấp cũng như không có vị thế đàm phán nên phải chấp nhận mức giá cao hơn 1 eur so với mức giá trong hợp đồng, dẫn đến thiệt hại là 16.200 eur.

Người bán phản đối các khoản bồi thường nói trên và cho rằng các khoản này là không hợp lý.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG GIẢI QUYẾT LY HÔN: “TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN TRẦM TRỌNG” – KHÓ ĐỊNH LƯỢNG

HOÀNG YẾN

Mỗi ngày, các trung tâm tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình tiếp không ít người đến than khổ vì tòa không cho ly hôn.

Theo luật, muốn được giải quyết ly hôn thì tình trạng hôn nhân của họ phải trầm trọng. Tuy nhiên, thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng thì ngay chính các thẩm phán cũng còn đang mơ hồ…

Năm 2005, chị NTK từ Hải Phòng vào TP.HCM làm việc rồi kết hôn với anh NTV. Đáng buồn là cuộc sống giữa chị và gia đình chồng sau khi cưới đã không thể hòa hợp. Cha mẹ chồng luôn có lời lẽ chê bai, xúc phạm chị ăn bám nhà họ dù chị vẫn có công việc ổn định.

Muốn chia tay mà không được

Để tránh đụng chạm, nhiều lần chị K. đề nghị chồng ở riêng nhưng anh không đồng ý vì anh là con trai một. Anh lại rất được gia đình cưng chiều, có vợ rồi nhưng vẫn quen thói ỷ lại, không chịu giúp đỡ vợ bất cứ việc gì. Ngày yêu nhau, chị nghĩ sau khi cưới anh sẽ thay đổi nhưng giờ chị biết là không thể. Tệ hơn, khi anh thấy cảnh vợ và gia đình mình bất đồng, anh không chủ động cùng vợ tháo gỡ mà còn thường xuyên rong chơi, nhậu nhẹt, nhậu say về lại đánh đập chị. Gia đình chồng thấy thế cũng không hề can thiệp, có lần chị bị thương nặng, chỉ có hàng xóm đưa vào bệnh viện.

Kể trong tủi hờn, chị bảo chỉ vì thương con, yêu anh mà chị mới ráng chung sống đến giờ. Nay nhận thấy tình cảm dành cho chồng đã hết, chị không muốn tiếp tục sống những tháng ngày đen tối thêm nữa nên đã nhiều lần đề nghị chồng ký vào đơn xin ly hôn nhưng anh không chịu. Chị đơn phương nộp đơn ra TAND quận xin ly hôn. Tuy nhiên, tòa nhận định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị không trầm trọng, không cần thiết phải ly hôn nên bác đơn chị. Từ ngày tòa bác đơn, chồng chị không hề bày tỏ ý chí sẽ cải thiện tình hình để hàn gắn hôn nhân, vẫn thường thượng cẳng tay hạ cẳng chân với chị. Chị sống trong chuỗi ngày lo âu, không dám bỏ đi vì xót con thơ vừa hơn hai tuổi, còn tiếp tục nộp đơn ly hôn thì e tòa lại bác…

Continue reading

CÁC QUI ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CẤM NHẬP KHẨU, CẤM LƯU THÔNG CÁC HÀNG HÓA ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG

1. Các Điều ước quốc tế về môi trường về cấm nhập khẩu và lưu thông hàng hoá.

Cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 140 Hiệp định quốc tế về môi trường và các công cụ quốc tế về lĩnh vực môi trường, trong số đó có khoảng 20 Hiệp định có các quy định liên quan đến thương mại quốc tế. Các biện pháp môi trường trong các hiệp định môi trường quốc tế được áp dụng đối với việc vận chuyển buôn bán, trao đổi, khai thác các sản phẩm có ảnh hưởng đến môi trường như chất thải độc hại, động vật hoang dã, các nguồn gen thực động vật, các chất phá huỷ tầng ô zôn…

Những Hiệp định môi trường quốc tế có thể được phân thành 3 nhóm chính:

– Các Hiệp định kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi toàn cầu, ví dụ như Công ước Viên bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ôzôn thực hiện Công ước trên và Hiệp định về thay đổi môi trường.

– Các Hiệp định bảo vệ các chủng loại bị đe doạ, các loài chim di trú, và các loại cá và động vật biển. Ví dụ như Hiệp định về thương mại quốc tế đối với những loài có nguy cơ bị diệt chủng (CITES) và Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi. Trong số các điều khoản của các Hiệp định này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loại động vật hoang dã và cá.

– Các Hiệp định về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm và các chất nguy hiểm. Ví dụ là Hiệp định Basel về Quản lý di chuyển và thải các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới, Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế.

Một số Công ước cụ thể:

– Công ước quốc tế về buôn bán các loại động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES);

– Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm;

– Công ước đa dạng hoá sinh học (CBD);

– Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn;

– Công ước An toàn sinh học;

– Công ước Quốc tế về Bảo vệ thực vật;

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1791/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 7 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ RÀ SOÁT, ĐIỀU CHỈNH PHÂN VÙNG ĐỊA BÀN ÁP DỤNG TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Kính gửi:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thực hiện lộ trình thống nhất mức lương tối thiểu trong các loại hình doanh nghiệp theo Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2008 – 2012, Chính phủ đã quy định mức lương tối thiểu áp dụng đối với người lao động làm việc trong các loại hình doanh nghiệp theo 4 vùng. Việc phân chia mức lương tối thiểu theo vùng dựa trên các nhóm yếu tố phân biệt mức độ phát triển của các vùng về kinh tế, xã hội, thị trường lao động và khuyến khích ưu đãi đầu tư theo đề nghị của các địa phương. Hàng năm căn cứ vào sự thay đổi về kinh tế, xã hội và thị trường lao động của từng địa phương việc phân địa bàn áp dụng tiền lương tối thiểu vùng được điều chỉnh lại cho phù hợp. Để có căn cứ trình Chính phủ xem xét, quyết định việc phân vùng áp dụng tiền lương tối thiểu đối với các loại hình doanh nghiệp năm 2011, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện một số công việc như sau:

1. Rà soát, đánh giá việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng thuộc địa bàn quản lý: Căn cứ vào phân vùng áp dụng tiền lương tối thiểu hiện tại của địa phương theo quy định tại Nghị định số 97/2009/NĐ-CP, 98/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ và điều kiện về kinh tế, xã hội, mức độ phát triển thị trường lao động, tiền công trên thị trường có tính đến yếu tố đầu tư để rà soát, đánh giá việc áp dụng tiền lương tối thiểu vùng thuộc địa bàn quản lý của tỉnh, thành phố.

2. Trên cơ sở rà soát lại địa bàn áp dụng tiền lương tối thiểu vùng trong phạm vi quản lý của tỉnh, thành phố đề nghị điều chỉnh địa bàn áp dụng tiền lương tối thiểu phù hợp với thực tế của địa phương trên cơ sở:

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU GIA SÚC: GIÀNH NHAU CON TRÂU ĐỰC

ĐẮC LAM

Cùng thả rông con trâu trong rừng sâu, rồi một ngày hai bên bỗng kéo nhau ra tòa giành trâu.

TAND tỉnh Hà Tĩnh mới đây đã phải tạm dừng phiên xử để tòa “xem lại” con trâu rồi mới ra phán quyết cuối cùng. Trước đó, hai bên nguyên, bị đơn (cùng ở xã Hòa Hải, huyện Hương Khê) vẫn nhất mực bảo con trâu đực màu đen là của mình.

Ai cũng nói trâu của mình

Nguyên đơn kể vợ chồng ông có một đàn trâu gồm chín “anh chị em” thả rông trong rừng. Trong đàn trâu có con thứ chín sinh khoảng tháng 10-2005. Đầu, cổ, đuôi, mông trâu… thế nào thì ông không nhớ cụ thể vì ít có thời gian gần gũi. Ông chỉ nhớ được nó là trâu đực, xâu trẹo màu xanh bằng dây cước, lông màu đen. Con trâu này bị lạc khoảng đầu tháng 10-2009. Ông đã nhờ người tìm kiếm, sau đó thấy nó đang ăn cỏ trên một cánh đồng cùng với đàn trâu của vợ chồng bị đơn.

Tìm ra trâu, ông rất mừng, vội đến gặp phía bị đơn xin lại chú trâu lạc. Thế nhưng phía bị đơn lắc đầu không cho nhận lại trâu vì đó là trâu của họ chứ không phải trâu “nhặt được”.

Vợ chồng bị đơn trình bày nhà họ cũng có một đàn trâu gồm chín con, đều do một trâu mẹ sinh ra. Cả đàn cũng được thả rông trong rừng, thi thoảng gia đình mới vào thăm. Vào vụ làm đồng, vợ chồng ông mới lùa cả đàn về để cày bừa, chăm sóc.

Trong đó, con trâu đực đang bị nguyên đơn tranh chấp sinh vào khoảng tháng 7-2005. Lông màu đen, sừng dài khoảng 40 cm, có một xoáy mặt bên phải, hai xoáy trước hình xoáy chân tít, đuôi ngắn. Dưới cổ nó có hai khoang trắng, đã thay hai răng hến màu đen… Ngoài ra, gia đình ông làm dấu hình tròn trên đỉnh đầu trâu để khỏi lạc. Khi còn nhỏ, ở rông trong rừng, chú trâu này đã mắc bẫy dây thắng xe đạp ở chân phải phía sau nên để lại thẹo, bới lông lên là thấy.

Continue reading

ĐA DẠNG HÓA ĐẦU TƯ CỦA TẬP ĐOÀN VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: NGUY CƠ LÃNG PHÍ NGUỒN LỰC QUỐC GIA

NGUYỄN MINH PHONG

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh truyền thống còn đầu tư tới 3.590 tỷ đồng sang các lĩnh vực khác như bất động sản, tài chính-ngân hàng…

Trong nền kinh tế hiện đại, đa dạng hóa đầu tư trở thành yêu cầu và xu hướng phát triển ngày càng đậm nét của các doanh nghiệp (DN) và tập đoàn kinh tế (TĐ) trên thế giới. Tuy nhiên, xu hướng này cũng có thể dẫn đến sự suy yếu hay sụp đổ của nhiều DN và TĐ, đặc biệt khi các hoạt động đầu tư này được tiến hành bằng vốn đi vay, trong khi thiếu cơ chế quy trách nhiệm và kiểm soát đầu tư hiệu quả …

Đầu tư ra ngoài lĩnh vực truyền thống

Thực tiễn cho thấy, việc hoạt động đa ngành nghề, lĩnh vực cũng có tính hai mặt của nó: Một mặt, nếu DN đi đúng hướng và đầu tư có hiệu quả thì điều này sẽ giúp nâng cao vị thế của DN và đạt được những mục tiêu mới; mặt khác, nếu “chệch hướng” hoặc đầu tư có tính đầu cơ, chụp giựt, khai thác các cơ hội độc quyền ngắn hạn, không hiệu quả, thì hoạt động này có thể làm suy sụp hình ảnh, thậm chí đánh mất thương hiệu, gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho DN nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Khi đa dạng hóa đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực mới mẻ, ít nhiều bản thân DN đánh mất đi lợi thế cạnh tranh vốn có của mình. DN rất dễ mắc sai lầm, thậm chí phải trả giá đắt do sự phân tán các nguồn lực, thiếu kỹ năng thẩm định công nghệ, thiếu các thông tin cập nhật, thiếu kinh nghiệm quản lý và phản ứng thị trường. Việc kiểm soát vốn vào hoạt động đa lĩnh vực là rất phức tạp, nếu làm không tốt thì sự thất thoát, lãng phí và khả năng đổ vỡ tài chính hoàn toàn có thể xảy ra. Đặc biệt, với khả năng tài chính có hạn của mình, việc đầu tư vốn dàn trải sẽ buộc DN phải tìm đến các nguồn vốn mới, với những điều khoản thương mại ngặt nghèo. Điều này rất dễ đưa họ sa vào chiếc bẫy nợ nần…

Continue reading

SUY NGẪM SỐ 47

Trong những ngày qua, nghị trường đang nóng vì sự bàn thảo không dứt nên hay không nên xây dựng đường sắt cao tốc Bắc – Nam? Sự “dùng dằng” không quyết đoán từ phía Chính phủ hay Quốc hội đều có thể để gánh nặng cho đời sau mà cũng có thể đánh mất cơ hội phát triển.

Xét cho cùng, xây dựng con đường “thiên lý mới” là khát vọng không dựa trên tiền của chúng ta, công nghệ của chúng ta. Dù nó được xây dựng trên nhu cầu vì cái gì và khả năng của chúng ta đến đâu? đó cũng là cái nợ. Nợ rất có thể là sự “trả giá” mà con cháu chúng ta phải gánh chịu do sự bất cẩn từ thời chúng ta đang sống?!

Tin cập nhật! Chiều 19/6/2010 Quốc hội quyết định “bấm nút” không thông qua Dự án đường sắt cao tốc. Bất ngờ vì kết quả và mừng vì sự vượt qua chính mình của các đại biểu quốc hội!

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

“BỆNH THÀNH TÍCH” TRONG XÉT XỬ

PHẠM THÁI

Theo hướng dẫn tại Công văn số 38/TA-TĐKT ngày 19.6.2007, Công văn số 49/TA-TĐKT ngày 6.5.2008 và Bảng chấm điểm thi đua của ngành Tòa án nhân dân: đối với án hình sự, giải quyết đạt 91% (trên tổng số án đã thụ lý) là đạt điểm chuẩn 20 điểm; đạt dưới 91% thì cứ dưới 1% là trừ 1 điểm; nếu tỷ lệ giải quyết dưới 85% là không được xét thi đua. Đối với các loại án dân sự, hôn nhân – gia đình, kinh doanh – thương mại, hành chính, nếu tỷ lệ giải quyết đạt 86% là đạt điểm chuẩn; đạt dưới 86% thì cứ dưới 1% sẽ bị trừ 1 điểm; nếu tỷ lệ giải quyết dưới 75% thì không được xét thi đua.

Để đạt mức cao các chỉ tiêu theo Bảng chấm điểm thi đua nêu trên, các tòa án phải giảm lượng án tồn đọng bằng cách đẩy nhanh tiến độ giải quyết án và hạn chế lượng án thụ lý mới. Việc tăng cường tiến độ giải quyết kịp thời các vụ án là cần thiết, nếu việc này được thực hiện thường xuyên ở mọi thời điểm và tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên, thực tế nhiều địa phương lại thực hiện theo kiểu nước đến chân rồi mới nhảy. Lâu nay, vào những ngày cuối tháng 9 hàng năm (ngày 30. 9 hàng năm là ngày chốt số liệu xét xử để bình xét thi đua), không khí làm việc tại ngành tòa án rất sôi động. Từ sáng đến chiều, từ đầu tuần đến cuối tuần, các phòng xử án luôn tấp nập người tới dự các phiên xét xử. Điều đáng nói là áp lực giảm án tồn đọng đã dẫn đến việc làm ẩu, bỏ qua các trình tự, thủ tục cần thiết. Có những buổi, cùng một hội đồng xét xử có thể xử 2 đến 3 vụ án. Để tiết kiệm thời gian, tòa án triệu tập những người tham gia tố tụng của những vụ án đó đến cùng một lúc, phần khai mạc phiên tòa, giới thiệu những người tiến hành tố tụng, giải thích các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia được thực hiện chung một lần. Theo quy định tại Điều 176 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) thì sau khi thụ lý, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hình sự nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn nhất định (thời hạn tùy vào loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng). Việc nghiên cứu hồ sơ là công việc không thể bỏ qua đối với mọi vụ án hình sự. Bởi lẽ qua nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán mới nắm bắt được nội dung vụ án, xác định được hồ sơ vụ án đã có đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và các vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án hay chưa. Kết quả nghiên cứu hồ sơ là cơ sở để ra quyết định: đưa vụ án ra xét xử hay trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Tuy vậy, để giảm lượng án tồn đọng, tòa án một số địa phương đã bỏ qua cả thủ tục nghiên cứu hồ sơ đối với những vụ án thụ lý trong khoảng thời gian từ ngày 10 – 15.9 hàng năm. Có những vụ án thụ lý ngày hôm trước, hôm sau đã ra quyết định đưa ra xét xử; thậm chí có những vụ thụ lý buổi sáng, đến chiều đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử…

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 68/2010/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN LỰC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Cạnh tranh ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về điện lực mà không phải là tội phạm, bao gồm:

1. Giấy phép hoạt động điện lực.

2. Xây dựng, lắp đặt công trình điện.

3. Hoạt động phát điện.

4. Hoạt động truyền tải điện.

5. Hoạt động phân phối điện.

6. Hoạt động bán buôn điện, bán lẻ điện.

7. Quy định về sử dụng điện.

8. Quy định về an toàn điện.

9. Quy định về điều độ hệ thống điện.

10. Quy định về thị trường điện lực.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với cá nhân, tổ chức sau:

1. Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực điện lực quy định tại Nghị định này.

Continue reading

QUY TRÌNH HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG NỘI BỘ NGÀNH THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 1675 /QĐ – TCTHA ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích, ý nghĩa

1. Quy trình hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự trong nội bộ ngành Thi hành án dân sự được quy định nhằm đảm bảo việc hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự được nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức; thông qua đó phát hiện những sai sót, vi phạm, giúp cho cơ quan thi hành án dân sự sửa chữa, khắc phục, rút kinh nghiệm và xử lý kịp thời, đảm bảo các bản án, quyết định của Toà án, Trọng tài thương mại và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được thi hành chính xác, đầy đủ, đúng pháp luật; giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự và Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự có biện pháp uốn nắn, khắc phục, xử lý kịp thời những sai sót, vi phạm của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và cán bộ thi hành án dân sự.

2. Làm cơ sở để giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự.

3. Phục vụ công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Nhằm giải đáp pháp luật, thống nhất nhận thức, cách hiểu các quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy trình này quy định trình tự, thủ tục xây dựng công văn, lập hồ sơ xin hướng dẫn nghiệp vụ và tiếp nhận, xử lý, yêu cầu về công văn, hồ sơ hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền của Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.

2. Quy trình này áp dụng trong nội bộ ngành Thi hành án dân sự, bao gồm các đơn vị, cá nhân thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự.

Continue reading

TRUNG QUỐC – MỘT MẪU MỰC KINH TẾ KẾ HOẠCH HIỆN ĐẠI?

GS. TS. NGUYỄN VÂN NAM

Khoảng 500 chính khách, nhà nghiên cứu, đại diện nhiều tập đoàn xuyên quốc gia danh tiếng như tập đoàn Bosch, ngân hàng Deutsche Bank, tập đoàn hóa chất BASF, tập đoàn sản xuất xe hơi Volkswagen (VW)…, đã đến Singapore tham dự Hội nghị Châu Á – Thái Bình Dương từ ngày 13 đến 15 tháng 05 năm 2010. Trung Quốc (TQ) đã trở thành chủ đề chính làm mọi người kinh ngạc.

Dưới góc nhìn doanh nhân quốc tế, TQ là một sự thần kỳ kinh tế. Trong khi Mỹ chưa thoát khỏi khủng hoảng tài chính, Châu Âu đang chìm trong cuộc khủng hoảng nợ nần, thì TQ lại thặng dư ngân sách với những thành tựu đáng kinh ngạc bằng nền kinh tế kế hoạch, một nền kinh tế kế hoạch (KTKH) duy nhất được chỉ huy hoạt động tốt. Trong 10 công ty lớn nhất thế giới – tính theo vốn hóa thị trường – có 4 công ty của TQ; đứng thứ 2 là công ty dầu khí TQ Petrochina. Trong năm nay, TQ sẽ vượt Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Theo ông Hambrecht, chủ tịch tập đoàn BASF đồng thời là chủ tịch ủy ban Châu Á-Thái Bình Dương của Đức, TQ vừa nhảy vọt qua hàng loạt cấp bậc phát triển mà Châu Âu đã phải cần hàng chục năm. Sếp tập đoàn xe hơi VW lớn nhất Châu Âu thừa nhận “Tốc độ phát triển của TQ đã vượt xa sự trông đợi”. TQ được khen ngợi không chỉ vì tốc độ tăng trưởng kinh tế. Gần đây, người ta cũng bắt đầu thán phục hệ thống chính trị ở đó. John Naisbitt, nhà nghiên cứu tương lai của Mỹ, không ngần ngại nói thẳng “TQ không chỉ thay đổi các điều kiện của kinh tế thế giới, kiểu mẫu TQ còn thách thức vị thế của các nền dân chủ phương tây, những nền dân chủ cho đến nay vẫn tin rằng họ có một kiểu mẫu chính quyền duy nhất vừa có khả năng giảm đói nghèo, vừa đem lại phát triển kinh tế“. Các nhà lập kế hoạch của Bắc Kinh không chỉ thành công trong việc hạ nhiệt đầu cơ bất động sản; chuyển hướng nền kinh tế quốc dân từ xuất khẩu qua phục vụ thị trường nội địa khi cần thiết. Điều quan trọng là họ đạt được điều đó mà không phải vay nợ, không có thất nghiệp hàng loạt. Từ nhiều năm qua TQ đã thực hiện một chính sách công nghiệp và sáng tạo nhằm những mục tiêu cụ thể rất thành công.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 37/BXD-QLN NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ ĐàCẤP

Kính gửi:

Sở Xây dựng tỉnh Kon Tum

Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 221/SXD-HT ngày 29/4/2010 của Sở Xây dựng tỉnh Kon Tum đề nghị hướng dẫn việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã cấp theo Nghị định số 60/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

Về vấn đề nêu trên, ngày 07/9/2009 Bộ Xây dựng có văn bản số 118/BXD-QLN ngày 07/9/2009 trả lời Sở Xây dựng Kom Tum việc thu hồi giấy chứng nhận theo hướng: về nguyên tắc, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì cơ quan đó có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đã cấp.

Tuy nhiên, ngày 21/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-CP về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất (Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2009). Như vậy, hiện nay việc giải quyết các vấn đề liên quan đến giấy chứng nhận, trong đó có nội dung về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp được thực hiện theo quy định tại Điều 25 của Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

Đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Kon Tum nghiên cứu quy định tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ để đảm bảo thực hiện việc đính chính, thu hồi giấy chứng nhận theo đúng quy định./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TƯ SỐ 15/2010/TT-NHNN NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH QUY MÔ NHỎ

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH11 năm 2003;
Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09/3/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam và Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007 sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định số 28/2005/NĐ-CP;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ như sau:

Chương 1.

CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Tổ chức tài chính quy mô nhỏ hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là tổ chức tài chính quy mô nhỏ) phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay theo quy định tại Thông tư này.

2. Việc trích lập dự phòng và sử dụng quỹ dự phòng tài chính thực hiện theo quy định của pháp luật về chế độ tài chính đối với các tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Phân loại nợ là việc sắp xếp các khoản nợ gốc vào các nhóm nợ quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư này.

2. Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.

3. Nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư này.

Continue reading

“SOI LỖI” TỐ TỤNG DÂN SỰ: BỎ LƠ ĐƯƠNG SỰ, XỬ LỐ . . .

THANH TÙNG

Thẩm phán thường mắc nhiều lỗi khiến nhiều bản án bị hủy, sửa. Để nâng cao chất lượng xét xử, Tòa Dân sự TAND Tối cao thường tổ chức rút kinh nghiệm.

Tại một buổi rút kinh nghiệm mới đây, Tòa Dân sự TAND Tối cao cho biết thực tiễn xét xử cho thấy nhiều tòa không đưa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng khiến vụ án bị hủy, sửa một cách đáng tiếc.

“Quên” người liên quan

Chẳng hạn, một người thuộc hàng thừa kế trong vụ tranh chấp nhưng không ủy quyền cho người khác, không từ chối tham gia nhưng nhiều thẩm phán “quên” đưa họ vào vụ án. Thậm chí có trường hợp người thứ ba trong tranh chấp đã được tặng cho một phần tài sản và đang sử dụng, quản lý nhưng tòa cũng “bỏ lơ” họ trong khi trong bản án vẫn giải quyết cả phần tài sản họ đang quản lý. Ngoài ra trong các tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà có nhiều người đang quản lý, sử dụng hoặc được cho thuê hay thế chấp ngân hàng, nhiều tòa cũng không “đụng chạm” gì đến những người này.

Trái ngược với việc “quên” triệu tập thì một số thẩm phán lại giải quyết không đúng hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự. Tòa Dân sự TAND Tối cao dẫn chứng, có vụ người khởi kiện chỉ yêu cầu đòi hoặc chia thừa kế một phần tài sản, hay chỉ yêu cầu trả nợ gốc (không yêu cầu lãi) nhưng tòa lại buộc bị đơn trả lại toàn bộ tài sản, chia toàn bộ di sản, hoặc buộc trả cả tiền gốc và lãi.

Làm đương sự mất quyền kháng cáo

Một dạng sai phạm khác là sau khi xử sơ thẩm vắng mặt đương sự, có tòa không làm thủ tục tống đạt bản án khiến họ không biết, dẫn đến mất quyền kháng cáo. Theo Tòa Dân sự, có tình huống cười ra nước mắt là khi xử sơ thẩm và thi hành xong thì đương sự bị thi hành án mới biết vì họ vắng mặt tại tòa và không có mặt tại địa phương.

Continue reading

ĐẠI HỌC HAY HỌC ĐẠI?

NGUYỄN LÂN DŨNG

Thành tích xây dựng hệ thống các trường đại học cao đẳng ở nước ta là rất lớn. Nhưng về chất lượng đào tạo thì quả thật là có quá nhiều vấn đề cần bàn.

Thành tích xây dựng hệ thống các trường ĐHCĐ ở nước ta là rất lớn. Không dễ gì có tới 62/63 tỉnh thành đã có trường ĐHCĐ, đấy là một cố gắng đáng kể với con số 180 trường đại học, 232 trường cao đẳng và 28 trường thuộc các ngành quốc phòng an ninh và với tổng số sinh viên ĐHCĐ niên học 2008-2009 lên đến trên 1,7 triệu. Nhưng về chất lượng đào tạo thì quả thật là có quá nhiều vấn đề cần bàn.

Truyền thống hiếu học của nhân dân ta thật quý giá. Không phải có nhiều nước mà hầu hết học sinh đều muốn học tiếp đại học, cao đẳng (ĐHCĐ) và các phụ huynh cũng đều muốn như vậy. Nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng yêu cầu cần có số người tốt nghiệp ĐH không thấp hơn nhiều so với các nước khác.

Từ lâu, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có chỉ đạo rất xác đáng là yêu cầu “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò”.

Hiện nay đâu phải trường nào cũng ra trường! Có tới 15/87 các trường ngoài công lập chưa xây dựng được trường theo địa điểm đã đăng ký. Thậm chí có trường mở trong các hốc trống của sân vận động (!) Có trường thuê mướn rất nhiều cơ sở ở khá phân tán trong thành phố. Các trường tập trung quá nhiều ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đây là nơi có trên 18 triệu dân nhưng sinh viên trên 1 vạn dân là 393, trong khi ở đồng bằng sông Cửu Long với dân số cũng tới trên 17 triệu dân thì chỉ có 75 sinh viên/1 vạn dân.

Continue reading