BỒI HOÀN PHÍ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

HOÀNG YẾN

Thực tiễn xét xử, các tòa thường bác yêu cầu đòi bồi hoàn chi phí cho việc theo kiện của đương sự như tiền thuê luật sư, photocopy giấy tờ…

Vì vậy việc mới đây, TAND tỉnh Tiền Giang buộc bị đơn phải trả hơn 150 triệu đồng phí luật sư của nguyên đơn đã gợi nhiều băn khoăn…

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Cục cấp tiếp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho Công ty TP. Sau đó, Công ty TP tiếp tục đăng ký sản phẩm bánh K. tại Mỹ và đã được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Thua kiện vì “nhái” nhãn hiệu

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu bánh K. của công ty được bảo hộ. Lần theo, công ty biết Công ty TG đã sản xuất bánh tráng hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận vào ngày 8-9-2009 có xuất bánh tráng K’sang Mỹ. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư tại Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-2010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất và xuất khẩu loại bánh K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ. Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng cho luật sư, gồm 5.000 USD phí luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí luật sư tại Việt Nam…

Tháng 5-2010, TAND tỉnh Tiền Giang xử sơ thẩm, nhận định việc Công ty TG sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu của Công ty TP, vốn đã được cấp giấy chứng nhận bảo hộ về nhãn hiệu trên cùng một loại hàng hóa là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ. Việc Công ty TG nại rằng thực hiện theo hợp đồng với khách nước ngoài nên lỗi vi phạm này thuộc bên thứ ba là không có cơ sở.

Continue reading

LUẬT CẠNH TRANH KHÔNG BẢO HỘ LỢI NHUẬN

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Sự kiện 06 doanh nghiệp chiếu phim (06 DN) gửi đơn khiếu nại tập thể lên Cục quản lý Cạnh tranh (CQLCT) yêu cầu bảo vệ trước hoạt động kinh doanh được cho là vi phạm Luật Cạnh Tranh (LCT) của công ty Megastar là một sự kiện đáng mừng. Nó cho thấy doanh nghiệp ngày càng nhận ra tầm quan trọng có tính chất quyết định của LCT trong hoạt động kinh doanh, sẽ cho thấy năng lực của CQLCT đến đâu, đồng thời cũng làm bộc lộ những thiếu sót „chết người“ trong LCT của chúng ta.

Do có một nhà đầu tư Châu Âu chiếm tới 90% vốn điều lệ của Megastar, tranh chấp này sẽ là cuộc tranh luận nẩy lửa giữa việc phải áp dụng những nguyên tắc, thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế (đại diện bởi Megastar) về cạnh tranh-mà Việt nam với tư cách thành viên WTO phải tôn trọng- với việc áp dụng LCT của ta.

Luật CT không bảo hộ các doanh nghiệp do kinh doanh không có hiệu quả mà bị lỗ, thậm chí phá sản trong cuộc cạnh tranh lành mạnh với các doanh nghiệp khác. Không phải hễ cứ có doanh nghiệp thống lĩnh thị trường (TLTT) thì có thể tha hồ đổ lỗi cho nó mỗi khi ta kinh doanh thua lỗ.

Trước hết, việc xác định Megastar có vị trí TLTT hay không, không hề dễ dàng. LCT và các văn bản hướng dẫn cũng chưa nêu đủ, rõ ràng và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế các tiêu chí xác định thị phần, thị trường và thị trường liên quan.

Vươn tới chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn để kiếm được nhiều lợi nhuật hơn là mơ ước và động lực kinh doanh chính đáng của mọi doanh nghiệp. Bản thân việc có thị phần trên 30% không phải là có tội và cũng chưa phải là đã đủ để có thể thống lĩnh thị trường. Chỉ doanh nghiệp nào với thị phần này và có khả năng hạn chế quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp khác, mới là có vị trí TLTT. Khác với thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế, luật CT của ta (Khoản 1, Điều 11) qui định doanh nghiệp chiếm thị phần từ 30% trở lên đã là có vị trí TLTT (Quốc tế: thị phần 30% trở lên và có khả năng hạn chế cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác). Sự khác nhau này sẽ gây ra tranh luận dữ dội giữa quan điểm quốc tế và quan điểm Việt nam.

Continue reading

MỸ CÔNG BỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ BẢO HIỂM

NGUYỄN THANH TÙNG – Chuyên gia Tiền tệ VietinBank

Ngày 21/4/2010 tại WASHINGTON D.C. Mỹ, các đại diện nhà chức trách Mỹ đã họp báo giới thiệu và công bố: thời gian tới (10/02/2011) sẽ phát hành vào lưu thông loại 100 USD thế hệ mới. Dưới đây là những đặc điểm cấu tạo, bảo hiểm của tờ 100 USD mới:

Dây bảo hiểm 3-D:  Dây bảo hiểm màu xanh ở mặt trước của tờ 100 Dollar với hình ảnh những cái chuông và những con số 100. Chao nghiêng tờ tiền về phía sau và phía trước khi xem dây bảo hiểm, sẽ thấy những chiếc chuông đổi thành những con số 100 khi chúng di chuyển. Nếu chao nghiêng tờ tiền về phía trước và phía sau, những chiếc chuông và những con số 100 sẽ di chuyển lên trên và xuống dưới. Nếu chao nghiêng tờ tiền sang hai bên, chúng sẽ di chuyển về phía trước và phía sau. Dây bảo hiểm được đan bên trong tờ tiền, chứ không được in và sử dụng vi công nghệ tiên tiến. Có gần một triệu vi thấu kính được sử dụng để tạo ảo giác về những chiếc chuông và những con số 100 đang chuyển động.

Chuông trong lọ mực: Hình ảnh của một chiếc chuông đặt trong một lọ mực màu đồng ở mặt trước tờ 100 Dollar mới. Tùy thuộc vào góc của tờ tiền, hình ảnh chiếc chuông đổi màu từ màu đồng sang màu xanh, đây là hiệu ứng làm cho chiếc chuông như hiện rồi lại ẩn trong lọ mực.

Continue reading

HỢP ĐỒNG IN SẴN: KHÔN BÁN – DẠI MUA

HUYỀN MI

-Chỉ nghe tư vấn rồi kí hợp đồng theo mẫu do doanh nghiệp soạn thảo sẵn nên đến khi gặp chuyện khách dắng họng không cãi được vì ở thế “sự đã rồi”.

“Bút sa, gà chết”

Cách đây gần 10 năm, chị T.T (Tp.HCM) mua hợp đồng bảo hiểm Phú An Khang cho mẹ chồng kèm theo sản phẩm phụ là bảo hiểm bệnh tật và tai nạn. Đến năm 2010, Prudential gửi thông báo chấm dứt hợp đồng sản phẩm phụ với lý do mẹ chồng chị đã 65 tuổi. Đến lúc này, chị mới ngớ người ra, tìm lại hợp đồng và hỏi lại người phụ trách hợp đồng bảo hiểm.

Khi được trả lời đây là quy định chung của công ty thì chị cho rằng: “các nhà tư vấn bảo hiểm đã lờ đi hoặc cố tình không tư vấn rõ cho khách hàng biết để rồi đến khi có thông báo của bảo hiểm nhiều người mới vỡ lẽ ra”. Trong khi đó, chỉ cần truy cập website của Prudential, khách hàng sẽ thấy ngay mục Bảo hiểm bệnh tật và tai nạn đáo hạn khi khách 65 tuổi rất rõ ràng.

Rất nhiều khách hàng viễn thông phản hồi VietNamNet cũng trong tình trạng không đọc kĩ hợp đồng để rồi khi không hài lòng về dịch vụ thì lại ấm ức việc phải “đền” khuyến mại. Anh N.H.B tại Vĩnh Phúc chia sẻ: “Họ đem hợp đồng đến thì tôi kí chứ đọc làm gì. Hợp đồng ADSL nào chẳng giống hợp đồng nào. Hầu hết người Việt mình đăng kí dịch vụ Internet có mấy ai đọc kĩ hợp đồng đâu”.

“Ép” khách bằng hợp đồng mẫu

Trong khi có những khách hàng “quên” đọc kĩ hợp đồng đã vội kí thì cũng có những khách hàng đọc rất kĩ, xem xét tỉ mỉ rồi mới đặt bút. Nhưng họ cũng chẳng thể làm được gì hơn khi gặp trục trặc nảy sinh và bất lợi vẫn thuộc về họ vì hợp đồng đã kí là hợp đồng mẫu do doanh nghiệp soạn thảo, không thể thỏa thuận hay bổ sung điều khoản.

Continue reading

“TẤM ĐỆM” HAY “VÒNG KIM CÔ” PHÁP LÝ?

TRANG ANH

Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đang điều chỉnh khoảng 2/3 giao dịch thương mại thế giới và là Công ước về thương mại có diện áp dụng rộng rãi nhất hiện nay. Tham gia CISG, các doanh nghiệp (DN) sẽ có thêm một “tấm đệm” pháp lý an toàn để thực hiện các hợp đồng mua bán với các đối tác nước ngoài.

Doanh nghiệp được lời gấp bội

Công ước Viên hiện được áp dụng tại 74 quốc gia thành viên, trong đó có những đối tác thương mại đặc biệt lớn như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản, Trung Quốc… Việc CISG được áp dụng rộng rãi đã phần nào cho thấy lợi ích mà Công ước này mang lại cho các nền kinh tế. Ở Việt Nam, mặc dù đã không ít lần được các chuyên gia trong nước và nước ngoài khuyến nghị song đến nay chúng ta vẫn chưa gia nhập CISG.
Theo GS Nguyễn Thị Mơ (ĐH  Ngoại Thương), nguyên nhân chủ yếu do sự chậm trễ trong nhận thức của cơ quan công quyền, trong khi giới luật gia lại thờ ơ và thiếu hiểu biết về các công ước quốc tế. Nhưng “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, nguyên nhân chủ quan đầu tiên là vì DN chưa mạnh dạn kiến nghị những khó khăn gặp phải khi thương thảo hợp đồng mua bán với đối tác nước ngoài nên Nhà nước không thể biết mà gỡ khó. Có DN chấp nhận mất hợp đồng “béo bở” chỉ vì không thống nhất được nguồn luật áp dụng cho hợp đồng đồng mua bán với đối tác.
Tại buổi tọa đàm Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế do Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức (11/5), các chuyên gia đã thống nhất cho rằng Việt Nam không nên đứng ngoài một Công ước đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế và lợi ích pháp lý.

Continue reading

TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN – Một số đối chiếu với quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ở các nước phát triển

THS. VŨ THỊ THANH TÚ – Khoa Luật, Đại học Tự Do Brussels, Bỉ (Trong chương trình nghiên cứu do Wallonie – Bruxelles International tài trợ)

Phương thức thực hiện quyền tác giả, quyền liên quan thông qua một tổ chức đại diện tập thể các tác giả, các chủ thể quyền là phương pháp mang tính thời đại và ngày càng chứng minh sự hiệu quả. Hình thức này xuất hiện từ thế kỉ 18 ở Pháp, sau đó phát triển sang các nước vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20[1]. Nhiều tổ chức với quy mô quốc tế cũng đã xuất hiện như : IFPI – Liên đoàn công nghiệp ghi âm quốc tế, CISAC – Liên đoàn quốc tế các công ty đại diện quyền của các tác giả và soạn giả, AGICOA – Hiệp hội quốc tế về đại diện tập thể các tác phẩm nghe nhìn, IFRRO – Liên đoàn quốc tế các tổ chức đại diện quyền sao chép…

Hiện nay, ở Việt Nam cũng có ba tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và quyền liên quan (ĐDTT QTG): VLCC – Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam, RIAV – Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam ; VCPMC – Trung tâm bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam. Các tổ chức này bắt đầu thu hút sự quan tâm, tham gia của tác giả và những người hoạt động trong lĩnh vực liên quan.

Tổ chức ĐDTT QTG là trung gian giữa chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan với người sử dụng tác phẩm nên bài viết tập trung vào mối quan hệ giữa tổ chức với từng chủ thể này, trên cơ sở các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan và về cạnh tranh. Bài viết sử dụng kiến thức Pháp luật và thực tế về ĐDTT QTG của Việt Nam và một số nước phát triển như Pháp, Mỹ, Anh… Cụ thể, bài viết lần lượt đi theo các nội dung sau :

1. Nguyên nhân ra đời tổ chức ĐDTT QTG

2. Phân loại tổ chức ĐDTT QTG

3. Giám sát việc thành lập và hoạt động của các tổ chức ĐDTT QTG

4. Mối quan hệ giữa tổ chức ĐDTT QTG và tác giả

5. Mối quan hệ giữa tổ chức ĐDTT QTG và người sử dụng tác phẩm

  1. Nguyên nhân ra đời của ĐDTT QTG

Tổ chức được thành lập nhằm hợp lý hóa việc quản lý QTG, đem lại quyền lợi cho cả tác giả và người sử dụng tác phẩm.

Continue reading

THAY THẾ ĐIỀU KHOẢN HỢP ĐỒNG

NGUYỄN TRUNG NAM  -  Công ty Luật EPlegal

Trong nhiều trường hợp khi các bên mua bán hàng hóa trao đổi qua lại rất nhiều đề nghị – đề nghị thay đổi đề nghị cũ bằng cả miệng và văn bản, việc xác định đề nghị nào sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên là hết sức khó khăn, đặc biệt là khi một hay hai bên đã tiến hành thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng.

Tranh chấp giữa bên bán (nguyên đơn) là một Cty của Italia với bên mua (bị đơn) là một Cty ở New York, Mỹ. Nội dung tranh chấp về mẫu hợp đồng, trong đó điều khoản trọng tài sẽ áp dụng theo thư đề nghị của bên nào.

Diễn biến tranh chấp

Bên mua gửi một đơn đặt hàng đến bên bán của Italia về việc mua 100.000 đôi giày tại biên giới Italia/Yugoslav tuân theo một mẫu hợp đồng khung về các điều khoản, trong đó có điều khoản về trọng tài xử tại Moscow. Ngoài ra, theo đơn hàng này bên mua phải mở Thư tín dụng cho bên bán trước mỗi đợt giao hàng. Bên bán chấp nhận đơn đặt hàng này bằng một thư xác nhận. Tuy nhiên có thông báo loại trừ điều khoản về trọng tài (trước tòa bên mua tuyên bố không hề nhận được thông báo này). Chỉ khoảng 5 tháng sau khi nhận được đơn đặt hàng, bên mua mới nhận được một văn bản khác của bên bán nêu rõ không chấp nhận áp dụng điều khoản trọng tài. Trong thời gian đó các bên đàm phán bằng miệng nhiều lần về điều khoản trọng tài, đồng thời các bên bắt đầu thực hiện hợp đồng trước khi đạt được thỏa thuận về điều khoản này. Bên mua đã mở thư tín dụng đầu tiên cho người thụ hưởng là bên bán và bên bán đã vận chuyển một phần hàng hóa theo thỏa thuận. Sau đó bên mua khiếu nại bên bán về lỗi hợp đồng và yêu cầu phân xử trọng tài tại Moscow theo mẫu hợp đồng khung ban đầu.

Tòa án cho rằng, tại thời điểm hợp đồng xác lập các bên tham gia hợp đồng có trụ sở tại Mỹ và Italia, vì vậy hợp đồng thuộc sự điều chỉnh của Công ước Vienna (CISG). Tòa đã xem xét các giao dịch trước đó của các bên và cho rằng từ rất nhiều giao dịch theo thông lệ của hai bên từ trước, bên bán có trách nhiệm phải cảnh báo bên mua kịp thời về việc mình không đồng ý áp dụng điều khoản trọng tài, trách nhiệm này còn cao hơn khi bên bán biết rằng bên mua đã mở thư tín dụng cho người thụ hưởng là bên bán. Tòa không chấp nhận lập luận bên bán cho rằng thư trả lời của bên bán từ chối áp dụng điều khoản trọng tài đã tạo thành một đề nghị thay thế đề nghị cũ vì thư này được gửi quá trễ. Ngược lại, việc bên bán đã vận chuyển một phần hàng hóa, cũng như sau đó vẫn tiếp tục dựa vào mẫu hợp đồng khung cho thấy bên bán đã chấp nhận đề nghị của bên mua thông qua hành động (Điều 18.1; 8.3 CISG). Cuối cùng, tòa kết luận hợp đồng đã được hình thành trên cơ sở đơn hàng ban đầu do bên mua gửi và được chấp nhận bởi bên bán.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: ĐI KIỆN THAY, BỊ KIỆN NGƯỢC

HOÀNG YẾN

Giúp thắng kiện nhưng lại bị kiện đòi trả lại thù lao. Nguyên đơn đã được hưởng lợi lớn trên thành quả lao động của bị đơn mà không phải chịu một khoản chi phí nào nên phải trả tiền thù lao còn thiếu cho bị đơn.

Mấy năm trước, Công ty D. đã ủy quyền cho Công ty H. kiện ra Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam đòi một đối tác phải tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa và bồi thường thiệt hại. Thù lao là 12.500 USD, đưa trước 9.500 USD.

Chưa kịp vui đã buồn

Một năm sau, trọng tài quốc tế đã buộc đối tác phải trả cho Công ty D. hơn 25.000 USD. Từ thắng lợi này, phía Công ty H. đã đánh tiếng yêu cầu Công ty D. phải thanh toán hết thù lao (3.000 USD).

Tuy nhiên, kiểm tra lại, Công ty D. phát hiện Công ty H. không có chức năng kinh doanh dịch vụ pháp lý. Do vậy, Công ty D. không trả mà khởi kiện, yêu cầu tòa tuyên bố hợp đồng vô hiệu, buộc Công ty H. phải trả lại số tiền đã nhận trước. Nguyên đơn sẽ hoàn trả cho bị đơn hơn 22 triệu đồng đã nộp phí trọng tài.

Xử sơ thẩm tháng 7-2007, TAND quận 11 (TP.HCM) đã tuyên bác yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời, tòa buộc nguyên đơn phải tiếp tục thanh toán cho bị đơn 3.000 USD còn lại như thỏa thuận ban đầu. Theo tòa, hợp đồng giữa hai bên được ký kết chặt chẽ và đã hoàn thành nên buộc các bên phải tuân theo.

Hợp đồng vô hiệu

Tuy nhiên, xử phúc thẩm, TAND TP.HCM đã tuyên sửa án, buộc hủy hợp đồng do vô hiệu bởi Công ty H. không chức năng kinh doanh dịch vụ pháp lý. Bị đơn phải hoàn trả thù lao đã nhận làm dịch vụ.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 327/BC-UBTVQH12 NGÀY 22 THÁNG 5 NĂM 2010 VỀ GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6 (tháng 11/2009), các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật nuôi con nuôi. Sau kỳ họp, Ủy ban pháp luật đã phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan tổ chức khảo sát việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại một số địa phương, tổ chức hội thảo để tiếp tục lấy ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, đại diện một số cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương, các chuyên gia trong và ngoài nước về dự án Luật nuôi con nuôi.

Dự án Luật đã được gửi xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong quá trình hoàn thiện, Thường trực Ủy ban pháp luật và cơ quan soạn thảo đã làm việc với đại diện Đại sứ quán của 9 nước ký hiệp định nuôi con nuôi với nước ta, một tổ chức quốc tế và một số tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Sau đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật nuôi con nuôi.

I/ NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN

1. Về đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi; điều kiện của người được nhận làm con nuôi

a) Về đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi (Điều 7)

– Nhiều ý kiến đề nghị Luật chỉ điều chỉnh việc nuôi con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi; không áp dụng với trường hợp là “thương binh, người khuyết tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu, cô đơn”. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc đối tượng được nhận nuôi là người trên 15 tuổi, vì thực tế có phát sinh, nếu không quy định sẽ bỏ trống nhóm đối tượng này. Có ý kiến đề nghị quy định tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi là dưới 14 tuổi. Ý kiến khác đề nghị quy định tuổi trẻ em làm con nuôi “từ đủ 15 tuổi trở xuống”, vì pháp luật về hình sự, dân sự, lao động hiện hành quy định trách nhiệm đối với người trên độ tuổi này. Ngoài ra, có ý kiến băn khoăn quy định độ tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi như dự thảo Luật sẽ thấp hơn độ tuổi trong Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế năm 1993 (dưới 18 tuổi).

Continue reading

BÀN VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

GS.TS. HỒ SĨ THOẢNG

Hội đồng quản trị (HĐQT) trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) xuất hiện lần đầu tiên trong Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995. Từ đó, thiết chế này được áp dụng đại trà trong các DNNN, trước hết là trong các tổng công ty Nhà nước. Ngay từ đó, trong một số cuộc thảo luận về vấn đề cơ quan quản lý và điều hành DNNN, ý kiến về sự cần thiết có HĐQT vẫn còn phân tán. Lý do có trọng lượng nhất đưa đến sự hình thành HĐQT là để bảo đảm cho sự vận hành nghiêm túc cơ chế “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra nếu để một mình tổng giám đốc (TGĐ)/giám đốc (GĐ) điều hành doanh nghiệp.

Đương nhiên, đó là lý do hết sức xác đáng. Chỉ có doanh nghiệp tư nhân do một người làm chủ thì mới không có và không cần có sự quản lý của tập thể nào cả. Trong các công ty cổ phần với hàng ngàn, hàng vạn, thậm chí hàng triệu cổ đông thì đương nhiên không có hình thức quản lý nào hợp lý hơn là các cổ đông bầu những người đại diện cho mình vào HĐQT. Nghĩa là các cổ đông thực hiện quyền làm chủ công ty thông qua những người đại diện của mình trong HĐQT. Tuy nhiên, vấn đề trở nên hết sức phức tạp đối với trường hợp DNNN hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

HĐQT đại diện cho ai?

Về mặt lý thuyết, chủ sở hữu DNNN là Nhà nước (Chính phủ, các Bộ, ủy ban nhân dân các cấp), HĐQT là người thay mặt Nhà nước. Nhưng chỉ đi thêm một bước nữa vấn đề đã trở nên phức tạp. Ai là người được Nhà nước giao trách nhiệm làm chủ sở hữu DNNN thực sự? Đã 10 năm trôi qua từ khi Luật DNNN ra đời với một lần sửa đổi, đối với DNNN trung ương, câu trả lời vẫn là các Bộ. Tuy nhiên, các Bộ cũng không thực thi đầy đủ vai trò là chủ sở hữu thật sự. Rất nhiều Bộ có quyền can thiệp vào hoạt động của DNNN, nhưng khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì hầu như không ai là người chịu trách nhiệm.

Continue reading

CẢNH BÁO RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VIỆT NAM

THS. TRỊNH THANH HOAN – Tổng giám đốc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam

Sức yếu, gánh nặng, đường xa, kẻ trục lợi thường xuyên rình rập, có lúc sử dụng đại lý như “nuôi ong tay áo”… Những nguy cơ rủi ro đang là vấn đề rất nhức nhối trong các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.

Trong những năm vừa qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về chất và lượng, đánh dấu bước phát triển căn bản từ một thị trường độc quyền Nhà nước sang một thị trường khá hoàn chỉnh theo cơ chế kinh tế thị trường với sự tham gia của đủ mọi thành phần kinh tế (Nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài).

Sau 10 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Từ chỗ quy mô thị trường bảo hiểm chỉ là 703 tỷ đồng vào năm 1993, đến 2004  đã lên tới 14.232 tỷ đồng với 26 doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm gồm: 14 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 5 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 6 doanh nghiệp hoạt động môi giới bảo hiểm và 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm.

Đến nay, thị trường bảo hiểm đã từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế thông qua cơ chế hợp tác thương mại, dịch vụ tài chính đa phương hoặc song phương, với các nước ASEAN, Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, v.v…

Tuy nhiên,  thị trường bảo hiểm Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề. Ngoài những khó khăn do chính sách bảo hiểm chưa hoàn thiện thì nguy cơ rủi ro trong các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang là vấn đề rất nhức nhối.

Vốn nhỏ, rủi ro tiềm ẩn cao

Các công ty bảo hiểm trước khi phát hành một đơn bảo hiểm đều phải đánh giá rủi ro được bảo hiểm, xem xét các yếu tố dẫn đến sự tăng giảm rủi ro… Từ đó mới đưa ra quyết định chấp nhận hay từ chối rủi ro với phạm vi bảo hiểm như thế nào, tỷ lệ phí bảo hiểm là bao nhiêu cho phù hợp. Nhưng các doanh nghiệp bảo hiểm mới chỉ đánh giá được rủi ro của đối tượng được bảo hiểm, còn nhiều doanh nghiệp bảo hiểm vẫn chưa xem xét một cách thấu đáo những rủi ro tiềm ẩn trong chính bản thân doanh nghiệp mình.

Continue reading

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TPHCM: RỐI THÊM DO TÒA ÁN?

VIẾT ĐOÀN

Chỉ là một vụ án “Kinh doanh thương mại về tranh chấp Hợp đồng kinh tế” thế nhưng liên tiếp trong thời gian vừa qua TAND Q7 (TP HCM) đã có đến 1 thông báo và 2 quyết định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu ngăn chặn và phong tỏa tài sản tiền gửi của đương sự. Tuy nhiên, điều đáng nói là những văn bản này đều có dấu hiệu trái luật hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật khiến DN phải… kêu cứu.

Theo Hợp đồng số 110809/UREA/12,500/MT, ngày 11/8/2009 Cty CP Kim Phú Gia (bên Bán) và Cty CP vật tư nông sản (bên Mua) mua bán phân UREA N46% với số lượng mua hàng là 12.500 tấn, được giao hàng tại Cảng Đà Nẵng với giá trị trên 3,4 triệu USD (khoảng 61,875 tỷ đồng). Như thỏa thuận NH NN-PTNT VN CN 8 phát hành 1 bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương ứng 3% giá trị lô hàng cho bên Bán và bên Mua thụ hưởng (hơn 1,856 tỷ đồng). Số tiền này được trả cho bên Mua như một khoản bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi của bên Bán. Đồng thời, theo yêu cầu của bên Mua, NH Đầu tư & Phát triển CN Hà Thành (BIDV) đã ra một chứng thư bảo lãnh thanh toán 100% trị giá hợp đồng cho bên Bán và người thụ hưởng chứng thư bảo lãnh là Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank).

Rắc rối ngoài hợp đồng

Trong khi hợp đồng chưa được thực hiện thì hai bên đã xảy ra tranh chấp và bên Bán đã khởi kiện ra TAND Q 7 (TP HCM). Theo như đơn khởi kiện ngày 11/11/2009, bên Bán cho rằng bên Mua đã vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường số tiền 2% hợp đồng do chậm thực hiện. Trong đó, công văn ngày 4/9/2009 bên Bán gửi cho bên Mua cho rằng chứng thư bảo lãnh của BIDV không được Southern Bank đồng ý với một số điều trong thư bảo lãnh và đòi hỏi những cái không cần thiết. Do đó, đã đề nghị chuyển người thụ hưởng là NH NN-PTNT VN CN Sài Gòn.

Ngày 16/9/2009 bên Bán lại có văn bản gửi bên Mua với nội dung cho rằng “Chứng thư bảo lãnh của BIDV đã ràng buộc thêm điều kiện kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng”. Tuy nhiên, nội dung của những văn bản này và các cuộc đàm phán đều bị bên Mua bác bỏ. Ông Nguyễn Tiến Dũng – TGĐ Cty CP vật tư nông sản (đại diện bên Mua) khẳng định: “Việc xác định người thụ hưởng trong thư bảo lãnh chúng tôi đã làm theo đúng như cam kết trong hợp đồng. Còn việc thay đổi người thụ hưởng thì hợp đồng không ràng buộc mà chỉ do hai bên đàm phán nên việc chấp thuận hay không phụ thuộc vào nội dung của cuộc đàm phán và chúng tôi không chấp thuận”.

Continue reading

LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP: BÌNH LUẬN NGẮN TỪ GÓC NHÌN QUẢN TRỊ CÔNG TY

PGS, TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. HCM

Mua bán và sáp nhập công ty (M&A) đã xuất hiện và có thể sẽ trở nên sôi động hơn ở nước ta, nhất là khi các nhà đầu tư từ Trung Hoa đại lục rủng rỉnh tiền bạc bắt đầu nhòm tới các nguồn tài nguyên và kênh tiêu thụ ở Việt Nam. Giúp tái cấu trúc doanh nghiệp, lưu chuyển vốn, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp có thể có lợi cho năng lực cạnh tranh quốc gia.

Về chi tiết, việc mua bán hay sáp nhập thường gồm nhiều công đoạn, diễn ra bằng nhiều cách, với sự tham gia của nhiều lực lượng chuyên gia, trong đó chuyên gia pháp lý thường đóng những vai trò lớn trong xác định doanh nghiệp mục tiêu, nhận diện các yếu tố tạo nên giá thành, giúp thương thảo và thiết kế các hợp đồng cũng như làm thủ tục nội bộ trong công ty mua cũng như công ty bán và những thủ tục hành chính khác với cơ quan nhà nước để hoàn tất việc mua bán. Đang có một cuộc tranh luận trong giới làm chính sách về việc liệu nước ta có nên có một đạo luật về mua bán công ty hay không? Để góp phần vào cuộc tranh luận đó, bài viết ngắn dưới đây bước đầu tìm hiểu và bàn luận về một số khía cạnh pháp lý có thể cần được lưu tâm trong quá trình mua bán công ty.

Đối tượng mua bán: Trên thực tế, các loại hình doanh nghiệp đều có thể được mua bán, thậm chí các quyền lợi trong các liên danh không hình thành nên pháp nhân cũng có thể được mua bán. Tuy nhiên, luật pháp không mấy quan tâm đến việc mua bán ki-ốt trên chợ hay cửa hàng của một tiểu thương, kể cả việc mua lại doanh nghiệp tư nhân (DNTN), phần vốn trong hợp danh hay các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) tư nhân. Về cơ bản, quyền mua bán thuộc tự do khế ước; thuận mua vừa bán, miễn là không có những dấu hiệu làm cho việc mua bán có nguy cơ trở nên vô hiệu. Sự quan tâm của người làm luật chỉ tăng lên trong việc mua bán doanh nghiệp nhà nước (DNNN) – vì đó là bán của công cho tư nhân; và mua bán các công ty cổ phần hoặc việc mua bán tạo nên sự lũng đoạn của độc quyền cản trở cạnh tranh bình thường. Thường thì luật pháp không mấy quan tâm đến việc mua bán công ty phải diễn ra như thế nào – không Nhà nước nào có thể thông thái hơn giới doanh nhân, việc tính toán mua bán bằng cách nào là tự do của họ. Nhà nước chỉ quan tâm để bảo vệ những lợi ích nhất định, ví dụ: (i) bảo vệ cạnh tranh, (ii) bảo vệ doanh nghiệp trong nước trước nguy cơ bị thôn tính bởi các tập đoàn nước ngoài, (iii) bảo vệ các cổ đông nhỏ có thể bị lừa gạt qua các cuộc mua bán, (iv) bảo vệ chủ nợ và người làm công trong công ty.

Continue reading

GIỚI HẠN CỦA HỢP ĐỒNG MẪU

LS. CAO THỊ HÀ GIANG – TRẦN THANH TÙNG

Trong rất nhiều các quan hệ kinh tế, dân sự hiện nay, doanh nghiệp đang bị “ép” vào những mẫu hợp đồng sơ sài của các cơ quan nhà nước, xa lạ so với ý chí thực của doanh nghiệp. Đâu sẽ là ranh giới giữa việc áp dụng hợp đồng mẫu và quyền tự do hợp đồng?

Từ sự việc thực tế…

Ông H., thành viên sáng lập công ty TNHH A, có nhu cầu chuyển nhượng vốn góp cho đối tác khác. Sau một thời gian dài đàm phán và nhờ luật sư tư vấn, hợp đồng chuyển nhượng vốn được hình thành và ký kết. Khi nộp hồ sơ đăng ký chuyển nhượng vốn tại sở kế hoạch và đầu tư (KHĐT) thành phố N, nhân viên của sở KHĐT đã không chấp nhận hồ sơ vì hợp đồng quá dày với hơn 20 trang giấy và quá phức tạp, quan trọng hơn là không được lập theo mẫu của Sở KHĐT.

Nhân viên này yêu cầu ông H. phải sử dụng mẫu hợp đồng do sở KHĐT ban hành. Ông H. không biết phải làm sao để đưa các thỏa thuận đã đạt được vào hợp đồng mẫu với chỉ khoảng 3 trang giấy. Tuy nhiên, sau nhiều lần lên xuống để thuyết phục nhưng không thành công, ông H. và đối tác đành chấp nhận ký thêm vào bản hợp đồng theo đúng mẫu do sở KHĐT cung cấp chỉ để hồ sơ được thụ lý.

…Đến giới hạn của hợp đồng mẫu

Hợp đồng về bản chất là luật tư, dựa trên ý chí tự do và tự thỏa thuận của các bên tham gia. Doanh nghiệp, về nguyên tắc, được làm tất cả những gì luật không cấm, nghĩa là cứ tự do thỏa thuận chừng nào mà thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Nhưng khi tham gia vào quan hệ hành chính, hợp đồng này còn chịu sự ảnh hưởng bởi luật công, dựa trên mệnh lệnh, quyền uy mà không có thỏa thuận. Trong quan hệ ấy, đứng ở góc độ của cơ quan hành chính, họ chịu ràng buộc theo nguyên tắc “công chức chỉ được làm những gì luật cho phép”. Giữa hai thái cực ấy, đâu sẽ là ranh giới giữa luật công và luật tư?

Continue reading

THIẾU MINH BẠCH VẪN LÀ CĂN BỆNH NAN Y!

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty CP Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM VN

Có thể nói, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia mà sự thiếu minh bạch xảy ra ở khắp nơi và trong rất nhiều trường hợp, không cần phải có học thức cao hay dày công nghiên cứu, người dân bình thường cũng dễ dàng nhận thấy.

THIẾU MINH BẠCH Ở KHẮP NƠI

Thiếu minh bạch về thu nhập của cả từng cá nhân và của các doanh nghiệp là điều dễ nhận thấy nhất. Trước hết là với từng cá nhân. Toàn dân Việt Nam không có nghĩa vụ và trong rất nhiều trường hợp không thể giải thích được nguồn gốc của số tài sản mình đang sở hữu. Nghiêm trọng hơn cả là với các công chức, quan chức trong bộ máy công quyền. Đã hàng nghìn lần và không ít công dân đặt ra câu hỏi: một công chức – nhân viên bình thường – trong ngành thuế, hải quan, nhà đất, quản lý thị trường, công an… với mức lương thường được đánh giá là "không đủ sống trong 20 ngày của một tháng" nhưng lấy tiền đâu ra để mua sắm xe hơi, nhà lầu, đất đai và có một cuộc sống vương giả? Một quan chức, tuy thu nhập có cao hơn một nhân viên bình thường, nhưng lấy tiền ở đâu để cho con đi du học nước ngoài với học phí từ hàng chục đến hàng trăm nghìn đô la mỗi tháng? Những câu hỏi ấy không ai trả lời. Một nghịch lý từ lâu vẫn tồn tại như sự thách thức đối với dư luận, đó là, công chức, quan chức Việt Nam đi làm cho Nhà nước để nhận lương nhưng không sống bằng lương; không sống bằng lương nhưng hầu như không ai bỏ việc. Ngược lại, "cuộc chiến" để tranh giành các ghế quan chức lại luôn luôn nóng bỏng!

Trong một bộ phận doanh nghiệp, sự thiếu minh bạch cũng xay ra nghiêm trọng. Ở một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, theo báo cáo tài chính thì doanh nghiệp lỗ triền miên, thậm chí số lỗ cộng dồn sau 3 đến 5 năm lớn gấp 5-6 lần vốn điều lệ, nhưng tài sản cá nhân của ông chủ doanh nghiệp thì tăng lên gấp nhiều lần sau mỗi năm. Vì sao vậy? Ở khá nhiều doanh nghiệp nhà nước thì ngược lại. Doanh nghiệp thua lỗ nặng nề và kéo dài nhưng các báo cáo tài chính (đã được kiểm toán) lại cho thấy là doanh nghiệp đang có lãi lớn và doanh nghiệp dễ dàng được vay vốn từ ngân hàng với số tiền hàng trăm tỷ đồng, nhanh chóng được tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán… Sự thật chỉ bị phơi bày khi khả năng thanh toán bị triệt tiêu. Vì sao lại có hiện tượng ấy? Câu hỏi trên cũng không có ai trả lời!

Continue reading

Bảo hộ sở hữu công nghiệp, đặc biệt là bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu) TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Cục Sở hữu công nghiệp

I. Một số vấn đề chung về bảo hộ sở hữu công nghiệp

1. Định nghĩa về sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình được tạo nên bởi trí tuệ của con người và được pháp luật bảo hộ.

Sở hữu trí tuệ có hai phần:

– Quyền tác giả (bản quyền): bao gồm quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, xã hội… (trong luật Việt Nam và nhiều nước khác, bao gồm cả phần mềm máy tính).

– Sở hữu công nghiệp: bao gồm:

+ Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Giải pháp hữu ích: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và có thể dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

+ Nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu): là những dấu hiệu bằng từ, ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó dùng để phân biệt hàng hoá hay dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.

+ Tên gọi xuất xứ hàng hoá: là tên địa lý của nước, vùng, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những hàng hoá này phải có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố trên.

Continue reading

BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP, ĐẶC BIỆT LÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ (THƯƠNG HIỆU) TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Cục Sở hữu công nghiệp

I. Một số vấn đề chung về bảo hộ sở hữu công nghiệp

1. Định nghĩa về sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình được tạo nên bởi trí tuệ của con người và được pháp luật bảo hộ.

Sở hữu trí tuệ có hai phần:

– Quyền tác giả (bản quyền): bao gồm quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, xã hội… (trong luật Việt Nam và nhiều nước khác, bao gồm cả phần mềm máy tính).

– Sở hữu công nghiệp: bao gồm:

+ Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Giải pháp hữu ích: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và có thể dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

+ Nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu): là những dấu hiệu bằng từ, ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó dùng để phân biệt hàng hoá hay dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.

+ Tên gọi xuất xứ hàng hoá: là tên địa lý của nước, vùng, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những hàng hoá này phải có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố trên.

Continue reading

BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI

THS. NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Ngoại thương

Trong thời kỳ hội nhập, nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) được coi là tài sản quí giá của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua cũng đã nhận thức được rằng, NHHH là công cụ cạnh tranh cực kỳ quan trọng. Gần đây, hàng loạt các vụ tranh chấp về NHHH giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp Việt Nam và giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài là những hồi chuông cảnh báo nguy hiểm cận kề nếu doanh nghiệp Việt Nam không chú trọng đến việc xây dựng và bảo hộ NHHH của mình trên thị trường trong và ngoài nước.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn đề cập đến 3 vấn đề: thứ nhất, hiểu thế nào cho đúng về NHHH; Thứ hai, hoạt động bảo hộ NHHH của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước; Thứ ba, thủ tục đăng ký bảo hộ NHHH theo thoả ước Madrid.

1. Nhãn hiệu hàng hoá là gì?

Điều 785 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “NHHH là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”.

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới WIPO thì “NHHH là bất kỳ dấu hiệu nào giúp chỉ rõ hàng hoá của một doanh nghiệp và phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp với hàng hoá của doanh nghiệp khác”.

Như vậy, NHHH nói chung là dấu hiệu nhằm phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác.

Các đối tượng bảo hộ sở hữu trí tuệ còn đề cập đến các khái niệm khác bao gồm:

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 320/BC-UBTVQH12 NGÀY 12 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội (tháng 11/2009) các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Trọng tài thương mại. Sau kỳ họp, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp đã phối hợp với Hội luật gia Việt Nam và các cơ quan hữu quan tổ chức nhiều hội nghị lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong nước và nước ngoài, gửi xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và các cơ quan hữu quan, tổ chức tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật. Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Trọng tài thương mại như sau:

1. Về tên gọi của dự thảo Luật

Có ý kiến đề nghị lấy tên luật là Luật Trọng tài hoặc Luật thủ tục giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại.

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, tên gọi của Luật này được quyết định bởi phạm vi điều chỉnh của Luật và phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Vì vậy, nếu lấy tên luật là Luật Trọng tài thì phạm vi điều chỉnh quá rộng; còn nếu lấy tên luật là Luật Thủ tục giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại, thì không bao quát được hết các nội dung của Luật này vì theo quy định của dự thảo Luật thì ngoài việc quy định trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài, thi hành phán quyết trọng tài, phạm vi điều chỉnh còn quy định cả những nội dung khác như: thẩm quyền của Trọng tài, hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động Trọng tài. Như vậy, với phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài được quy định trong Luật này là những tranh chấp phát sinh chủ yếu từ hoạt động thương mại nên lấy tên gọi là Luật Trọng tài thương mại là phù hợp.

Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được giữ nguyên tên gọi của dự thảo Luật.

2. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên; về tổ chức trọng tài nước ngoài, trọng tài viên nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cho phù hợp với quy định tại Chương XII của dự thảo Luật vào phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật.

Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, đồng thời để phù hợp với nội dung của dự thảo Luật, Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh được chỉnh lý như sau: “Luật này quy định về thẩm quyền của Trọng tài thương mại, các hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, Trọng tài viên; trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài; thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài, tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, thi hành phán quyết trọng tài.”

Continue reading