THAY ĐỔI CẤU TRÚC KINH TẾ Ở VIỆT NAM – CÁCH TIẾP CẬN, PHÂN TÍCH I-O

GS.TS. NGUYỄN KHẮC MINH & TS. NGUYỄN VIỆT HÙNG

Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân tích thay đổi cấu trúc và nguồn tăng trưởng công nghiệp ở Việt Nam thời kỳ 1989 – 2005 bằng việc sử dụng các bảng vào ra (I-O) của Việt Nam năm 1989, 1996, 2000 do Tổng cục Thống kê công bố và bảng I-O mới nhất do nhóm tư vấn chính sách Bộ Tài chính xây dựng vào năm 2005.

Để có thể phân tích, đánh giá thay đổi cấu trúc và nguồn tăng trưởng đầu ra cho các ngành công nghiệp ở Việt Nam từ năm 1989 đến 2005, chúng tôi đã gộp các ngành trong từng bản I-O thành 52 ngành và cả bốn bản I-O này được tính theo giá so sánh năm 2000. Dựa trên mô hình I-O tĩnh, để phân rã những thay đổi trong các thành phần cấu thành tổng cầu đối với nền kinh tế Việt Nam, chúng tôi đã phân rã những thay đổi trong đầu ra của mỗi ngành thành 4 nguồn: tăng cầu trong nước, mở rộng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu, và thay đổi trong các hệ số vào ra. Sự phân rã này giúp ta mô tả được một số đặc trưng cơ bản của quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam trong thời gian qua.

I. GIỚI THIỆU

Sau khi Wassily Leontief giới thiệu mô hình vào-ra trong bài nghiên cứu “cấu trúc của nền kinh tế Hoa kỳ” năm 1941 [5], kể từ đó đến nay việc phân tích thay đổi cấu trúc kinh tế và nguồn tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hoặc hoặc vùng lãnh thổ ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới. Trong các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này phải kể đến các nghiên cứu như:
Chenery. H.B năm 1960 [2], nghiên cứu mối quan hệ giữa công nghiệp hoá và xuất khẩu dựa trên mô hình phân tích vào ra tĩnh, đã phân tích ảnh hưởng của thay đổi trong cấu trúc cầu, thương mại và sản xuất trong thời kỳ 15-20 năm ở một số nước bán công nghiệp, đồng thời so sánh ảnh hưởng chủ yếu của các loại chính sách thương mại và phát triển khác nhau trong tăng trưởng công nghiệp và thay đổi cấu trúc.
De Melo (1970) đã so sánh các nguồn tăng trưởng và thay đổi cơ cấu giữa tám nước trên thế giới bằng mô hình vào- ra và chỉ ra rằng có nhiều khác nhau trong đóng góp vào tăng trưởng của các thành phần cầu cuối cùng, đặc biệt đối với mở rộng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngoài việc sử dụng mô hình vào-ra tĩnh để phân rã các nguồn tăng trưởng và thay đổi cơ cấu, họ cũng sử dụng mô hình vào-ra động để nghiên cứu những tác động của những thay đổi theo ngành của cầu cuối cùng đối với tăng trưởng.

Continue reading

GỠ RỐI VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC

TRƯƠNG TRỌNG HIẾU

Hiện nay những quy định về xác định thời điểm có hiệu lực của các hợp đồng về quyền sử dụng đất trong các văn bản có liên quan đã lộ rõ sự bất hợp lý, cần được xem xét lại.

Bằng quy định tại khoản 4, điều 146, Nghị định 181/2004/NĐ-CP khẳng định: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất…”.

Quy định này từ đó đã tạo ra nhiều vướng víu khi xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Về vấn đề này, theo chúng tôi, có hai nội dung cần được làm rõ và điều chỉnh lại trong các nội dung quy định của pháp luật.

Thứ nhất, xác định lại thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên tham gia. Vì đó là thời điểm chính thức làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của họ liên quan đến hợp đồng đó.

Để xác định thời điểm đó, Bộ luật Dân sự yêu cầu phải dựa vào từng loại hợp đồng. Đối với các hợp đồng mà pháp luật đòi hỏi bắt buộc phải có công chứng, chứng thực thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính kể từ thời điểm được công chứng, chứng thực. Hợp đồng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất thuộc trường hợp này nên thời điểm có hiệu lực của chúng cũng được tính như vậy. Bỏ qua lý do bắt buộc phải tuân thủ Bộ luật Dân sự như một văn bản gốc, đây là cách thức mà pháp luật đất đai của chúng ta lựa chọn từ trước và cách lựa chọn đó theo chúng tôi là phù hợp.

Thứ hai, xác định thời điểm chuyển dịch quyền sử dụng đất.

Trong các hợp đồng mua bán tài sản thông thường khác, giá trị nội dung quan trọng của nó là việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản. Vì lẽ đó, cực kỳ cần thiết khi xác định thời điểm dịch chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ người bán sang người mua.

Continue reading