CÔNG ƯỚC SỐ 182 – CÔNG ƯỚC VỀ VIỆC CẤM VÀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG TỨC THỜI ĐỂ LOẠI BỎ NHỮNG HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ NHẤT

Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế.

Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơnevơ, ngày 1 tháng 6 năm 1999 trong khoá họp lần thứ 87.

Xem xét nhu cầu thông qua những văn kiện mới để cấm và loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất là một ưu tiên chính trong hành động quốc gia và quốc tế , bao gồm cả hợp tác và trợ giúp quốc tế để bổ sung cho Công ước và khuyến nghị về tuổi tối thiểu được chấp nhận làm việc, năm 1973, hiện vẫn là văn kiện cơ bản về lao động trẻ em,

Thấy rằng việc loại bỏ có hiệu quả những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất đòi hỏi phải hành động tức thời và toàn diện có xem xét đến ý nghĩa của việc giáo dục cơ bản miễn phí và sự cần thiết đưa những trẻ em có liên quan ra khỏi tất cả những công việc như vậy và giúp các em phục hồi và hoà nhập xã hội trong khi đáp ứng những nhu cầu của gia đình các em,

Nhắc lại Nghị quyết về việc loại bỏ lao động trẻ em được Hội nghị lao động quốc tế thông qua ở khoá họp lần thứ 83 năm 1996,

Nhận thấy rằng sự nghèo khó ở một mức độ lớn là nguyên nhân của lao động trẻ em, và thấy rằng những giải pháp lâu dài cho vấn đề này là sự tăng trưởng kinh tế bền vững dẫn đến những tiến bộ xã hội đặc biệt là xoá bỏ nghèo khổ và giáo dục phổ cập,

Nhắc lại Công ước về quyền trẻ em được Đại hội đồng liên hiệp quốc thông qua vào ngày 20 tháng 11 năm 1989,

Continue reading

Tìm hiểu về nội dung thể chế TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

VŨ QUANG VIỆT (Tác giả xin thành thật cám ơn anh Lê Văn Cường, Trần Hải Hạc, Trần Hữu Dũng và Ngô Thanh Nhàn đã đọc kỹ bản thảo đầu và chỉ ra các sai sót và những điểm cần bổ túc. Những sai sót còn lại là do tác giả. 13/07/1999)

Đảng CS Việt Nam xác định Việt Nam là một nền kinh tế thị trường theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” hay nhiều khi cụ thể hơn là “nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước, gồm nhiều thành phần nhưng lấy thành phần kinh tế quốc doanh làm chủ đạo.” Mục đích ngắn và trung hạn là “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN.” 1 Mục đích dài hạn là “xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giầu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.”2 Như vậy ít ra trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, nhà nước chấp nhận thể chế kinh tế thị trường.

Thể chế (institutions) nói chung là một hệ thống ý niệm bao gồm năm khía cạnh khác nhau áp dụng cho một tập thể hay tổ chức xã hội: (1) tập tục, tập quán được chấp nhận rộng rãi, hoặc luật chơi (luật lệ) được một tổ chức xã hội chấp nhận; (2) hình thức cần thiết để tập thể quyết định luật chơi cho tập thể đó; (3) hình thức cần thiết để thực thi luật chơi; (4) hình thức cần thiết để giải quyết tranh chấp khi có sự hiểu biết khác nhau về luật chơi; và cuối cùng là (5) hình thức cần thiết để xử lý khi có thành viên vi phạm luật chơi.3

Tập thể nào, dù nhỏ như gia đình, cũng cần đến một hệ thống thể chế thành văn hay không thành văn để bảo đảm sự tồn tại của tập thể đó. Thể chế có thể dựa trên áp đặt hoặc được xây dựng trên tinh thần tự nguyện. Sự tồn tại lâu dài của tập thể xã hội, hay ngược lại một hình thức thể chế nào đó chứng tỏ rằng tập thể đó chấp nhận thể chế đó và đã đóng góp vào qúa trình hình thành cũng như thay đổi thể chế cho phù hợp với sự phát triển của xã hội đó. Trong ý nghĩa trên, tìm hiểu về kinh tế thị trường là tìm hiểu nội dung, hình thức tập quán, luật chơi và cơ chế vận hành nó khiến nó không những tiếp tục tồn tại cho đến ngày hôm nay mà còn ngày càng được chấp nhận rộng rãi hơn. Không những thế, có người còn cho rằng kinh tế thị trường là thể chế cần thiết (điều kiện cần) để xác lập một xã hội dân sự dân chủ.4 Cho đến nay ngày càng ít người hoài nghi về điều nhận xét cuối cùng này, vì rõ ràng là kinh tế thị trường đã đem đến nhiều tự do quyết định hơn cho người sản xuất và người tiêu dùng.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ NỘI DUNG THỂ CHẾ TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

VŨ QUANG VIỆT (Tác giả xin thành thật cám ơn anh Lê Văn Cường, Trần Hải Hạc, Trần Hữu Dũng và Ngô Thanh Nhàn đã đọc kỹ bản thảo đầu và chỉ ra các sai sót và những điểm cần bổ túc. Những sai sót còn lại là do tác giả. 13/07/1999)

Đảng CS Việt Nam xác định Việt Nam là một nền kinh tế thị trường theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” hay nhiều khi cụ thể hơn là “nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước, gồm nhiều thành phần nhưng lấy thành phần kinh tế quốc doanh làm chủ đạo.” Mục đích ngắn và trung hạn là “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN.” 1 Mục đích dài hạn là “xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giầu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.”2 Như vậy ít ra trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, nhà nước chấp nhận thể chế kinh tế thị trường.

Thể chế (institutions) nói chung là một hệ thống ý niệm bao gồm năm khía cạnh khác nhau áp dụng cho một tập thể hay tổ chức xã hội: (1) tập tục, tập quán được chấp nhận rộng rãi, hoặc luật chơi (luật lệ) được một tổ chức xã hội chấp nhận; (2) hình thức cần thiết để tập thể quyết định luật chơi cho tập thể đó; (3) hình thức cần thiết để thực thi luật chơi; (4) hình thức cần thiết để giải quyết tranh chấp khi có sự hiểu biết khác nhau về luật chơi; và cuối cùng là (5) hình thức cần thiết để xử lý khi có thành viên vi phạm luật chơi.3

Tập thể nào, dù nhỏ như gia đình, cũng cần đến một hệ thống thể chế thành văn hay không thành văn để bảo đảm sự tồn tại của tập thể đó. Thể chế có thể dựa trên áp đặt hoặc được xây dựng trên tinh thần tự nguyện. Sự tồn tại lâu dài của tập thể xã hội, hay ngược lại một hình thức thể chế nào đó chứng tỏ rằng tập thể đó chấp nhận thể chế đó và đã đóng góp vào qúa trình hình thành cũng như thay đổi thể chế cho phù hợp với sự phát triển của xã hội đó. Trong ý nghĩa trên, tìm hiểu về kinh tế thị trường là tìm hiểu nội dung, hình thức tập quán, luật chơi và cơ chế vận hành nó khiến nó không những tiếp tục tồn tại cho đến ngày hôm nay mà còn ngày càng được chấp nhận rộng rãi hơn. Không những thế, có người còn cho rằng kinh tế thị trường là thể chế cần thiết (điều kiện cần) để xác lập một xã hội dân sự dân chủ.4 Cho đến nay ngày càng ít người hoài nghi về điều nhận xét cuối cùng này, vì rõ ràng là kinh tế thị trường đã đem đến nhiều tự do quyết định hơn cho người sản xuất và người tiêu dùng.

Continue reading

Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền kinh tế Việt Nam NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

TRỊNH MINH TÂM

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn không ít hạn chế. Vì vậy, làm thế nào để thu hút tối đa nguồn FDI vào Việt Nam và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này là vấn đề cần được quan tâm hiện nay.

Hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế. Từ một nước có tốc độ phát triển kinh tế chậm, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển cao và ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới. FDI đã được nhìn nhận như là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể hiện thông qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế như: Bổ sung nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, FDI cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.

Những thành tựu…

Việt Nam thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (1987) trong bối cảnh kinh tế – xã hội còn phát triển ở mức rất thấp, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, khoa học và công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực dồi dào nhưng phần lớn trong lĩnh vực nông nghiệp và chưa qua đào tạo. Từ khi thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (nay là Luật Đầu tư năm 2005) đến nay, FDI đã góp phần tích luỹ vốn và tăng thu ngân sách cho Việt Nam. Thời kỳ 1996-2000, không kể nguồn thu từ dầu thô, các doanh nghiệp có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách từ khối doanh nghiệp có vốn FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng hai năm 2006-2007 khu vực có vốn FDI đã nộp ngân sách trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005. Tính đến hết tháng 6.2009, Việt Nam có 10.409 dự án FDI với tổng mức vốn đầu tư đăng ký hơn 164,6 tỷ USD1.

Continue reading

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

TRỊNH MINH TÂM

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn không ít hạn chế. Vì vậy, làm thế nào để thu hút tối đa nguồn FDI vào Việt Nam và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này là vấn đề cần được quan tâm hiện nay.

Hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế. Từ một nước có tốc độ phát triển kinh tế chậm, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển cao và ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới. FDI đã được nhìn nhận như là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể hiện thông qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế như: Bổ sung nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, FDI cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.

Những thành tựu…

Việt Nam thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (1987) trong bối cảnh kinh tế – xã hội còn phát triển ở mức rất thấp, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, khoa học và công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực dồi dào nhưng phần lớn trong lĩnh vực nông nghiệp và chưa qua đào tạo. Từ khi thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (nay là Luật Đầu tư năm 2005) đến nay, FDI đã góp phần tích luỹ vốn và tăng thu ngân sách cho Việt Nam. Thời kỳ 1996-2000, không kể nguồn thu từ dầu thô, các doanh nghiệp có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách từ khối doanh nghiệp có vốn FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng hai năm 2006-2007 khu vực có vốn FDI đã nộp ngân sách trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005. Tính đến hết tháng 6.2009, Việt Nam có 10.409 dự án FDI với tổng mức vốn đầu tư đăng ký hơn 164,6 tỷ USD1.

Continue reading

2 TRƯỜNG HỢP CÔNG CHỨC ĐƯỢC HƯỞNG CHẾ ĐỘ THÔI VIỆC

ĐỨC TRUNG (Theo Nghị định số 46/2010/NĐ-CP)

Thực thi Luật Cán bộ, công chức đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2010, Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức. Đây cũng là Nghị định thứ 4 của Chính phủ kể từ đầu năm đến nay quy định những vấn đề liên quan đến công chức.

Theo Nghị định, có 2 trường hợp công chức được hưởng chế độ thôi việc. Trường hợp thứ nhất là theo nguyện vọng và được cơ quan, tổ chức, đơn vị (CQ-TC-ĐV) có thẩm quyền đồng ý. Trường hợp thứ 2 là do công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức.

Trường hợp công chức xin thôi việc theo nguyện vọng, phải làm đơn gửi CQ-TC-ĐV có thẩm quyền xem xét. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, CQ-TC-ĐV có thẩm quyền phải ra quyết định thôi việc bằng văn bản nếu đồng ý, còn nếu không đồng ý cho công chức thôi việc thì cũng phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Với trường hợp thôi việc do công chức 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ, trong thời gian 30 ngày kể từ ngày có kết quả phân loại đánh giá công chức, CQ-TC-ĐV có thẩm quyền thông báo bằng văn bản đến công chức đó về việc giải quyết thôi việc đến công chức, trừ trường hợp khác quy định tại Luật Công chức. Cũng với thời hạn 30 ngày kể từ ngày có thông báo bằng văn bản, CQ- TC- ĐV ra quyết định thôi việc đối với công chức. Kể từ ngày quyết định thôi việc được ban hành, CQ-TC-ĐV phải có trách nhiệm thanh toán trợ cấp thôi việc đối với công chức trong thời hạn 30 ngày.

Mức hưởng trợ cấp thôi việc

Công chức thôi việc theo quy định tại Nghị định này, cứ mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 tháng lương hiện hưởng gồm: mức lương theo ngạch, bậc, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung,  phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có). Mức trợ cấp thấp nhất bằng 1 tháng lương hiện hưởng.

Continue reading

QUI TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ: VẤN ĐỀ ĐANG NỔI LÊN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM

THS. NGUYỄN CHIẾN THÁNG – Viện Kinh tế, Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam

1. Mở đầu

Nếu như quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa đã có ý nghĩa quan trọng từ lâu trong các hiệp định thương mại quốc tế, thì quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ mới chỉ thu hút sự chú ý trong thời gian gần đây, khi vai trò của thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng và thế giới đang chứng kiến sự ra đời đến chóng mặt các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và khu vực, đặc biệt là khu vực châu á – Thái Bình Dương, như một lối thoát đối với một số nước trong khu vực trước những bước tiến chậm chạp của quá trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ đàm phán đa phương WTO. Vấn đề các nước quan tâm là quy tắc xuất xứ cần phải được thiết kế như thế nào để đưa vào các hiệp định thương mại tự do, nhằm hạn chế việc các bên thứ ba hưởng những ưu đãi thương mại trong dịch vụ mà đáng ra chỉ được trao cho các bên ký kết hiệp định.

Đối với trường hợp Việt Nam, hiện nay chúng ta đang tham gia vào Hiệp định thương mại tự do khu vực ASEAN và cũng đang xúc tiến tìm kiếm các thỏa thuận thương mại tự do song phương với các đối tác quan trọng như Nhật Bản hay một số đối tác thương mại khác. Trước xu thế thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng, việc áp dụng quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ trong Hiệp định Khung về thương mại dịch vụ ASEAN (ASEAN Framework Agreement on Services, gọi tắt là AFAS) hay các hiệp định thương mại tự do song phương khác mà Việt Nam đang tìm kiếm là một điều hoàn toàn có thể. Do vậy, việc tìm hiểu rõ nội dung của khái niệm này cùng với tác động của nó đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ là hết sức cần thiết.

Với mục đích trên, nghiên cứu này được chia làm 2 phần. Phần đầu trình bày khái niệm quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ, tầm quan trọng của quy tắc này trong thương mại quốc tế, và các tiêu chí áp dụng trong thực tế. Trong phần thứ hai, tác giả mô phỏng tác động của các tiêu chí trên (nếu được áp dụng trong Hiệp định AFAS) đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (ĐTNN) từ các nước ngoài khối ASEAN trong ngành vận tải biển của Việt Nam – là một ngành dịch vụ có mức độ hội nhập sâu với nền kinh tế trong khu vực cũng như thế giới.

2. Khái niệm

2.1. Quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ là gì?

MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN: KINH NGHIỆM TỪ ĐỨC

PHẠM ĐỨC TRUNG – Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trên thế giới hiện chỉ ba nước có quy định riêng điều chỉnh tập đoàn: Đức (German Aktiengesetz – 1965), Bồ Đào Nha (“Código das Sociedades Comerciais”) và Brazil (“Lei das Sociedades Anónimas” of 1976). Trong đó Đức được coi là một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Bài viết dưới đây được coi như gợi ý trong việc xây dựng mô hình tập đoàn kinh tế (TĐKT) tư nhân tại VN.

Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, đa số quan niệm TĐKT là nhóm, tập hợp, tổ hợp các DN độc lập. Hầu hết không quy định về TĐKT với tư cách một chủ thể pháp luật. Tuy nhiên Đức và một vài nước khác là những trường hợp đặc thù.

Đức không có luật, nghị định riêng về TĐKT nhưng TĐKT – Konzern là đối tượng điều chỉnh của một số quy định trong pháp luật về tổ chức DN.

Các mô hình tổ chức

Có hai mô hình chủ đạo Unterordnungskonzern: Tập đoàn kinh tế phụ thuộc hoặc tập đoàn kinh tế theo thứ bậc và Gleichordnungkonzernen: Tập đoàn kinh tế đồng cấp hoặc tập đoàn kinh tế không phụ thuộc.

Đối với TĐKT đồng cấp, vị thế bình đẳng giữa các DN thành viên (không có DN chi phối). Các DN tự ký kết hợp đồng để hình thành sự chỉ đạo thống nhất (cho phù hợp với khái niệm TĐKT của luật). Họ cùng nhau hình thành một cơ quan lãnh đạo tập đoàn (dưới hình thức một hội đồng tham vấn hoặc tương tự). Tuy nhiên, hiện mô hình này không phổ biến và ít được pháp luật điều chỉnh.

Mô hình TĐKT phụ thuộc hoặc TĐKT theo thứ bậc hiện diễn ra phổ biến ở Đức. Theo đó các DN bị chi phối hoạt động dưới sự lãnh đạo của DN chi phối. Có ba dạng liên kết: Liên kết thâu tóm; Liên kết hợp đồng; Liên kết theo tình huống. Liên kết thâu tóm gồm: Cty bị thâu tóm vẫn là pháp nhân độc lập nhưng thực tế như một bộ phận kinh doanh của Cty nắm quyền chi phối. Quan hệ này rất gần với quan hệ hợp nhất và sáp nhập.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CÔNG TY VÀ NHÀ HÀNG, AI LÀ “PHỐ HỘI”?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và công nghệ

Ngày 7.11.1995, Khách sạn mini Phố Hội do ông H.N.T làm chủ, được Cục SHCN (nay là Cục SHTT) cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu với tên gọi Mini Hotel Phố Hội, có hiệu lực đến ngày 17.1.2005. Tháng 11.2000, ông T làm thủ tục đăng ký thành lập Công ty TNHH Dịch vụ – Du lịch sinh thái Phố Hội (Công ty Phố Hội), Hội An và được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đầu năm 2005, Công ty Phố Hội tiếp tục làm thủ tục xin phép gia hạn và sửa đổi nhãn hiệu. Trên cơ sở này, ngày 4.3.2005, Cục SHTT chấp thuận nội dung sửa đổi với nhãn hiệu mới là “Công ty TNHH Dịch vụ – Du lịch sinh thái Phố Hội”, đồng thời gia hạn đến ngày 17.1.2015.

Từ năm 1993, tại số 69 Phan Châu Trinh, Hội An, bà L.T.V đã mở quán cơm bình dân với tên gọi Quán ăn Phố Hội. Đến năm 1999, bà V làm thủ tục đăng ký và được cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Theo quy định thì bà V phải treo bảng hiệu là DNTN “Phố Hội” tại các cơ sở kinh doanh đã được cấp phép, nhưng bà lại treo bảng hiệu “NHà HàNG PHố HộI II” tại số 38 Nhị Trưng B và “PHố HộI RESTAURANT” tại số 69 Phan Châu Trinh, cùng ở Hội An.

Mọi rắc rối về nhãn hiệu bắt đầu nảy sinh từ đây. Trong đó, đáng chú ý là ở cả hai bảng hiệu nêu trên, chữ “Phố Hội” đều có cách trình bày giống như chữ “PHố HộI” của Công ty Phố Hội – đã được bảo hộ độc quyền nhãn hiệu. Từ việc sử dụng trùng về dấu hiệu “Phố Hội”, nên ông T cho rằng, bà V đã vi phạm nhãn hiệu được Nhà nước bảo hộ của mình.

Continue reading

MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO VIỆT NAM

GS.TS. NGUYỄN TÀI THƯ – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trước hết, bài viết trình bày ba đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam: thứ nhất là về vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến, độc lập, tự chủ; thứ hai là về chiều hướng và động lực phát triển của Nho giáo Việt Nam; thứ ba là về bốn phong cách tư duy của Nho giáo Việt Nam. Tiếp đó, bài viết chỉ ra và phân tích ba nguyên nhân đã làm nên những đặc trưng đó, gồm: một là, sự truyền bá và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam đã diễn ra trong điều kiện không bình thường; hai là, chế độ phong kiến chuyên chế tông pháp ở Việt Nam chỉ cho phép Nho giáo phát triển theo một chiều hướng và trong phạm vi có lợi cho triều đình; và ba là, Nho giáo Việt Nam thiếu cơ sở vật chất cần thiết để phát triển.

Hiện có nhiều ý kiến khác nhau về đặc trưng của Nho giáo ở Việt Nam, như vấn đề ứng dụng trong thực tế, sáng tạo trong hành động, giản đơn trong lập luận, rập khuôn, giáo điều trong tư duy, v.v.. Vậy, đặc trưng của Nho giáo Việt Nam trong lịch sử là gì và vì sao lại có đặc trưng đó? Đó là những vấn đề hiện vẫn mang tính cấp bách và cần được nghiên cứu sâu hơn.

1. Một số đặc trưng cơ bản

Bản chất của một sự vật được bộc lộ ra phụ thuộc vào sự tiếp xúc của nó với môi trường xung quanh. Cũng như vậy, đặc trưng của Nho giáo ở Việt Nam được biểu hiện ra phụ thuộc vào các phương diện khảo sát khác nhau, mà từ mỗi một phương diện đó lại có thể đi tới những nhận thức khác nhau. Ở đây, tôi lựa chọn một số phương diện dễ thấy để tìm hiểu, đó là vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam, là chiều hướng và động lực vận động của Nho giáo Việt Nam và phong cách tư duy do sự hoạt động đó đưa lại.

Thứ nhất, vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến, độc lập, tự chủ.

Sau khi giành được độc lập dân tộc ở đầu thế kỷ X, Ngô Quyền đã xoá bỏ chế độ quận huyện của nhà Hán và xây dựng nên một chính thể độc lập, tự chủ. Nhưng, con người làm nên lịch sử Việt Nam lúc đó là dựa trên di sản của thời kỳ Bắc thuộc để lại, gồm cơ cấu xã hội, con người, học thuyết, tín ngưỡng, trong đó có Nho giáo.

Continue reading

CÔNG TY NẮM VỐN – HÌNH THỨC ĐỂ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀO LĨNH VỰC BẢO HIỂM THEO LUẬT HOA KỲ

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Bài viết khảo cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn hình thành công ty nắm vốn trong lĩnh vực tài chính – công ty đầu tư tài chính ở Hoa kỳ. Mô hình công ty này cho phép định chế tài chính là ngân hàng khả năng sử dụng khả năng tài chính của chủ sở hữu để tham gia hoạt động tài chính đa dạng trong lĩnh vực bảo hiểm và chứng khoán thông qua hình thức thành lập công ty đầu tư tài chính theo Luật Gram-Leach-Billey. Công ty đầu tư tài chính được trao quyền tự chủ trong quyết định đầu tư, công ty đầu tư ngân hàng có thể chuyển đổi sang hình thức công ty đầu tư tài chính để tham gia kinh doanh bảo hiểm.

Để chuyển sang hình thức công ty đầu tư tài chính, các công ty con của nó phải đạt những tiêu chuẩn về tài chính nhất định. Khi công ty đầu tư tài chính sở hữu công ty bảo hiểm, thì công ty bảo hiểm ngoài sự chi phối của công ty đầu tư tài chính, còn chịu sự giám sát của Cục bảo hiểm của tiểu bang. Điểm mà Việt Nam có thể tham khảo là Luật hoá quyền tham gia đầu tư trong lĩnh vực tài chính của ngân hàng thương mại, và xây dựng cơ chế kiểm soát đầu tư vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm của ngân hàng.

Năm 1999, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Luật Gramm-Leach-Bliley – Luật cải cách chế độ tài chính (Luật GLB), Luật này đã cho phép thành lập công ty nắm vốn trong lĩnh vực tài chính – công ty đầu tư tài chính (Financial holding company – FHC), theo đó

các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính khác có thể hợp nhất hoặc sáp nhập vào nhau. Luật GLB được ban hành nhằm thúc đẩy sự năng động của ngân hàng thương mại và sử dụng ngân hàng thương mại là một tổ chức hỗ trợ tái thiết các công ty thuộc lĩnh vực tài chính.

Ở nước ta, gần đây các ngân hàng thương mại đã mở rộng hoạt động sang lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và bảo hiểm. Ngâ nhàng thương mại có thể kinh doanh bảo hiểm thông qua làm đại lý bảo hiểm tại các chi nhánh ngân hàng hoặc góp vốn thành lập công ty bảo hiểm. Cơ sở pháp lý cho hình thức tham gia này là Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc Hội ban hành năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Để được góp vốn vào công ty bảo hiểm, Ngân hàng thương mại phải bảo đảm các tỉ lệ an toàn trong hoạt động theo qui định của Ngân hàng Nhà nước.

Continue reading