TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN – Một số đối chiếu với quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ở các nước phát triển

THS. VŨ THỊ THANH TÚ – Khoa Luật, Đại học Tự Do Brussels, Bỉ (Trong chương trình nghiên cứu do Wallonie – Bruxelles International tài trợ)

Phương thức thực hiện quyền tác giả, quyền liên quan thông qua một tổ chức đại diện tập thể các tác giả, các chủ thể quyền là phương pháp mang tính thời đại và ngày càng chứng minh sự hiệu quả. Hình thức này xuất hiện từ thế kỉ 18 ở Pháp, sau đó phát triển sang các nước vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20[1]. Nhiều tổ chức với quy mô quốc tế cũng đã xuất hiện như : IFPI – Liên đoàn công nghiệp ghi âm quốc tế, CISAC – Liên đoàn quốc tế các công ty đại diện quyền của các tác giả và soạn giả, AGICOA – Hiệp hội quốc tế về đại diện tập thể các tác phẩm nghe nhìn, IFRRO – Liên đoàn quốc tế các tổ chức đại diện quyền sao chép…

Hiện nay, ở Việt Nam cũng có ba tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và quyền liên quan (ĐDTT QTG): VLCC – Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam, RIAV – Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam ; VCPMC – Trung tâm bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam. Các tổ chức này bắt đầu thu hút sự quan tâm, tham gia của tác giả và những người hoạt động trong lĩnh vực liên quan.

Tổ chức ĐDTT QTG là trung gian giữa chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan với người sử dụng tác phẩm nên bài viết tập trung vào mối quan hệ giữa tổ chức với từng chủ thể này, trên cơ sở các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan và về cạnh tranh. Bài viết sử dụng kiến thức Pháp luật và thực tế về ĐDTT QTG của Việt Nam và một số nước phát triển như Pháp, Mỹ, Anh… Cụ thể, bài viết lần lượt đi theo các nội dung sau :

1. Nguyên nhân ra đời tổ chức ĐDTT QTG

2. Phân loại tổ chức ĐDTT QTG

3. Giám sát việc thành lập và hoạt động của các tổ chức ĐDTT QTG

4. Mối quan hệ giữa tổ chức ĐDTT QTG và tác giả

5. Mối quan hệ giữa tổ chức ĐDTT QTG và người sử dụng tác phẩm

  1. Nguyên nhân ra đời của ĐDTT QTG

Tổ chức được thành lập nhằm hợp lý hóa việc quản lý QTG, đem lại quyền lợi cho cả tác giả và người sử dụng tác phẩm.

Continue reading

THAY THẾ ĐIỀU KHOẢN HỢP ĐỒNG

NGUYỄN TRUNG NAM  -  Công ty Luật EPlegal

Trong nhiều trường hợp khi các bên mua bán hàng hóa trao đổi qua lại rất nhiều đề nghị – đề nghị thay đổi đề nghị cũ bằng cả miệng và văn bản, việc xác định đề nghị nào sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên là hết sức khó khăn, đặc biệt là khi một hay hai bên đã tiến hành thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng.

Tranh chấp giữa bên bán (nguyên đơn) là một Cty của Italia với bên mua (bị đơn) là một Cty ở New York, Mỹ. Nội dung tranh chấp về mẫu hợp đồng, trong đó điều khoản trọng tài sẽ áp dụng theo thư đề nghị của bên nào.

Diễn biến tranh chấp

Bên mua gửi một đơn đặt hàng đến bên bán của Italia về việc mua 100.000 đôi giày tại biên giới Italia/Yugoslav tuân theo một mẫu hợp đồng khung về các điều khoản, trong đó có điều khoản về trọng tài xử tại Moscow. Ngoài ra, theo đơn hàng này bên mua phải mở Thư tín dụng cho bên bán trước mỗi đợt giao hàng. Bên bán chấp nhận đơn đặt hàng này bằng một thư xác nhận. Tuy nhiên có thông báo loại trừ điều khoản về trọng tài (trước tòa bên mua tuyên bố không hề nhận được thông báo này). Chỉ khoảng 5 tháng sau khi nhận được đơn đặt hàng, bên mua mới nhận được một văn bản khác của bên bán nêu rõ không chấp nhận áp dụng điều khoản trọng tài. Trong thời gian đó các bên đàm phán bằng miệng nhiều lần về điều khoản trọng tài, đồng thời các bên bắt đầu thực hiện hợp đồng trước khi đạt được thỏa thuận về điều khoản này. Bên mua đã mở thư tín dụng đầu tiên cho người thụ hưởng là bên bán và bên bán đã vận chuyển một phần hàng hóa theo thỏa thuận. Sau đó bên mua khiếu nại bên bán về lỗi hợp đồng và yêu cầu phân xử trọng tài tại Moscow theo mẫu hợp đồng khung ban đầu.

Tòa án cho rằng, tại thời điểm hợp đồng xác lập các bên tham gia hợp đồng có trụ sở tại Mỹ và Italia, vì vậy hợp đồng thuộc sự điều chỉnh của Công ước Vienna (CISG). Tòa đã xem xét các giao dịch trước đó của các bên và cho rằng từ rất nhiều giao dịch theo thông lệ của hai bên từ trước, bên bán có trách nhiệm phải cảnh báo bên mua kịp thời về việc mình không đồng ý áp dụng điều khoản trọng tài, trách nhiệm này còn cao hơn khi bên bán biết rằng bên mua đã mở thư tín dụng cho người thụ hưởng là bên bán. Tòa không chấp nhận lập luận bên bán cho rằng thư trả lời của bên bán từ chối áp dụng điều khoản trọng tài đã tạo thành một đề nghị thay thế đề nghị cũ vì thư này được gửi quá trễ. Ngược lại, việc bên bán đã vận chuyển một phần hàng hóa, cũng như sau đó vẫn tiếp tục dựa vào mẫu hợp đồng khung cho thấy bên bán đã chấp nhận đề nghị của bên mua thông qua hành động (Điều 18.1; 8.3 CISG). Cuối cùng, tòa kết luận hợp đồng đã được hình thành trên cơ sở đơn hàng ban đầu do bên mua gửi và được chấp nhận bởi bên bán.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: ĐI KIỆN THAY, BỊ KIỆN NGƯỢC

HOÀNG YẾN

Giúp thắng kiện nhưng lại bị kiện đòi trả lại thù lao. Nguyên đơn đã được hưởng lợi lớn trên thành quả lao động của bị đơn mà không phải chịu một khoản chi phí nào nên phải trả tiền thù lao còn thiếu cho bị đơn.

Mấy năm trước, Công ty D. đã ủy quyền cho Công ty H. kiện ra Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam đòi một đối tác phải tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa và bồi thường thiệt hại. Thù lao là 12.500 USD, đưa trước 9.500 USD.

Chưa kịp vui đã buồn

Một năm sau, trọng tài quốc tế đã buộc đối tác phải trả cho Công ty D. hơn 25.000 USD. Từ thắng lợi này, phía Công ty H. đã đánh tiếng yêu cầu Công ty D. phải thanh toán hết thù lao (3.000 USD).

Tuy nhiên, kiểm tra lại, Công ty D. phát hiện Công ty H. không có chức năng kinh doanh dịch vụ pháp lý. Do vậy, Công ty D. không trả mà khởi kiện, yêu cầu tòa tuyên bố hợp đồng vô hiệu, buộc Công ty H. phải trả lại số tiền đã nhận trước. Nguyên đơn sẽ hoàn trả cho bị đơn hơn 22 triệu đồng đã nộp phí trọng tài.

Xử sơ thẩm tháng 7-2007, TAND quận 11 (TP.HCM) đã tuyên bác yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời, tòa buộc nguyên đơn phải tiếp tục thanh toán cho bị đơn 3.000 USD còn lại như thỏa thuận ban đầu. Theo tòa, hợp đồng giữa hai bên được ký kết chặt chẽ và đã hoàn thành nên buộc các bên phải tuân theo.

Hợp đồng vô hiệu

Tuy nhiên, xử phúc thẩm, TAND TP.HCM đã tuyên sửa án, buộc hủy hợp đồng do vô hiệu bởi Công ty H. không chức năng kinh doanh dịch vụ pháp lý. Bị đơn phải hoàn trả thù lao đã nhận làm dịch vụ.

Continue reading