ĐẦU TƯ MẠO HIỂM – ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

TS. NGUYỄN NGHĨA

Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) là loại hình đầu tư thấy trước được nhiều rủi ro, nhưng nếu thành công sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Đây là phương thức đầu tư gắn liền với sự hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ cao. Bài viết dưới đây giới thiệu tóm tắt những nội dung cơ bản về ĐTMH và đề xuất mô hình Quỹ ĐTMH ở nước ta.

Hiện nay, nước ta đang ở trước ngưỡng cửa gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và hội nhập toàn diện với nền kinh tế thế giới. Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp muốn sinh tồn thì phải đổi mới công nghệ và doanh nghiệp nào có công nghệ cao, nhiều tài sản vô hình thì sẽ chiến thắng, cho nên ĐTMH là yếu tố quan trọng thúc đẩy hình thành doanh nghiệp công nghệ cao và phát triển công nghệ cao.

ĐTMH là vấn đề mới tại Việt Nam. Điểm đặc biệt của nó là gắn kết chặt chẽ với các yếu tố như thị trường công nghệ, thị trường vốn… Những vấn đề lý luận về ĐTMH, các bước ĐTMH và cơ chế đầu tư, nguồn vốn cũng như khâu rút vốn, chính sách thuế… là những vấn đề phức tạp, cần phải dành nhiều thời gian nghiên cứu.

Khái niệm cơ bản về ĐTMH

ĐTMH – (Venture Capital) là khái niệm có nội hàm đặc biệt, trên thực tế, có thể biên dịch thành đầu tư khởi nghiệp, vì mục đích chủ yếu của ĐTMH là hình thành các doanh nghiệp KH&CN hoặc doanh nghiệp công nghệ cao. Theo nghĩa rộng, là đầu tư vốn vào toàn bộ hoạt động kinh tế mang tính phát triển, sáng tạo, có độ mạo hiểm cao nhưng tiềm năng hiệu quả cũng cao. Theo nghĩa hẹp, ĐTMH thường là đầu tư vào sản xuất, kinh doanh sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.

Continue reading

NHÌN LẠI CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM

TRẦN TRÍ DŨNG – Công ty nghiên cứu DHVP – Phân tích Kinh tế Vebimo.com

Hơn 10 năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước tiến rất xa. Bên cạnh các ngân hàng thương mại nhà nước đã xuất hiện ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, các văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài và nhiều tổ chức tín dụng. Quan hệ cung – cầu ngày một hoàn thiện hơn trên thị trường tiền tệ, giao dịch tín dụng chịu sự điều tiết mạnh hơn từ cơ chế thị trường với nhiều lựa chọn hơn cho cả bên cung lẫn bên cầu. Ý nghĩa của một công cụ mang tính chất chuyển đổi như lãi suất cơ bản giảm dần.

Một bước phát triển mạnh mẽ trong cơ chế điều chỉnh lãi suất, sử dụng đa dạng các công cụ hiện đại, là tín hiệu tích cực cho thấy sự hiện diện – cả hình thức và nội dung – của hệ thống ngân hàng hai cấp. Kinh doanh năng động của các ngân hàng thương mại, với quyền tự chủ về chi phí đầu vào và giá bán đầu ra, duy trì mức thanh khoản tốt nhất cho thị trường tiền tệ – tín dụng. Các tổ chức tín dụng có điều kiện thực hành phân loại tốt hơn các khoản cho vay. Những mức lãi suất khác nhau được áp dụng cho đề xuất vay vốn có độ rủi ro khác nhau. Đó cũng là chuẩn bị cần thiết để hệ thống ngân hàng Việt Nam hội nhập sâu sắc và toàn diện hơn với hệ thống chuẩn mực kinh doanh ngân hàng của thế giới.

Cơ chế lãi suất của Việt Nam dần dịch chuyển từ kế hoạch hóa tập trung, tách biệt với mặt bằng lãi suất của kinh tế thế giới sang điều chỉnh linh hoạt, từng bước tự do hóa, hội nhập với hệ thống tài chính toàn cầu. Thời gian qua, cơ chế điều hành lãi suất đã có những thay đổi căn bản, nhất là từ khi hệ thống ngân hàng hai cấp được thiết lập(1).

Điều hành lãi suất giai đoạn 1996-2000

Trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động. Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay, NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0,35%/tháng (tương đương 4,2%/năm). Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế khu vực và thế giới. Tới cuối tháng 1-1998, quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ, chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay.

Continue reading

XÂY DỰNG KHÁI NIỆM NHÃN HIỆU TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

ĐÀO THỊ DIỄM HẠNH – Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Không phải là hàng hoá nhưng nhãn hiệu lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại. Nhãn hiệu là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Vì vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên, khái niệm nhãn hiệu vẫn chưa được hiểu thống nhất ở các quốc gia. Bài viết đề cập đến khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ – hai vùng lãnh thổ có truyền thống pháp luật lâu đời về nhãn hiệu, từ đó đề xuất đưa ra khái niệm nhãn hiệu cho Luật SHTT Việt Nam.

Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu1. Trong số này, có thể kể một số điều ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia như Công ước Paris 1883, Hệ thống Madrid, Hiệp định TRIPs. Tuy Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thống Madrid). Riêng TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu. Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định như sau:

Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.

Khái niệm này chỉ ra một số đặc điểm của nhãn hiệu. Thứ nhất, đó phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu. Các dấu hiệu đó có thể là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó. Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐIỀUTRA CHƯA KỸ, ĐÃ VỘI PHÁN QUYẾT

DƯƠNG QUỲNH HƯƠNG

Anh Nguyễn Thế Tiếng (sinh 1964) và chị Nguyễn Thị Kim Sang (sinh 1969) chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, quá trình chung sống hai người có 2 con chung. Trước khi chung sống với chị Sang ở thị xã Bạc Liêu, anh Tiếng sống ở thành phố Cà Mau và đã có một đời vợ, chị Tô Hồng Mai (ốm mất năm 1997) và hai con riêng là Nguyễn Thế Hiền (sinh 1986) và Nguyễn Thị Hồng Anh (sinh 1991); còn chị Sang sống ở tỉnh Đồng Tháp, đã có một đời chồng (ly hôn năm 1998) và một con trai riêng (chồng cũ nuôi).

Sau khi tự nguyện chung sống với nhau một thời gian, không đăng ký kết hôn, đến năm 2007 do mâu thuẫn trầm trọng nên hai bên không thể chung sống với nhau trong một nhà. Ngày 24.12.2007, TAND thị xã Bạc Liêu đã ra Quyết định số 26/2007/QĐST-HNGĐ về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó giao hai con chung cho chị Sang nuôi dưỡng, anh Tiếng có trách nhiệm đóng góp nuôi dưỡng một cháu; về phần tài sản, giao cho anh Tiếng toàn bộ nhà, đất và các vật kiến trúc khác gắn liền với đất tọa lạc tại số B04/27A, khóm Trà Kha A, phường 8, thị xã Bạc Liêu (phần nhà, đất này anh Tiếng mua do bán nhà cũ ở thành phố Cà Mau), còn anh Tiếng có trách nhiệm giao chị Sang 25 lượng vàng 24k (vàng 9999) khi anh Tiếng chuyển nhượng dãy nhà trọ trên mảnh đất có cùng địa chỉ nói trên.

Đến ngày 13.6.2008, Chánh án TAND tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định kháng nghị số 01/2008/QĐKN-DS đối với Quyết định số 26 ngày 24.12.2007 của TAND thị xã Bạc Liêu, theo đó đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh Bạc Liêu xét xử giám đốc thẩm hủy về phần tài sản đối với Quyết định nêu trên và giao hồ sơ cho TAND thị xã Bạc Liêu giải quyết lại, bởi vì anh Tiếng và chị Sang đều khai nhận nợ Ngân hàng Đông Á số tiền 600 triệu đồng chưa hết hạn hợp đồng nhưng cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng tham gia tố tụng. Tiếp đến, ngày 22.10.2008, TAND thị xã Bạc Liêu ra Quyết định số 14/2008/QĐST-HNGĐ về thay đổi việc nuôi con, theo đó anh Tiếng có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung mà không yêu cầu chị Sang cấp dưỡng nuôi con.

Continue reading