THIẾU MINH BẠCH VẪN LÀ CĂN BỆNH NAN Y!

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty CP Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM VN

Có thể nói, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia mà sự thiếu minh bạch xảy ra ở khắp nơi và trong rất nhiều trường hợp, không cần phải có học thức cao hay dày công nghiên cứu, người dân bình thường cũng dễ dàng nhận thấy.

THIẾU MINH BẠCH Ở KHẮP NƠI

Thiếu minh bạch về thu nhập của cả từng cá nhân và của các doanh nghiệp là điều dễ nhận thấy nhất. Trước hết là với từng cá nhân. Toàn dân Việt Nam không có nghĩa vụ và trong rất nhiều trường hợp không thể giải thích được nguồn gốc của số tài sản mình đang sở hữu. Nghiêm trọng hơn cả là với các công chức, quan chức trong bộ máy công quyền. Đã hàng nghìn lần và không ít công dân đặt ra câu hỏi: một công chức – nhân viên bình thường – trong ngành thuế, hải quan, nhà đất, quản lý thị trường, công an… với mức lương thường được đánh giá là "không đủ sống trong 20 ngày của một tháng" nhưng lấy tiền đâu ra để mua sắm xe hơi, nhà lầu, đất đai và có một cuộc sống vương giả? Một quan chức, tuy thu nhập có cao hơn một nhân viên bình thường, nhưng lấy tiền ở đâu để cho con đi du học nước ngoài với học phí từ hàng chục đến hàng trăm nghìn đô la mỗi tháng? Những câu hỏi ấy không ai trả lời. Một nghịch lý từ lâu vẫn tồn tại như sự thách thức đối với dư luận, đó là, công chức, quan chức Việt Nam đi làm cho Nhà nước để nhận lương nhưng không sống bằng lương; không sống bằng lương nhưng hầu như không ai bỏ việc. Ngược lại, "cuộc chiến" để tranh giành các ghế quan chức lại luôn luôn nóng bỏng!

Trong một bộ phận doanh nghiệp, sự thiếu minh bạch cũng xay ra nghiêm trọng. Ở một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, theo báo cáo tài chính thì doanh nghiệp lỗ triền miên, thậm chí số lỗ cộng dồn sau 3 đến 5 năm lớn gấp 5-6 lần vốn điều lệ, nhưng tài sản cá nhân của ông chủ doanh nghiệp thì tăng lên gấp nhiều lần sau mỗi năm. Vì sao vậy? Ở khá nhiều doanh nghiệp nhà nước thì ngược lại. Doanh nghiệp thua lỗ nặng nề và kéo dài nhưng các báo cáo tài chính (đã được kiểm toán) lại cho thấy là doanh nghiệp đang có lãi lớn và doanh nghiệp dễ dàng được vay vốn từ ngân hàng với số tiền hàng trăm tỷ đồng, nhanh chóng được tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán… Sự thật chỉ bị phơi bày khi khả năng thanh toán bị triệt tiêu. Vì sao lại có hiện tượng ấy? Câu hỏi trên cũng không có ai trả lời!

Continue reading

Bảo hộ sở hữu công nghiệp, đặc biệt là bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu) TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Cục Sở hữu công nghiệp

I. Một số vấn đề chung về bảo hộ sở hữu công nghiệp

1. Định nghĩa về sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình được tạo nên bởi trí tuệ của con người và được pháp luật bảo hộ.

Sở hữu trí tuệ có hai phần:

– Quyền tác giả (bản quyền): bao gồm quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, xã hội… (trong luật Việt Nam và nhiều nước khác, bao gồm cả phần mềm máy tính).

– Sở hữu công nghiệp: bao gồm:

+ Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Giải pháp hữu ích: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và có thể dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

+ Nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu): là những dấu hiệu bằng từ, ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó dùng để phân biệt hàng hoá hay dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.

+ Tên gọi xuất xứ hàng hoá: là tên địa lý của nước, vùng, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những hàng hoá này phải có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố trên.

Continue reading

BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP, ĐẶC BIỆT LÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ (THƯƠNG HIỆU) TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Cục Sở hữu công nghiệp

I. Một số vấn đề chung về bảo hộ sở hữu công nghiệp

1. Định nghĩa về sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình được tạo nên bởi trí tuệ của con người và được pháp luật bảo hộ.

Sở hữu trí tuệ có hai phần:

– Quyền tác giả (bản quyền): bao gồm quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, xã hội… (trong luật Việt Nam và nhiều nước khác, bao gồm cả phần mềm máy tính).

– Sở hữu công nghiệp: bao gồm:

+ Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Giải pháp hữu ích: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và có thể dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

+ Nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu): là những dấu hiệu bằng từ, ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó dùng để phân biệt hàng hoá hay dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.

+ Tên gọi xuất xứ hàng hoá: là tên địa lý của nước, vùng, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những hàng hoá này phải có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố trên.

Continue reading

BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI

THS. NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Ngoại thương

Trong thời kỳ hội nhập, nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) được coi là tài sản quí giá của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua cũng đã nhận thức được rằng, NHHH là công cụ cạnh tranh cực kỳ quan trọng. Gần đây, hàng loạt các vụ tranh chấp về NHHH giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp Việt Nam và giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài là những hồi chuông cảnh báo nguy hiểm cận kề nếu doanh nghiệp Việt Nam không chú trọng đến việc xây dựng và bảo hộ NHHH của mình trên thị trường trong và ngoài nước.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn đề cập đến 3 vấn đề: thứ nhất, hiểu thế nào cho đúng về NHHH; Thứ hai, hoạt động bảo hộ NHHH của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước; Thứ ba, thủ tục đăng ký bảo hộ NHHH theo thoả ước Madrid.

1. Nhãn hiệu hàng hoá là gì?

Điều 785 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “NHHH là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”.

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới WIPO thì “NHHH là bất kỳ dấu hiệu nào giúp chỉ rõ hàng hoá của một doanh nghiệp và phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp với hàng hoá của doanh nghiệp khác”.

Như vậy, NHHH nói chung là dấu hiệu nhằm phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác.

Các đối tượng bảo hộ sở hữu trí tuệ còn đề cập đến các khái niệm khác bao gồm:

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 320/BC-UBTVQH12 NGÀY 12 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội (tháng 11/2009) các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Trọng tài thương mại. Sau kỳ họp, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp đã phối hợp với Hội luật gia Việt Nam và các cơ quan hữu quan tổ chức nhiều hội nghị lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong nước và nước ngoài, gửi xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và các cơ quan hữu quan, tổ chức tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật. Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Trọng tài thương mại như sau:

1. Về tên gọi của dự thảo Luật

Có ý kiến đề nghị lấy tên luật là Luật Trọng tài hoặc Luật thủ tục giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại.

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, tên gọi của Luật này được quyết định bởi phạm vi điều chỉnh của Luật và phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Vì vậy, nếu lấy tên luật là Luật Trọng tài thì phạm vi điều chỉnh quá rộng; còn nếu lấy tên luật là Luật Thủ tục giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại, thì không bao quát được hết các nội dung của Luật này vì theo quy định của dự thảo Luật thì ngoài việc quy định trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài, thi hành phán quyết trọng tài, phạm vi điều chỉnh còn quy định cả những nội dung khác như: thẩm quyền của Trọng tài, hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động Trọng tài. Như vậy, với phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài được quy định trong Luật này là những tranh chấp phát sinh chủ yếu từ hoạt động thương mại nên lấy tên gọi là Luật Trọng tài thương mại là phù hợp.

Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được giữ nguyên tên gọi của dự thảo Luật.

2. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên; về tổ chức trọng tài nước ngoài, trọng tài viên nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cho phù hợp với quy định tại Chương XII của dự thảo Luật vào phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật.

Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, đồng thời để phù hợp với nội dung của dự thảo Luật, Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh được chỉnh lý như sau: “Luật này quy định về thẩm quyền của Trọng tài thương mại, các hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, Trọng tài viên; trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài; thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài, tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, thi hành phán quyết trọng tài.”

Continue reading

QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN KINH TẾ – NHỮNG THÁCH THỨC LỚN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Cty CP Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM Việt Nam

Tập đoàn kinh tế (TĐKT) không có tư cách pháp nhân, không phải một doanh nghiệp. Vì vậy, đặt vấn đề quản trị TĐKT dường như là vô nghĩa. Song, xét cả về lý thuyết và thực tiễn, vấn đề không đơn giản như vậy. TĐKT hình thành, tồn tại và phát triển được là nhờ những liên kết giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau. Do đó, quản trị TĐKT chính là quản trị những liên kết đó. Vậy, quản trị TĐKT có những đặc thù gì? Và từ những đặc thù đó, có những thách thức gì? Cần giải quyết những vấn đề gì để nâng cao năng lực quản trị trong các TĐKT ở nước ta hiện nay?

Đặc trưng của quản trị các TĐKT

“Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp gồm nhiều doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau, trong phạm vi một nước hay nhiều nước, tự nguyện liên kết với nhau theo những nguyên tắc và phương thức nhất định, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hoá lợi nhuận trong kinh doanh”. Đó là một trong những khái niệm về TĐKT. Khái niệm trên cho thấy, đặc điểm quan trọng nhất của TĐKT là không có tư cách pháp nhân. Trong khi đó, theo Luật Dân sự,  một doanh nghiệp, một công ty độc lập có tư cách pháp nhân lại có và buộc phải có đầy đủ bốn điều kiện: Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh mình trong các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Vì vậy, quản trị một công ty – một pháp nhân, tức là quản trị một “tổ chức chặt chẽ”. Hơn nữa, chính việc hình thành một cơ cấu tổ chức chặt chẽ lại trở thành một trong những biện pháp quan trọng để quản trị pháp nhân đó. Ngược lại, TĐKT thiếu cả bốn điều kiện của một pháp nhân và nhân tố quan trọng nhất của một TĐKT là “tự nguyện liên kết với nhau theo những nguyên tắc và phương thức nhất định”. Dó đó, quản trị TĐKT hoàn toàn khác với quản trị một công ty. Đối tượng của quản trị TĐKT không phải là một tổ chức được thành lập theo những quy định chặt chẽ của pháp luật; không phải là những quan hệ ngang, dọc, trên, dưới trong một bộ máy tổ chức; không phải là một số vốn đầu tư của TĐKT và cũng không phải những quan hệ pháp luật của nó với các TĐKT khác. Quản trị TĐKT là quản trị các mối quan hệ liên kết tự nguyện giữa các pháp nhân độc lập. Vì vậy, đối tượng của quản trị TĐKT là một “tập hợp mờ” trong quản lý. Đó là đặc trưng cơ bản và quan trọng nhất của việc quản trị TĐKT.

Continue reading