COI CHỪNG VI PHẠM HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG

signing a contract - photo/picture definition - signing a contract word and phrase imageLÊ TRỌNG DŨNG – Văn phòng Luật sư Gia Phạm

Vụ án dưới đây chỉ là một trong số rất nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng liên quan đến việc vi phạm hình thức ở Việt Nam.

Vợ chồng ông A rất thân với vợ chồng ông B và cho vợ chồng ông B mượn nhà để sinh sống. Khi cơ hội đến, vợ chồng ông A đã dùng căn nhà của mình đem thế chấp ngân hàng để vay tiền kinh doanh. Nhưng do việc làm ăn của vợ chồng ông A không thuận lợi, nợ nần quá nhiều, khiến vợ chồng ông B phải cho vợ chồng ông A vay tiền để trả ngân hàng và trang trải nợ nần.

Trước tình hình đó, vợ chồng ông A gợi ý bán căn nhà cho vợ chồng ông B. Sau nhiều lần thỏa thuận, hai bên đã lập bốn văn bản mua bán căn nhà có đầy đủ chữ ký của các bên nhưng không đem đi công chứng, chứng thực. Đang trong quá trình sang tên sổ đỏ, vợ chồng ông A lại làm đơn ra tòa yêu cầu hủy thỏa thuận mua bán căn nhà, buộc vợ chồng ông B phải trả lại nhà.

Qua các cấp xét xử, sơ thẩm rồi đến phúc thẩm, tòa án đều xác nhận việc mua bán căn nhà là có thực, song tuyên bố chấp nhận yêu cầu xin hủy thỏa thuận mua bán căn nhà của vợ chồng ông A và tuyên bố hợp đồng này vô hiệu. Lý do mà tòa án đưa ra là thỏa thuận mua bán căn nhà chưa được hai bên lập hợp đồng, công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, vi phạm quy định về hình thức hợp đồng.

Tuyên bố hợp đồng mua bán căn nhà vô hiệu, tòa án buộc ông vợ chồng ông B phải trả lại căn nhà; ngược lại, vợ chồng ông A có nghĩa vụ trả lại cho vợ chồng ông B tiền bán căn nhà đã nhận.

Vi phạm về hình thức hợp đồng

Nhằm đảm bảo lợi ích công cộng, sự quản lý của nhà nước, lợi ích của các bên tham gia hợp đồng cũng như lợi ích của người khác, pháp luật quy định hợp đồng liên quan đến tài sản lớn phải được thể hiện dưới một dạng hình thức nhất định.

Continue reading

MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁP ĐIỂN HÓA CỦA HOA KỲ

TRẦN VĂN LỢI – Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

Ý tưởng pháp điển hóa đã có từ rất sớm ở Mỹ. Căn cứ vào quá trình hình thành các Bộ tập hợp các đạo luật cho đến khi có các Bộ pháp điển, có thể thấy pháp điển hóa ở Mỹ có một quá trình lịch sử và nó hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Tất nhiên, cùng với ý chí, quyết tâm chính trị, Bộ pháp điển đã ngày càng được hoàn thiện và mau chóng trở thành công cụ quan trọng cho các nhà nghiên cứu, luật sư, công dân Mỹ.

Hiện nay tại Hoa Kỳ tồn tại song song hai Bộ pháp điển: United States Code (U.S Code) Bộ pháp điển gồm các đạo luật của Nghị viện và Code of Federal Regulations (C.F.R) Bộ pháp điển gồm các quy định của các cơ quan hành pháp liên bang.

Bộ pháp điển các luật liên bang – Bộ luật Hoa Kỳ (U.S. Code): Bộ pháp điển này chỉ chứa đựng những đạo luật của Nghị viện mà không có các quy định do cơ quan hành pháp ban hành trong quá trình lập quy. Bộ pháp điển U.S.Code được chia thành 50 chủ đề khác nhau, được tổ chức một cách logíc theo lĩnh vực lập pháp như: Nghị viện, Tổng thống, nông nghiệp, thuế quan, hải quan, giao thông, thương mại, nông nghiệp, giáo dục, tài chính – tiền tệ, phá sản,…. Theo lời nói đầu của Bộ pháp điển (U.S. Code) thì từ năm 1897 đến năm 1907 đã có một ủy ban tiến hành tập hợp được khối lượng lớn các luật nhưng chưa hoàn thành công việc này. Trong những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, một số nghị sỹ của Quốc hội đã khôi phục lại dự án pháp điển hóa và kết quả là Quốc hội đã thông qua Bộ pháp điển vào năm 1926. Cách làm Bộ pháp điển US.Code chính là pháp điển từng chủ đề một, chính thức hóa từng phần của Bộ pháp điển theo thời gian. Hiện tại, sau 85 năm, mới chỉ có 26 trong tổng số 50 chủ đề được chính thức hóa. Những chủ đề còn lại đang tồn tại dưới dạng “luật tham khảo” trong khi đó các luật gốc vẫn tiếp tục có hiệu lực.

Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang (C.F.R): Các quy định pháp luật hiện hành được pháp điển hóa, sắp xếp theo chủ đề gồm 50 chủ đề tương tự với Bộ pháp điển các luật của liên bang (U.S Code). Mỗi quyển của Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang được chia thành chương và phần. Các chương thường mang tên của cơ quan ban hành. Số lượng tập của mỗi quyển – lĩnh vực khác nhau tùy theo khối lượng quy phạm. Tổng cộng hiện nay ứng với 50 chủ đề đã có tới 216 tập/cuốn và số lượng này sẽ còn tăng lên.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 16/2010/QĐ-UBND NGÀY 05/05/2010 CỦA UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI quy định về miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng và hỗ trợ tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng khi được Nhà nước giao đất tái định cư để giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Hà Nội

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật đất đai năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
Căn cứ Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở; Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 3/2/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 cải thiện nhà ở; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996;
Căn cứ Công văn số 87/HĐND ngày 27/4/2010 của Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về việc tiếp tục một số chính sách hỗ trợ người có công trên địa bàn Thành phố Hà Nội;
Xét đề nghị của Liên ngành: Cục Thuế, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội tại Tờ trình số 3929/LN-TT ngày 28/8/2009 về việc miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng và Báo cáo thẩm định số 1804/STP-VBPQ ngày 29/10/2009 của Sở Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Quy định về thẩm quyền quyết định miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng

1. Giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã quyết định miễn, giảm tiền sử dụng đất cho đối tượng là người có công với cách mạng khi được giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định đối với các thửa đất thuộc địa bàn quản lý.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 16/2010/QĐ-UBND NGÀY 05 THÁNG 05 NĂM 2010 CỦA UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI QUY ĐỊNH VỀ MIỄN GIẢM TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ HỖ TRỢ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG KHI ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT TÁI ĐỊNH CƯ ĐỂ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật đất đai năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
Căn cứ Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở; Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 3/2/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 cải thiện nhà ở; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996;
Căn cứ Công văn số 87/HĐND ngày 27/4/2010 của Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về việc tiếp tục một số chính sách hỗ trợ người có công trên địa bàn Thành phố Hà Nội;
Xét đề nghị của Liên ngành: Cục Thuế, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội tại Tờ trình số 3929/LN-TT ngày 28/8/2009 về việc miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng và Báo cáo thẩm định số 1804/STP-VBPQ ngày 29/10/2009 của Sở Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Quy định về thẩm quyền quyết định miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng

1. Giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã quyết định miễn, giảm tiền sử dụng đất cho đối tượng là người có công với cách mạng khi được giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định đối với các thửa đất thuộc địa bàn quản lý.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 47/2010/NĐ-CP NGÀY 06 THÁNG 05 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH VỀ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2007;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008 (sau đây gọi chung là Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính);
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động.

2. Pháp luật lao động được quy định tại Nghị định này bao gồm những quy định trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Bộ luật Lao động.

3. Nghị định này không áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động thuộc các lĩnh vực dạy nghề, học nghề; đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bảo hiểm xã hội.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật lao động quy định tại Nghị định này.

Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính pháp luật lao động trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng bị xử phạt hành chính theo quy định của Nghị định này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 613/QĐ-TTg NGÀY 06 THÁNG 05 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TRỢ CẤP HÀNG THÁNG CHO NHỮNG NGƯỜI CÓ TỪ ĐỦ 15 NĂM ĐẾN DƯỚI 20 NĂM CÔNG TÁC THỰC TẾ ĐÃ HẾT THỜI HẠN HƯỞNG TRỢ CẤP MẤT SỨC LAO ĐỘNG

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Quyết định này quy định trợ cấp hàng tháng, chế độ bảo hiểm y tế và trợ cấp mai táng phí đối với người hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng đã hết hạn hưởng trợ cấp, không thuộc diện được tiếp tục hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định tại Quyết định số 60/HĐBT ngày 01 tháng 3 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Quyết định số 812/TTg ngày 12 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ mà có thời gian công tác thực tế từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm.

Điều 2. Điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng

Đối tượng quy định tại Điều 1 Quyết định này khi hết tuổi lao động (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) thì được hưởng trợ cấp hàng tháng.

Những người thuộc diện trên mà đã hết tuổi lao động trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành thì được hưởng trợ cấp kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2010.

Điều 3. Mức trợ cấp hàng tháng

1. Mức trợ cấp hàng tháng bằng mức trợ cấp đang hưởng của đối tượng quy định tại Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ và được điều chỉnh theo quy định của Chính phủ.

2. Người hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định này được hưởng bảo hiểm y tế; khi chết, người lo mai táng được hưởng tiền mai táng phí theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội hiện hành.

Continue reading

VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ

TUẤN HOÀNG

Tình trạng vi phạm pháp luật lao động tại các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến. Phân tích hơn 882 vụ tranh chấp lao động tập thể xảy ra trên địa bàn TPHCM từ 1995 đến nay đều thấy có yếu tố vi phạm pháp luật lao động của người sử dụng lao động gây thiệt hại quyền lợi người lao động. Việc thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp cũng cho thấy các quy định pháp luật lao động không được các doanh nghiệp tự giác tuân thủ. Vậy đâu là nguyên nhân?

Tuân thủ pháp luật: chi phí lớn và chưa hợp lý

Tiết giảm chi phí, nâng cao lợi nhuận là yếu tố sống còn hàng đầu của doanh nghiệp. Do đó, để xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, nhà làm luật cần lưu tâm nội dung này. Khi doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều khoản chi phí cho việc thực hiện các yêu cầu pháp luật đặt ra, mà những yêu cầu này vốn không hợp lý và chưa gắn liền với lợi ích thiết thân của doanh nghiệp, người lao động thì khuynh hướng không tuân thủ sẽ trở nên phổ biến.

Một ví dụ điển hình, theo quy định tại điều 183 Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập sổ lao động cho người lao động. Với quy định này, Nhà nước mong muốn sổ lao động sẽ là công cụ hữu hiệu chứng minh quá trình làm việc, đào tạo của người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tuyển dụng đồng thời, qua đó cơ quan quản lý nhà nước cũng đánh giá được một cách chính xác các dữ liệu về lực lượng lao động hiện tại trên địa bàn.

Tuy nhiên, trên thực tế các mục đích trên không thực hiện được do thiếu quy định về các cơ chế hỗ trợ. Vì sổ lao động có thể thay thế bằng sơ yếu lý lịch theo mẫu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, nên để đơn giản hóa thủ tục và tránh các rắc rối với doanh nghiệp cũ, người lao động thường có khuynh hướng sử dụng sơ yếu lý lịch thay cho sổ lao động khi ứng tuyển ở doanh nghiệp mới.

Continue reading

VIỆT NAM 1918 – 1945, GIỚI VÀ HIỆN ĐẠI: SỰ TRỖI DẬY NHỮNG NHẬN THỨC VÀ TRẢI NGHIỆM MỚI

BÙI TRÂN PHƯỢNG

Lời giới thiệu của Thời Đại Mới: Bài viết mà Thời Đại Mới hân hạnh giới thiệu dưới đây là bản dịch bài trình bày luận văn tiến sĩ sử học của bà Bùi Trân Phượng trước hội đồng giám khảo trường Đại Học Lyon II (Pháp) năm 2008. Nhan đề của luận văn là: "Viet Nam 1918-1945, genre et modernité. Emergence de nouvelles perceptions et expérimentations" ("Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại. Sự trỗi dậy của những nhận thức mới và kinh nghiệm mới").

Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng và tiên phong về lịch sử giới tính và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc hiện đại hóa xã hội, gắn liền với các phong trào ái quốc, chống thực dân, tranh đấu cho độc lập của đất nước trong nửa đầu thế kỳ 20. Tầm quan trọng của luận văn trước tiên biểu lộ qua phương pháp nhìn vấn đề, cách phân tích vấn đề, cách lập thuyết, và tài liệu để triển khai luận thuyết. Tầm tiên phong của luận văn thể hiện qua những khám phá độc đáo và nhất là qua những đề nghị mở ra nhiều hướng mới lý thú cho những nghiên cứu tương lai.

Bài trình bày dưới đây giúp độc giả thấy được tầm quan trọng và tiên phong đó của một luận văn đã được hội đồng giám khảo hết lời khen ngợi. Thời Đại Mới hi vọng sẽ có cơ hội lần lượt giới thiệu những phần chính trong luận văn này.

Tác giả Bùi Trân Phượng hiện là hiệu trưởng trường Đại Học Hoa Sen, Thành Phố Hồ Chí Minh.

1.  Tại sao tôi chọn đề tài nầy?

Trước hết để bắt đầu lấp một chỗ trống. Nếu chỉ nhìn thư tịch Việt Nam mà công chúng trong nước được tiếp cận, dẫu có sự phong phú biểu kiến vào lúc nào đó, lịch sử hiện đại vẫn là phần nghèo nàn về phương diện tri thức lịch sử cụ thể. Nó cho biết rất ít về những con người (về người nữ còn hiếm hoi hơn) trong xã hội, trong không gian và thời gian. Trong nghiên cứu quốc tế về Việt Nam, cho đến rất gần đây, phụ nữ cũng không phải là chủ đề được quan tâm.[1] Một hướng mới đầy triển vọng từng được mở ra với những công trình nghiên cứu lịch sử xã hội và/hoặc xã hội học lịch sử lần đầu cho phép hiển thị những người thấp cổ bé họng, những nạn nhân của mọi hình thức đàn áp khác nhau, cho họ có quyền lên tiếng; nhưng những nghiên cứu nầy cũng chưa thật sự tính đến phụ nữ với tư cách là người nữ. Cùng với khoảng trống về lịch sử phụ nữ nói chung, một tấm màn lãng quên hay thờ ơ, lạnh nhạt cũng đồng thời che phủ đời sống trí thức[2] của xã hội Việt và đơn giản là cuộc sống đời thường,[3] nơi các yêu sách chánh trị không phát biểu trực tiếp, lộ liễu.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4292/BCT-TTTN NGÀY 04 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ ĐÍNH CHÍNH THÔNG TƯ SỐ 11/2010/TT-BCT VỀ QUI CHẾ ĐẠI LÝ KINH DOANH DẦU KHÍ MỎ HÓA LỎNG DO BỘ CÔNG THƯƠNG BAN HÀNH

Kính gửi:

– Sở Công thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Thương nhân kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng.

Thông tư số 11/2010/TT-BCT ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Bộ Công thương ban hành Quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, tại khoản 1 Điều 4 Quy chế này, quy định: “Bên giao đại lý lựa chọn ký hợp đồng đại lý với tối đa 03 (ba) thương nhân kinh doanh LPG đáp ứng đủ điều kiện quy định làm tổng đại lý, đại lý”.

Nay được sửa lại như sau: “Bên giao đại lý lựa chọn ký hợp đồng đại lý với các thương nhân kinh doanh LPG đáp ứng đủ điều kiện quy định làm tổng đại lý, đại lý”.

Đề nghị Sở Công thương và thương nhân kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, thay thế cụm từ trên khi thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 4 Quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng.

Văn bản này là bộ phận không thể tách rời Quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, ban hành kèm theo Thông tư số 11/2010/TT-BCT ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Bộ Công thương./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Cẩm Tú

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT DÂN SỰ: NHỜ NGƯỜI LẠ GIÁM HỘ CHO CON NHỎ – PHƯỜNG RỐI?!

VĂN ĐOÀN

Có sự xung đột giữa Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình về việc cử người giám hộ cho người chưa thành niên?

“Chiếu theo Luật Hôn nhân và Gia đình, tôi muốn đề nghị ai làm giám hộ cho con mình thì tôi sẽ nhờ người đó. Cớ sao phường không chịu giải quyết?” – bà B. đặt câu hỏi.

Lạ nên phường không chứng

Đầu tháng 4, bà B. đã mang đơn đến phường X. (quận 3, TP.HCM) nhờ cử người giám hộ cho đứa con khoảng bảy tuổi. Bà cho biết muốn giao lại nhiều tài sản cho con nhưng không muốn cho chồng giám hộ (vì nhiều lý do tế nhị). Do vậy, bà đề nghị phường chấp nhận để một người quen của bà giám hộ cho đứa trẻ này.

Sau khi xem xét, phường thấy yêu cầu của bà B. chưa hợp lý nên trả lại hồ sơ. Phường lý giải, theo quy định của Bộ luật Dân sự, cha mẹ là người giám hộ đương nhiên cho con chưa thành niên. Nếu vì lý do nào đó cha mẹ không giám hộ được thì anh chị em ruột đã thành niên và đủ điều kiện là giám hộ đương nhiên cho em. Nếu không thì là ông bà nội, ngoại. Không nữa thì tới lượt cô dì, chú bác ruột. Ở đây, các điều kiện kia đều đáp ứng khá đủ. Do vậy, người lạ xuất hiện là không được!

Ngay sau đó, bà B. phản ứng vì cho rằng yêu cầu của mình không có gì sai luật và làm đơn khiếu nại. Theo bà, Luật Hôn nhân và Gia đình quy định cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì cha mẹ có thể cử người khác giám hộ cho con… Như vậy, luật trên không cấm cha mẹ ruột không được quyền nhờ người lạ làm giám hộ cho con nên bà có quyền nhờ người khác làm giám hộ.

Continue reading