NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TS. BÙI HỮU ĐẠO – Vụ Khoa học – Bộ Thương mại

I. Giới thiệu chung

Việc thực hiện các hiệp định/công ước quốc tế về môi trường cũng như áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong bối cảnh tự do hoá thương mại đã góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường giữa các nước, khuyến khích sản xuất và trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hoá thương mại, khi các rào cản thương mại được loại bỏ, các tiêu chuẩn và quy định về môi trường, trong nhiều trường hợp, đã trở thành "hàng rào xanh" trong buôn bán quốc tế và ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển. Trong điều kiện như vậy, việc đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong buôn bán quốc tế hiện nay đang là thách thức to lớn đối với các nước kém phát triển, nơi đang thiếu nhiều điều kiện để thực hiện và áp dụng các hiệp định/công ước và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.

Thực tế những năm qua, cùng với việc ra đời của các công nghệ kỹ thuật mới thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, môi trường ngày càng suy thoái, tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy giảm và khoảng cách giàu nghèo giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên sâu sắc.

Chính vì vậy, trước nhu cầu tiếp tục cần có môi trường kinh tế quốc tế thuận lợi và năng động hỗ trợ hợp tác quốc tế, thực hiện các hành động cụ thể đã cam kết, chúng ta cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và BVMT- coi đây như là ba trụ cột của quá trình phát triển bền vững và chúng có sự phụ thuộc tương hỗ, củng cố lẫn nhau. Bản thân môi trường không thể tự bảo vệ chính mình trước những ảnh hưởng tiêu cực hết sức mạnh mẽ của các ngành thương mại không bền vững, việc sản xuất và tiêu thụ quá mức của con người, dân số gia tăng, phát triển công nghệ sản xuất không thân thiện với môi trường.

Xuất khẩu Việt Nam hiện nay đang là trụ cột chính của nền kinh tế. Trong những năm tới, đẩy mạnh xuất khẩu vẫn là định hướng chiến lược quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu hiện nay của ta chủ yếu vẫn dựa vào nhóm hàng có nguồn gốc thiên nhiên, giá trị gia tăng thấp, đòi hỏi của các nước nhập khẩu ngày càng cao về các tiêu chuẩn và quy định môi trường. Trong điều kiện như vậy, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là cần có chính sách thương mại và môi trường như thế nào để khai thác triệt để các lợi thế của tự do hoá thương mại, góp phần vượt qua các rào cản môi trường để mở đường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Để làm được điều đó cần thiết phải nghiên cứu những tác động của hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam, xác định những hạn chế và khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của các doanh nghiệp trong nước để đẩy mạnh xuất khẩu, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam nhằm tăng trưởng xuất khẩu và bảo vệ môi trường.

Continue reading

các thoả thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong ASEAN, APEC VÀ WTO

VĂN PHÒNG ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ

A. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Mục tiêu

Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 đã đưa ASEAN vượt ra khỏi khuôn khổ của một Thoả thuận Ưu đãi Thương mại thành một hình thức hội nhập sâu hơn. Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) yêu cầu các Quốc gia Thành viên phải loại bỏ các hạn chế định lượng đối với những sản phẩm quy định trong Chương trình CEPT ngay sau khi cắt giảm thuế quan, và tập trung loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan khác trong giai đoạn 5 năm sau khi các sản phẩm này được cắt giảm thuế quan. Theo Hiệp định ASEAN – CEPT, các Rào cản Phi Thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá. Lộ trình Hội nhập của ASEAN quy định chi tiết rằng các Rào cản Phi Thuế quan cần phải được loại bỏ vào năm 2010 đối với ASEAN – 6 và năm 2015/2018 đối với các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam).

Chương trình và các cam kết

ASEAN phân loại các biện pháp phi thuế quan thành: (i) Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT); (ii) Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS); (iii) các biện pháp an ninh và môi trường; (iv) các quy trình thủ tục cấp phép nhập khẩu và/hoặc các biện pháp hành chính. Qui trình loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan về cơ bản đã được thống nhất, bao gồm việc (a) xác minh thông tin về các Rào cản Phi Thuế quan, (b) sắp xếp thứ tự ưu tiên các sản phẩm và các Rào cản Phi Thuế quan, (c) thiết lập một chương trình công tác, và (d) nhận nhiệm vụ từ các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN giao thực thi chương trình công tác.

Một chương trình công tác đã được thiết lập chủ yếu bao gồm việc xác minh và thông báo chéo về các Rào cản Phi Thuế quan, thiết lập cơ sở dữ liệu, và rà soát các định nghĩa hoạt động về các Rào cản Phi Thuế quan được thông qua bởi Hệ thống Mã hoá về các Biện pháp Kiểm soát Thương mại của UNCTAD. Mô hình của chương trình này dựa trên các tiêu chí đã được thông qua tại Cuộc họp lần thứ 19 của Hội đồng AFTA năm 2005, cụ thể như sau:

Continue reading

CÁC THOẢ THUẬN LOẠI BỎ CÁC RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN TRONG ASEAN, APEC VÀ WTO

VĂN PHÒNG ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ

A. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Mục tiêu

Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 đã đưa ASEAN vượt ra khỏi khuôn khổ của một Thoả thuận Ưu đãi Thương mại thành một hình thức hội nhập sâu hơn. Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) yêu cầu các Quốc gia Thành viên phải loại bỏ các hạn chế định lượng đối với những sản phẩm quy định trong Chương trình CEPT ngay sau khi cắt giảm thuế quan, và tập trung loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan khác trong giai đoạn 5 năm sau khi các sản phẩm này được cắt giảm thuế quan. Theo Hiệp định ASEAN – CEPT, các Rào cản Phi Thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá. Lộ trình Hội nhập của ASEAN quy định chi tiết rằng các Rào cản Phi Thuế quan cần phải được loại bỏ vào năm 2010 đối với ASEAN – 6 và năm 2015/2018 đối với các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam).

Chương trình và các cam kết

ASEAN phân loại các biện pháp phi thuế quan thành: (i) Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT); (ii) Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS); (iii) các biện pháp an ninh và môi trường; (iv) các quy trình thủ tục cấp phép nhập khẩu và/hoặc các biện pháp hành chính. Qui trình loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan về cơ bản đã được thống nhất, bao gồm việc (a) xác minh thông tin về các Rào cản Phi Thuế quan, (b) sắp xếp thứ tự ưu tiên các sản phẩm và các Rào cản Phi Thuế quan, (c) thiết lập một chương trình công tác, và (d) nhận nhiệm vụ từ các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN giao thực thi chương trình công tác.

Một chương trình công tác đã được thiết lập chủ yếu bao gồm việc xác minh và thông báo chéo về các Rào cản Phi Thuế quan, thiết lập cơ sở dữ liệu, và rà soát các định nghĩa hoạt động về các Rào cản Phi Thuế quan được thông qua bởi Hệ thống Mã hoá về các Biện pháp Kiểm soát Thương mại của UNCTAD. Mô hình của chương trình này dựa trên các tiêu chí đã được thông qua tại Cuộc họp lần thứ 19 của Hội đồng AFTA năm 2005, cụ thể như sau:

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ: BÁN NHÀ VƯỢT ỦY QUYỀN

PHAN THƯƠNG

Người mua nhà hợp pháp phải ấm ức trả lại nhà vì giao dịch vô hiệu. Cầm được giấy ủy quyền, giấy tờ nhà, ông giám đốc đã bán căn nhà trên lấy 500 triệu đồng.

Đọc báo, ông D. biết ông C., giám đốc một công ty tư vấn ở quận Gò Vấp (TP.HCM), sẽ giúp ông vay được vốn của ngân hàng với mức phí thấp.

Nhờ vay vốn nhưng bị bán nhà

Giữa năm 2009, vợ chồng ông D. đã đến công ty của ông C. để nhờ vả. Ông giám đốc này trực tiếp tư vấn: “Muốn vay ngân hàng thì phải làm hợp đồng ủy quyền cho tôi được toàn quyền sử dụng, mua bán căn nhà mà ông đang ở. Thời hạn ủy quyền là 20 năm”. Cảm nhận vị giám đốc này cũng đáng tin tưởng nên ông D. gật đầu. Sau đó, vợ chồng ông D. giao toàn bộ bản chính giấy tờ nhà cho vị giám đốc để vay vốn giúp mình.

Cầm được giấy ủy quyền, giấy tờ nhà, ông giám đốc đã bán căn nhà trên lấy 500 triệu đồng. Đến tháng 7-2009, khi cán bộ phường báo căn nhà đã bị bán thì ông bà D. mới tá hỏa. Hai ông bà vội vàng khởi kiện ông giám đốc, yêu cầu tòa hủy hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng mua bán nhà.

Ủy quyền vô hiệu

Xử sơ thẩm mới đây, TAND quận Gò Vấp nhận định trước khi ký hợp đồng ủy quyền, giữa nguyên đơn và bị đơn không quen biết hay giao dịch gì. Khi gặp, ý chí của nguyên đơn là ký ủy quyền chỉ nhằm nhờ vay vốn chứ không có ý gì khác. Nhưng sau đó, bị đơn lại bán nhà và không giao tiền cho bên ủy quyền. Như vậy bên được ủy quyền đã vi phạm quy định ủy quyền. Do vậy, hợp đồng ủy quyền vô hiệu.

“Còn phía người mua nhà, dù rằng việc mua bán là hợp pháp. Nhưng theo quy định đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, giao dịch giữa nguyên bị đơn đã vô hiệu thì giao dịch của bị đơn và người mua nhà cũng vô hiệu…” – tòa nhận định tiếp.

Continue reading