GÓP Ý VỀ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ: BỎ QUA CÁI GỐC, QUAN TÂM CÁI NGỌN

(Bài được tác giả viết để góp ý cho Dự thảo sửa đổi, bổ sung BLDS năm 1995. Tuy nhiên, một số ý kiến có thể còn giá trị tham khảo cho việc sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2005)

NGUYÊN LÂM

Tại các thành phố lớn ở nước ta, mỗi buổi sáng có hàng chục vạn, thậm chí hàng triệu hợp đồng được giao kết: ăn sáng, mua đồ, mua thực phẩm, đi xe buýt… Thế nhưng, phần lớn người giao kết hợp đồng đều không đọc Bộ luật Dân sự cũng như Luật Thương mại, hay một văn bản pháp luật liên quan nào đó… Ví dụ này cho thấy, việc dân sự vẫn diễn ra rất nhiều mà không cần đến luật, và một Bộ luật dù đồ sộ đến mấy cũng không thể ôm hết được. Bởi lẽ, trong lĩnh vực luật tư, cuộc sống vô cùng phong phú, pháp luật chỉ là cái hỗ trợ, cái bổ sung. Vì vậy, không cần bận tâm với câu hỏi: Bộ luật Dân sự đã điều chỉnh hết các quan hệ dân sự chưa; mà nên đặt vấn đề: điều chỉnh như thế nào?

Vậy thì pháp luật dân sự ở ta đang điều chỉnh các quan hệ dân sự như thế nào? Để trả lời, có thể lấy lĩnh vực hợp đồng làm ví dụ. Có lẽ ai trong giới luật cũng biết, bản chất của giao dịch dân sự là quyền tự định đoạt của các chủ thể khi giao kết hợp đồng, dù đó là bằng miệng hay văn bản, quyền tự do hợp đồng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay lại cho thấy, các quy định trong Bộ luật Dân sự hầu như chưa thể hiện được điều này, nhìn chung là còn gò bó, cản trở việc thực hiện quyền tự do khế ước ở nước ta.

Chẳng hạn, điều kiện vô hiệu của hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự hiện hành là quá rộng (như trong điều 131, 139), là cơ hội “tốt” để tòa án có thể ra quyết định tuyên bố vô hiệu rất nhiều hợp đồng, mặc dù những vi phạm đối với hợp đồng là hoàn toàn không đáng kể, do đó đã tạo cơ hội cho các cơ quan công quyền can thiệp một cách quá mức cần thiết vào việc hình thành, tồn tại của các quan hệ hợp đồng. 

Không những thế, điều kiện để hợp đồng được coi là đã được hình thành được quy định quá chặt chẽ, gây khó khăn cho việc hình thành các quan hệ hợp đồng, không tạo điều kiện cho các giao dịch dân sự phát triển (điều 401). Việc công chứng, chứng thực như những hình thức can thiệp của các cơ quan công quyền vào quá trình ký kết hợp đồng là quá lớn, ảnh hưởng xấu đến sự hình thành các quan hệ hợp đồng (điều 400). Theo các chuyên gia, việc công chứng, chứng thực, đăng ký chỉ nên coi là điều kiện để công khai hoá quyền, nghĩa vụ của các bên hoặc được lấy làm thời điểm chuyển dịch quyền mà không nên lấy làm điều kiện để hợp đồng có hiệu lực.

Continue reading

GIỚI THIỆU LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

BỘ Y TẾ

VỤ PHÁP CHẾ

Ngày 23 tháng 11 năm 2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 đã chính thức thông qua Luật khám bệnh, chữa bệnh và ngày 04 tháng 12 năm 2009, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Luật này số 17/2009/L-CTN . Đây là đạo luật đầu tiên về khám bệnh, chữa bệnh – một vấn đề then chốt trong hoạt động y tế.

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH LUẬT

1. Thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh:

Đánh giá đúng đắn vai trò quan trọng của sức khoẻ con người trong quá trình đổi mới, đưa đất nước tiến lên công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát để phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi phải thực hiện nhất quán một trong những quan điểm cơ bản là “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”

Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán mục tiêu từng bước nâng cao chất lượng công tác khám bệnh, chữa bệnh nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân và quan điểm này cần phải thể chế hóa bằng pháp luật, trong đó có Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1213 /BTP-BTTP NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP về chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Luật công chứng năm 2006 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đã phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực. Để triển khai chủ trương này của Luật công chứng, Nghị định số 79 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, tại điểm 8 Thông tư này đã hướng dẫn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến nhà, đất sang tổ chức hành nghề công chứng ở những địa bàn cấp huyện mà các tổ chức hành nghề công chứng đảm đương được hoạt động. Tiếp đó, ngày 19/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-CP về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trong đó tại điểm b, khoản 4, Điều 26 Nghị định này có quy định giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm: “ Thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương để đáp ứng yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; xem xét, quyết định chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch mà Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã đang thực hiện sang tổ chức hành nghề công chứng ở địa bàn cấp huyện mà tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng được yêu cầu công chứng.”

Cũng trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 978/BTP-HCTP ngày 2/4/2009 gửi các Sở Tư pháp; Công văn số 1939/BTP-BTTP ngày 18/6/2009 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Công văn số 3745/BTP-BTTP ngày 26/10/2009 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn đôn đốc chuyển giao việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1213 /BTP-BTTP NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ CHUYỂN GIAO THẨM QUYỀN CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH SANG TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Luật công chứng năm 2006 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đã phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực. Để triển khai chủ trương này của Luật công chứng, Nghị định số 79 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, tại điểm 8 Thông tư này đã hướng dẫn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến nhà, đất sang tổ chức hành nghề công chứng ở những địa bàn cấp huyện mà các tổ chức hành nghề công chứng đảm đương được hoạt động. Tiếp đó, ngày 19/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-CP về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trong đó tại điểm b, khoản 4, Điều 26 Nghị định này có quy định giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm: “ Thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương để đáp ứng yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; xem xét, quyết định chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch mà Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã đang thực hiện sang tổ chức hành nghề công chứng ở địa bàn cấp huyện mà tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng được yêu cầu công chứng.”

Cũng trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 978/BTP-HCTP ngày 2/4/2009 gửi các Sở Tư pháp; Công văn số 1939/BTP-BTTP ngày 18/6/2009 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Công văn số 3745/BTP-BTTP ngày 26/10/2009 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn đôn đốc chuyển giao việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên.

Continue reading

TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN: CỔ ĐÔNG KIỆN ĐÒI HƠN 7,7 TỶ ĐỒNG

VĂN NGUYÊN

Nguyên đơn còn yêu cầu hủy các văn bản, giấy tờ mà chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) ký sai thẩm quyền.

TAND TP.HCM đang giải quyết một tranh chấp khá hy hữu trong nội bộ Công ty Cổ phần Công nghiệp hóa chất và vi sinh (gọi tắt là Bicico). Một nhóm cổ đông đã yêu cầu tòa buộc chủ tịch HĐQT (kiêm tổng giám đốc) của công ty phải trả lại trên 7,7 tỉ đồng chi sai nguyên tắc và hủy các văn bản, giấy tờ đã ban hành không đúng.

 Sai nhưng không nhận

Theo đơn kiện, từ năm 2004 đến nay, bị đơn đã lợi dụng chức vụ, cố ý làm trái các quy định, điều lệ công ty…, tự ý ra các quyết định đầu tư mua sắm tài sản không thông qua HĐQT… gây thiệt hại cho công ty. Mặc dù đã được góp ý nhiều lần nhưng bị đơn không sửa chữa. Sau đó, các cổ đông đã yêu cầu thanh tra, kiểm tra. Khi có kết luận khẳng định bị đơn sai phạm, các cổ đông đã đề nghị hòa giải nhưng không thành. Mặt khác, do bị đơn không có thiện chí nhìn nhận sai phạm, không chấp nhận yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất thường… nên buộc phía nguyên đơn phải khởi kiện.

Theo đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải hủy quy chế nội bộ về quản trị công ty, quy chế quản lý tài chính, quy chế tiền lương (đều được ban hành năm 2007)… vì lạm dụng quyền, không được ký khóa từng trang, không đảm bảo tính khách quan; buộc hủy hơn 10 quyết định khác do bị đơn ban hành cùng nghị quyết của HĐQT năm 2009… Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại hơn 7,7 tỉ đồng đã chi sai nguyên tắc cho công ty để HĐQT và các cổ đông quyết định.

Ngoài ra, nguyên đơn cũng yêu cầu bị đơn không ngăn cản cổ đông thực hiện quyền giám sát kiểm tra hoạt động của công ty. Bởi lẽ nguyên đơn có chứng cứ cho thấy bị đơn đã có nhiều sai phạm, khi được yêu cầu tạo điều kiện cho việc kiểm tra thì bị đơn không đáp ứng do sợ bị phát hiện.

Continue reading